1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 03.11.2005
CHU VĂN SƠN -CƠN MƯA MÙA HẠ-
VỚI ''BA ĐỈNH CAO THƠ MỚI''
 
( Đường đi của một học sinh giỏi văn )

Thế giới văn học và giáo dục đã biết đến những cái tên : Nguyễn Hải Hà , Đặng Văn Đào , Lương Duy Thứ , Trần Đình Sử , Phùng Văn Tửu , Lương Duy Trưng , Hoàng Ngọc Hiến , Lê Ngọc Trà , Phan Nhật Chiêu , Nguyễn Khắc Phi... Họ là những người viết sách giáo khoa thuộc trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội và “Hội nguyên cứu và giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh”. Bên cạnh đó, người ta cũng bước đầu làm quen với một cái tên đang phụ trách phần "Thơ mới" của sách giáo khoa văn học lớp 11, tập 1: Chu Văn Sơn.

Sách giáo khoa coi như là "kim chỉ nam" của thầy cô giáo và học sinh. Sách phải được viết theo một tư tưởng thẩm mỹ nhất định mang tính giáo dục và được thông qua từ phía thầy cô giáo đến cấp nhà nước. Chọn bài là khâu quan trọng. Viết bài là một công trình. Giảng giải là một công sức. Học sinh tiếp thu được, làm bài tốt mới gọi là thành công. Cho nên, viết bài từ cô giáo tới học sinh dễ dạy, dễ học là một công việc quan trọng đòi hỏi trình độ tư duy viết phải cao. Năng lực này khó mà đồng đều giữa mọi người. Bởi, viết lại những gì mà người ta đã biết rồi là không nên. Viết mới toanh, người đọc ngỡ ngàng... Cho nên, cách tốt nhất là viết trên cái sườn chính  và mang tư duy của mình vào từng trang sách với một trách nhiệm và lòng say mê.

Tôi dành "Một trách nhiệm và lòng say mê" đến với Chu Văn Sơn và những công trình của anh với tư cách là một độc giả bình dân.

Thật ra, Chu Văn Sơn đã có một bề dày thành tích đáng nễ : Anh là học sinh trường chuyên Lam Sơn đã đạt giải nhất học sinh giỏi văn toàn quốc năm 1979. Hiện nay, anh đang công tác giảng dạy tại trường Đại học sư phạm Hà Nội. Anh đã từng phụ trách chương trình luyện thi học sinh 12 trên Tivi. Tiến sĩ Chu Văn Sơn còn là giảng viên thỉnh giảng của các trường chuyên , đại học ... khác từ Bắc tới Nam. Tuy nhiên, anh không chỉ đơn thuần là giảng bài mà còn tìm cho mình một hướng đi riêng trên văn đàn, trong công tác giáo dục. Những công trình nghiên cứu của anh đang ở mức độ "khiêm tốn" về số lượng nhưng thật sự đã có chiều sâu về chất lượng. Những trang sách anh viết về những tác giả, tác phẩm đều có sự cân nhắc kỹ lưỡng để không dẫm lên bước cũ và ng̣òi viết anh dành cho họ không ngoài một sự trân trọng và yêu mến.

Công trình viết chung của anh bao gồm : Nguyễn Hồng "Con người và sự nghiệp" (1988), Hoài Thanh và "Thi nhân Việt Nam" (1993), Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ "Tình yêu và sự nghiệp" (1996), Tinh hoa "Thơ mới" thẩm bình và suy nghẫm'' ( 1998 ), Giảng văn văn học hiện đại (1999), Nguyễn Duy ''Thi sĩ thảo dân'' (2003), Thanh Thảo ''Nghĩa khí và cách tân” (2004) ...

Anh là tác giả cuốn "Ba đỉnh cao thơ mới" với tư cách là người phân tích, bình giảng văn học và người viết sách giáo khoa trong một hướng đi mới mẻ.

Có những lời khen làm cho người ta được tiếp sức hoặc làm cho người ta trở nên kiêu căng hay khen chỉ tính cách "lấy lòng". Có những lời chê "thuốc đắng dã tật" để người ta phấn đấu hơn hoặc làm người ta chán nản. Với Chu Văn Sơn, anh không đặt nặng vấn đề này nhưng tôi chọn một nửa của sự chê khen để anh "như được tiếp sức" để anh "phấn đấu" hơn. Con dao bén có hai lưỡi, lời chê khen cũng tùy người. Thôi thì... vẻ đẹp phụ nữ hãy để nam giới bình thẩm. Lời khen chê thật lòng hãy để người bình dân ...bình chọn hay hơn. Những khen chê thật ra giống như một cái cân khi non, khi già. Nếu thêm chút địa vị, bằng cấp, thành tích... lời khen như... nặng ký hơn và ngược lại. Loại bỏ góc độ nhìn như thế và đứng trên quan điểm của người bình dân - một độc giả - tôi nhìn về anh theo cách nhìn lý tính.

A. CHU VĂN SƠN VỚI : ''BA ĐỈNH CAO THƠ MỚI'':

Cuốn sách này coi như là bàn đạp trên con đường giảng dạy, nghiên cứu văn học của anh. Trên con đường này, người ta sợ nhất là những bước "nhảy vọt" . Thành ngữ có câu: "Nhảy vọt dể lọt xuống hố". Chu Văn Sơn đã đi từng bước một vững vàng.

Trong lời đầu sách, anh đã viết: "xác định nghệ thuật vốn là những chuyện toàn chủ quan mà có những cá tính lớn lại vẫn thường cực đoan. Có thế́ họ mới đủ kiên định dấn thân "tới bến" trên những nẻo đường riêng...". Hình như... anh cũng tự khẳng định con đường đi "tới bến" của riêng anh. Viết sách, làm văn học... cái gì cũng bắt nguồn từ sự "sáng tạo". Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử đã sống lại trong sách anh cũng như anh đã làm sống lại một thời "Thơ mới" ( 1932-1945). Quan điểm phân tích của anh: "Thế giới nghệ thuật... vừa là con đẻ vừa là hiện thân của tư tưởng và thi pháp văn."

1. Chu Văn Sơn và "Xuân Diệu - Tù nhân của chữ tình'':

Viết về Xuân Diệu, anh chọn chữ "tình" theo quan niệm triết học từ nền tảng "khát vọng". Cái "tử số" và "mẫu số" mà anh nhìn ra được từ Xuân Diệu đã làm... "nhức đầu" bao người. Suy cho kỹ, người ta khó lòng chấp nhận liền cho cái gì "mới mẻ". Có lẽ thế mà có những cuốn sách, những tác giả, những con người tài hoa đã từng bị bỏ quên... Cái "mới" cuả Chu Văn Sơn là chiều sâu của anh khi anh đi tìm và hết lòng chứng minh cái "mới" cho Xuân Diệu. Anh cũng đã mượn lời của Tô Hoài, Tố Hữu, Lưu Trọng Lư, Phan Khôi, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Phan Huỳnh Điểu... để lý giải một chữ "Tình" của Xuân Diệu với những "luyến ái sống - thơ và bất tử" . Sự cắt nghĩa đó cũng lấy sự biến đổi của thời đại Âu hóa là nền tảng. Đồng tình với Xuân Diệu, Chu Văn Sơn viết : " Tình yêu là hạnh phúc kỳ diệu nhất, tình yêu cũng là phương cách duy nhất giúp con người thoát khỏi cô đơn... Tình yêu là sức mạnh vạn năng nhưng tình yêu cũng có những giới hạn không thể nào khắc phục." Tôi nghĩ anh và Xuân Diệu không sai vì khi ta bước vào "mảnh vườn tình ái" cũng tức là lúc sẽ chìm vào "sa mạc cô liêu" : "Em là em mà anh vẫn là anh" !.

Tôi chợt nghĩ, Chu Văn Sơn ca ngợi, nâng niu những mối tình của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu... ca ngợi tình yêu bất tử. Vậy thì tình yêu của anh ở đâu? Cứ cho là anh với tư cách người giảng dạy đang giảng về chủ đề tình yêu của Xuân Diệu thôi hoặc anh chưa là nhà thơ. Sở dĩ Xuân Diệu trở thành nhà thơ có một chỗ đứng khá vững chắc trong thi ca là Xuân Diệu đã dám nói dám viết về tình yêu thiên biến vạn hoá với niềm say mê tự nhiên của con người. Nhà thơ chuyển sang phê bình Trần Mạnh Hảo cũng đã dám nói cả những gì mà người ta còn chưa thể khẳng định hoặc phủ định. Ban giám khảo luôn luôn là những người "kính lão" . Trên phương diện này, Chu Văn Sơn chỉ là "hậu bối". (Nhưng Chu Văn Sơn không cô đơn. Anh có Trần Dần với ''Muà sạch'', có Hoàng cầm với ''99 tình khúc'', có Lê Đạt với ''Bóng chữ'', có Hoàng Hưng với ''Người đi tìm mặt''...). Điều đó cũng không phủ nhận tài năng của anh nhưng anh sẽ nhìn lại mình và những người chung quanh... Bởi lẽ khi viết hay nói Xuân Diệu thì không thể nào chỉ nói đến một tình yêu suông mà còn đụng chạm đến tình người với những ''dại khờ'' của người tốt, kẻ xấu ! Và tôi nhìn thấy giữa anh, Xuân Diệu, Thanh Thảo, Trịnh Công Sơn đã có những biên giới không phân chia. Chỉ cần Chu Văn Sơn dám nói, dám viết về những gì anh thật sự rung động... anh sẽ trở thành một nhà thơ không thua kém gì Xuân Diệu trên lĩnh vực ''tình yêu'', chẳng thấp hơn Thanh Thảo ở cái ''nghiã khí''. Còn với Trịnh Công Sơn ? Chất nhạc và hơi ca cũng như năng khiếu hội họa đã có trong con người Chu Văn Sơn từ lâu.

Cho nên, anh dành phần nghiên cứu về Xuân Diệu khá nhiều công sức. Anh chọn 4 tác phẩm để phân tích trong phần Xuân Diệu gồm: Thơ Duyên, Vội Vàng , Đây Mùa Thu Tới, Nguyệt Cầm. Trong đó có 3 bài thơ mà học sinh lớp 11 đã được học. Ai đã từng đọc qua Hoài Thanh - Hoài Chân, Bùi Đức Thịnh, Lê Tiến Dũng... thì mới đánh giá, mới thấy được phần phân tích của anh có những nét đặc sắc riêng, mới mẻ riêng.

Riêng tôi, tôi "xiểng liểng" với những bài phân tích "Nguyệt Cầm" của anh. Anh đưa ra ý kiến những chuyên gia, sáng tác, phê bình, nghiên cứu giảng dạy cho rằng : "Nguyệt Cầm được sếp đầu bảng" và anh cho "Nguyệt Cầm" là "đỉnh chóp" của "Thơ mới" . Tôi thì bình dân hơn, tôi dám cho bài "Dại khờ" của Xuân Diệu mới là "chóp". Sức cảm nhận văn học của tôi đã bị Nguyệt Cầm của Xuân Diệu cho vào tảng băng! Chỉ có 1 câu duy nhất lọt vào sợi dây rung động của tôi là:

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.

Đọc lên nghe lòng man mác theo tiếng đàn ''Tỳ bà hành'' của Bạch cư Dị dành riêng cho người ca kỹ đáng thương trên sông đó năm nao...

Tôi cho đó cũng là câu duy nhất của bài thơ 7 chữ, 4 khổ "Nguyệt Cầm" là "thật nhất" và "hay nhất" không nhuộm thi pháp sắc màu cường điệu thái quá! Chu Văn Sơn dùng chữ cho Xuân Diệu "vừa tinh tế vừa tinh quái" còn tôi thì dùng "tinh ma" cho anh bởi anh đã làm "xiếc" bài thơ kỹ đến nổi tôi tuy "lạnh lùng" với bài thơ này nhưng không thể... cho qua phần phân tích của anh. ''Hồn ta tự bao giờ cũng đã hoá thành một hòn cô đảo run rẩy, trôi dạt trong âm nhạc vô biên cùng với mảnh hồn bé bỏng tan trôi cuả thi sĩ''. Sự ''tan trôi'' đó, Chu Văn Sơn dành thêm cho một người.

Tác giả thứ hai anh chọn là Nguyễn Bính.

2. Chu văn Sơn với "Nguyễn Bính và kiếp con chim lìa đàn'':

Người ta yêu Nguyễn Bính, phổ nhạc và hát thơ Nguyễn Bính, xem Nguyễn Bính là một "chân quê" giản dị, mộc mạc mang màu sắc ca dao. Chu Văn Sơn cảm nhận thêm ở Nguyễn Bính như hình ảnh "một con chim lìa đàn" với sự cắt nghĩa, dẫn giải hết sức lôi cuốn từ "Nguyễn Bính trong chúng ta" đến "Ra đời trong biến thiên" tới "Cái tôi lỡ dỡ" . Trong phần "Cái tôi lỡ dỡ", anh có tất cả 5 ý nhỏ gồm : Một, "Thiên tài lỡ dỡ" (Tạ Tỵ) khi "thiếu một hiểu biết Tây học nên không thể thành nổi nhà thơ đầu đàn (Phan Ngọc)". Hai, "Cái tôi khát vọng" phần tốt đẹp, cao qúy nhất của tâm hồn đã trút vào văn chương hết rồi (Nguyễn Khải). Ba, nguồn gốc “lỡ dỡ” từ Nguyễn Bính "sinh bất phùng thời", giữa nông thôn và nho sinh từ "Ngựa bạch buông chùng áo trạng nguyên" đến "Cuốc kêu ngoài bãi sậy", "Hoa súng nở đầy ao" ở thôn Đoài, thôn Đặng. Bốn, Nguyễn Bính với cái tôi hụt hẫng vì giấc mộng vinh hoa đổ vỡ ''ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau'' và "mặc cảm bơ vơ" , "mặc cảm lỗi đạo, tệ bạc" của cơn "biến thiên" . Năm, diện mạo “Nguyễn Bính trong tương quan với đương thời chính là kiếp ‘Con chim lìa đàn’” mà Chu Văn Sơn đã triển khai trong phần đầu "Nguyễn Bính trong mỗi chúng ta" .

Tôi nghĩ: Một cuốn sách viết dưới dạng văn học được coi là "hấp dẫn", lôi cuốn người đọc thì phải cần : Kiến thức, tư duy, cảm thụ và truyền đạt ( khả năng viết ) . Ngoài cái nghĩa hành văn đi trơn tru, sách phải buộc người đọc dừng lại để tự hỏi ( động não ) : "Vì sao tác giả viết như vậy ?" , "Điều ấy đúng sai thế nào?". Có những câu nghi vấn cần thời gian mới lý giải nổi ! Tôi đã dừng lại chữ dùng của anh về "Con chim lìa đàn". "Nguyễn Bính là con chim lìa đàn hay lạc đàn ?" "Dẫn dắt đến chữ "lìa" , Chu Văn Sơn có những đoạn viết rất hình tượng, rất ướt át : "Nguyễn Bính là làn mưa xuân rắc mình lên chốn hương thôn, là lá dâu xanh dập dờn bướm vàng cuối bãi. Nguyễn Bính là chiếc lá lìa cành đầu ngõ, là chiếc mo cau rụng vội góc vườn. Nguyễn Bính là sắc nắng chiều man mác trên mỗi thân câu, là ngọn mồng tơi ngập ngừng nơi lưng giậu... Nguyễn Bính là nỗi hờn tủi cùa những con đò. Nguyễn Bính là tiếng thở than của mỗi ấm liếp... là đôi mắt đau đáu trong thẩm sâu lòng̣ người xa xứ..." . Với những câu văn "sống" như thế, ''mềm'' như thế, ''sắc màu'' như thế, tôi nghĩ các thầy cô và các em học sinh có thể làm tư liệu vận dụng trong bài giảng và bài làm của mình ( nhưng chỉ riêng cho Nguyễn Bính mà thôi ! ).

Trở lại hình ảnh "Con chim lìa đàn". Chu Văn Sơn nghiêng về chữ "lìa" theo một sự "tranh luận về ngôn ngữ thơ đầu tiên" mà anh được chứng kiến giữa cô thợ và bác thợ lò. Theo anh, Nguyễn Bính "Chàng thôn dân nghìn đời đất Việt đã ''lỡ bước sang ngang'', đã hóa con chim lìa đàn mà ra thành Nguyễn Bính":

Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ

Biết lạc về đâu lòng hỡi lòng ?

Nguyễn Bính đã dùng cả "lìa" và "lạc". "Lìa" gắn với "lạc" tạo ra một bi kịch tan thương. Nếu nói "lìa" là hình thức thì ''lạc" là nội dung. "Lạc" có thể thế "lìa tổ" thành "lạc tổ" nhưng lìa không thể thế "lìa lòng" . Lìa có 2 tác động: Một do hoàn cảnh, hai do con người bắt buộc phải lựa chọn còn lạc chỉ có một tác động hoàn cảnh mà thôi. Người ta có thể tự "lìa" nhưng không thể tự "lạc" được. Thúy Kiều trong Truyện Kiều là "lìa" . Nguyễn Bính trong cuộc đời cũng "lìa" ( theo Chu Văn Sơn ). Kiều và Bính đã có ca dao đồng tình:

Ai làm cho bướm lìa hoa

Cho con chim nỡ bay qua vườn hồng.

Chữ "lạc" không thể gắn vào câu ca dao này. Nếu "lìa" là cô đơn, là nhói đau thì "lạc" càng khắc khoải, bơ vơ , đau thương hơn trong Chế Lan Viên một thuở nào:

Ôi chao mong nhớ ! Ôi mong nhớ

Một cánh chim thu lạc cuối ngàn .

Con chim lìa đàn đáng thương một, con chim lạc đáng thương mười: ngơ ngác, bơ vơ với một chữ "nhớ" kéo dài hàng thế kỷ ! Kêu hoài, kêu mãi ngàn năm:

Bên rừng ngọn gió rung cây

Chị ơi ! Con nhạn lạc bầy kêu sương .

( Thanh Tịnh )

hoặc :

Người xưa qua ải sương này

Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bên sông.

( Phạm Thiên Thư )

Chim, nhạn, lạc, lìa cũng nói về con người "lạc bầy nhớ bạn , tiếng nghẹn ngào vàng cả hoàng hôn. Có lúc, con người không cần mượn những hình ảnh đó nữa mà nói thẳng:

Ta lạc nhau từ em còn bé nhỏ

Anh thương em câm nín đến bây giờ.

( Phạm Thiên Thư )

Và cũng bây giờ, ta có thể cho Nguyễn Bính chọn lựa thân phận mình "lìa" hay "lạc" ? Chu Văn Sơn cuối cùng đã cho chúng ta một giải đáp : "Lìa đàn cũng như lạc đàn" dành cho Nguyễn Bính qua sự "biến thiên".

Kết lại, về phương diện văn học, lìa khỏi cái ta, cái tôi thật không dễ, rất đau khổ như một bước sang ngang, lỡ khóc cười như con thuyền trôi không bến đợi ! Chu Văn Sơn đã viết : "Nguyễn Bính là con đẻ của cuộc hôn nhân đầy lỡ dỡ giữa nền văn minh đô thị hiện tại với văn minh thôn dã cổ truyền" . Chính buổi giao thừa này đã sinh ra "Ông đồ già" của Vũ Đình Liên thì sao không sinh ra "Lỡ bước sang ngang" của Nguyễn Bính ? Và theo tôi, kết quả của sự "quyết lòng dứt aó" thì "lìa" không làm ta rơi nước mắt nhiều bằng "lạc". Nhưng khi nói đến kết qủa của sự ''tan vỡ'' thì lạc không đau đớn bằng lìa.

Trong phần Nguyễn Bính, Chu Văn Sơn đã chọn phân tích 3 bài thơ Xa Cách, Mưa Xuân, trong đó có "Tương tư " mà các thầy cô giáo và các em học sinh 11 cũng đã làm quen. Phần phân tích bài có sắc cạnh, góc độ nhìn rất "bén" lột tả hết cái "chân quê" của Nguyễn Bính, giúp các em nắm vững cách làm một bài văn theo 3 phần: Mở, gỡ và luận. Phần mở và luận thì phải tương đương về câu. Riêng phần luận phải "chốt" cho được cái nội dung hàm dẫn qua cái đầu đề. ( Hiện nay có những đầu đề phức tạp hơn.). Áp dụng trong thơ, Nguyễn Bính chưa làm được. Tôi xin tạm lấy hai câu :

Gió mưa là bệnh của trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Làm nhập đề. 14 câu tiếp từ "Hai thôn đến liên phụng" là phần gỡ, lý giải cho câu hỏi "Tại sao ?" từ 2 câu đề (mở ). 2 câu cuối của Nguyễn Bính, tôi dám nói thẳng là "luộm thuộm", tối nghĩa. Cái gì mà :

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?

Có lý luận gì đi nữa, tôi nghĩ các thầy cô ngôn ngữ chắc cũng có một vài người ! đồng ý với tôi. Mạo muội với một dụng không ngoài sự yêu thích văn học, tôi đưa 2 câu đầu xuống thành câu kết cho bài : "Tương tư" của Nguyễn Bính:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người.

Với 2 câu kết như vậy thì "chín nhớ mười thương" của Nguyễn Bính kéo cái "chín nắng mười sương" của Xuân Diệu bật thành tiếng "Tương tư" của đầu đề. Cũng như với "Tống biệt hành" của Thâm Tâm Nguyễn Tấn Trinh chỉ cần 4 câu đầu là đủ một bài thơ độc đáo không đối thủ về sự chia ly. Dấu chấm hết của "Tương tư" đọng lại một nỗi tương tư không chỉ riêng một mình chàng Nguyễn Bính ! Giảng văn, bình thơ  "chín người mười ý" thôi thì cứ để cho họ giảng y như cũ và suy ngẫm ...

Trở lại với bài thơ "Mưa xuân" , Chu Văn Sơn phân tích nhẹ nhàng đưa ta về một mùa xuân cạn ngày nhưng đầy e ấp : "Mưa xuân sẽ vẫn cứ rơi xuống lòng ta những chấm lạnh như ngày nào !" Còn Nguyễn Bính, Nguyễn Bính qua Chu Văn Sơn vẫn cứ ấm áp trong chúng ta nỗi niềm "khát khao" như Xuân Diệu. Và cẩn thận thêm rằng "người chị" mà chúng ta cứ cho là chị Trúc trong thơ Nguyễn Bính, đó chỉ là người bạn văn nghệ của anh Phát (anh Nguyễn Bính). Hai người đó đã cưu mang Nguyễn Bính lúc cơ hàn, lúc "khao khát" ...

Trong cái : "khao khát" tột cùng, Chu Văn Sơn đã dành thêm cho một người nữa trong "Ba đỉnh cao thơ mới" của anh là Hàn Mặc Tử.

3. Chu Văn Sơn với "cái khao khát tột cùng của Hàn Mặc Tử" :

Điều thú vị, nếu Đồng Hới của Hàn Mặc Tử ở Thanh Hóa thì Hàn Măc Tử , Hồ Dzếnh ... cùng quê với Chu Văn Sơn. Hàn Mặc Tử khác với anh. Nếu Chu Văn Sơn là cánh chim bạt ngàn ( chưa biết là "lìa" hay "lạc" ?) trên 3 miền đất nước thì Hàn Mặc Tử là cánh chim đã phải ''lìa'' cuộc đời tự nhiên mà chọn Qui Nhơn với khu Quy Hòa để gởi lại cuộc đời chỉ 28 tuổi tràn ngập bất hạnh và tình duyên lắm nổi.. truân chuyên ,vui bên tiếng than xé lòng, bạn với những lời thơ rướm máu ! Chu Văn Sơn nắm vững nỗi niềm thương cảm đó. Và trước khi đi vào phân tích 2 bài thơ của Hàn Mặc Tử, anh đã phải dạo khúc nhạc mở đầu: Tác giả và thời đại để đưa vào mục Hàn Mặc Tử : "Một tiếng thơ bí ẩn, một đời thơ bất hạnh" đến : "Một quan niệm khác lạ , một chí hướng phi thường luôn săn tìm cái lạ .". Chu Văn Sơn xoáy vào nhà thơ này ở chỗ : "Đau thương và sáng tạo" . Tôi thầm nghĩ : Cái tên Hàn Mặc Tử đã gói gọn hết yếu tố cần thiết để tìm hiểu về nhà thơ lìa đời quá trẻ tuổi này. Không hiểu vì sao Hàn Mặc Tử lựa chi ba cái từ lạnh lẽo, đau thương , chết chóc để "sáng tạo" cho mình một cái biệt danh kinh khủng như vậy ? Bởi thế, thơ Hàn Mặc Tử mới nghe qua đã lạnh da gà , nghe rã rời, hết muốn..sống !:.

Mây chết đuối trên dòng sông vắng lặng

Trôi thây về tận cõi vô biên.

Người xưa chỉ biết Hàn Mặc Tử với những dòng̣ thơ điên loạn. Chu Văn Sơn lại theo : "Một hành trình vừa sáng tạo vừa tiếp nối vừa đan xen". Cái đíểm sáng của một cây bút phân tích, bình luận là phải tìm cho ra, phát hiện cho hết cái ý thơ ở ngoài lời, cái hay, cái mới của một tác phẩm, tác giả theo lập trường quan điểm riêng của mình. Trên con đường "đi riêng" , thỉnh thoảng, người viết sách cần ghé "trạm nghỉ" đó là phần tham khảo sách vở rất cần thiết. Bởi thế, nhìn về Hàn Mặc Tử qua con người và lịch sử, qua tác phẩm, Chu Văn Sơn đã viết thêm vào một nội dung cho nhà thơ này. Anh viết: "Cảm xúc thiết tha đau thương đến tuyệt vọng là một nét rất riêng của hồn thơ Hàn Mặc Tử" . Trong những trang giấy viết công phu này, tôi đã thấy có rất nhiều phần "lý luận văn học" của riêng Chu Văn Sơn. Ví dụ như : "Nhìn vào một thế giới hình tượng, nếu chỉ dừng ở hình tượng cái tôi và diện mạo tổng quát của thế giới qua các trạng thái của thi sĩ không thì chưa đủ mà còn cần nhìn sâu vào hệ thống hình ảnh, hình tượng tiêu biểu nào đó nữa mới có thể thấy sự vận động ở bề sâu và tính sinh động của nó."  Tôi nghĩ đó chính là "nội dung, nghệ thuật" được triển khai.

Đó cũng có nghĩa là văn thơ gắn liền với hồn người , phản ánh con người dù núp bóng dưới bất kỳ hình thức nào. Phân tích, bình luận một tác phẩm phải tìm hiểu kỹ cuộc đời của tác giả qua sự chi phối của thời đại.

Với Hàn Mặc Tử, theo Chu Văn Sơn : "Hàn Mặc Tử là tiếng thơ cất lên từ sự hủy diệt để hướng về sự sống" mà thật ra , ta thấy chán chường khi : "Gió trăng có sẵn làm sao ăn !" Anh dẫn dắt người đọc qua từng trang lý luận về "Nhà thơ tôn giáo hay tôn giáo của nhà thơ" để tìm ra cái "tột cùng" chính là "Thơ điên Hàn Mặc Tử". Thiết nghĩ dùng từ "Thơ điên" cho một chàng trai 28 tuổi mắc bệnh phong cùi ,viết lách trong đau đớn như thế quả không nên lắm. Trong nỗi đau đớn đó, tôi cho rằng dẫu Hàn Mặc Tử có tự cho mình điên, ta cũng "né" đi cái từ phủ phàng đó với tư cách một con người.

Tiếng Việt phong phú ,ai cũng tự hào , sao ta không dùng "Tiếng thơ đau thương" thay "Thơ điên" cho nhẹ nhàng cả người nằm xuống và độc giả! Thật ra đìên như chàng trai Hàn kết những giọt đớn đau thành những dòng thơ bất hủ cho đời thì không điên. Trái lại, kẻ không biết, không động lòng khi đọc những dòng thơ rướm máu ấy mới thật là ...điên. Người ta điên trong vườn hoa tình ái thì dễ thương nhưng điên vì chả hiểu gì nửa hồn thương đau thì đúng là điên thật!. Chu Văn Sơn chỉ là người nhắc lại mà thôi,  ít ra, anh cũng đã đứng một bên Hàn Mặc Tử với sự đồng cảm và trân trọng một tài năng trẻ yểu mạng. Người đời biết Hàn Mặc Tử nhưng đọc những trang sách viết về con người ''phế nhân '' này mới hiều Hàn Mặc Tử: ''Thơ máu hồng giãy dụa chốn phù vân.Mới xót thương chàng sống kiếp phế nhân.''

Chu Văn Sơn cũng đã cho chúng ta thấy " những cuộc tình Hàn Mặc Tử đã phải trả bằng máu cho những trang thơ của mình khi viết về họ. Người đồng hương của Hàn Mặc Tử đã vô cùng may mắn. Con đường đi của một học sinh giỏi văn, anh đã đi những bước thành công vững vàng dài theo năm tháng. Anh đã có tình yêu thơ ngây học trò, có màu xanh của lá, màu nắng của hoa và đầy mùa xuân khát vọng. Anh đi trên đường trải bằng thảm đỏ của yêu thương và anh chỉ cần đổ chất xám để "dấn thân" vào con đường giảng dạy , viết sách của anh. Hai tác phẩm anh chọn để phân tích trong phần Hàn Mặc Tử là "Đây thôn Vỹ Dạ" , "Mưa xuân" , thật chi tiết và công phu với : "Cuộc hành hương về Vỹ Dạ" đến "Lòng xuân gởi vào mùa xuân chín" như để kết thúc về một công trình lớn : "Ba đỉnh cao thơ mới" của anh với tâm trạng "tiếc xuân" .

B. CHU VĂN SƠN: SỰ NGHIỆP CÒN DÀI - TƯƠNG LAI RỘNG MỞ:

Những công tŕnh nghiên cứu của anh với "Ba đỉnh cao thơ mới" là tiên phong coi như một công trình có sự chuẩn bị kết sức công phu về tư liệu, về mặt lý luận, về tư duy (khâu loại bỏ và kế thừa ) về mặt tâm lý... Đó là lý do tại sao khi ta đọc "Đây thôn Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử , "Mưa xuân" của Nguyễn Bính , "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu ... qua những ng̣òi bút phân tích , bình luận "tiền bối" như Hoài Thanh , Lê Tiến Dũng ... ta vẫn cảm nhận ra cái phần mới "dấn thân" của Chu Văn Sơn phát sóng và con đường riêng của anh đã có lề. Riêng chỉ "Ba đỉnh cao thơ mới" của Chu Văn Sơn bên cạnh "Thơ mới - Những bước thăng trầm'' của Lê Đình Kỵ hoặc "Phong trào thơ mới của Phan Cự Đệ" ... đã chứng tỏ sức duy tư của anh phong phú, đầy sáng tạo, thu hút trên tinh thần tiếp cận, kế thừa, và phát triển đến mức đã có thể cho ta nghĩ tới một tương lai của anh ...

Ở anh là sự duy tư trong thái tư duy chín mùi khi có sự tiếp sức của cảm xúc. Tư duy ra ngoài cảm xúc là tư duy của cây xanh mọc trên nước đá. Suy nghĩ để nói và tư duy để viết dưới dòng cảm xúc cần phải có sẽ đẩy tốc độ viết đạt chất luợng mỗi ngày một cao. Trên con đường đó có anh. Những trang sách của anh có giá trị như một tư liệu quí giá cho các thầy cô giáo và các em học sinh tìm hiểu và sử dụng. Người sử dụng chỉ một vài giờ nhưng người viết đã phải bỏ công sức không phải chỉ một vài giờ. Tôi nghĩ rằng, độc giả chờ anh với những bài viết công phu hơn, lý luận văn học chặt chẽ hơn, câu văn hình tượng hơn, mới mẻ hơn. Khi anh viết theo dòng cảm xúc, ngòi bút anh như cơn mưa mùa hạ. Khi anh viết theo tư duy, nắng gắt đã làm những ướt át từ cơn mưa hạ kia ...bốc hơi...mà trang viết hay cần dung hòa những cơn mưa với nắng .

Với một cách dự đoán cảm tính: Một ngày nào đó không xa, tôi nghĩ Chu Văn Sơn sẽ là người "đăng quang" trên cả hai con đường ( tuy hai mà một ) giảng dạy và văn chương với tư cách một nhà nghiên cứu văn học. Vương triều ấy sẽ thuộc về anh. Trong đầu các bậc "tiền bối", hình như họ cũng biết chọn ai để mà "kế nghiệp ngai vàng" vô giá này. Sự bình chọn nhiều khi lệch lạc và con người nhiều khi quên đi khả năng tự khẳng định mình. Đường nào cũng phải trả giá đắt đỏ !.

Tất cả còn đợi thời gian và đợi chờ anh với ngày tháng "trúng thưởng" nếu như anh vẫn một lòng "khao khát" với đời và vẫn giữ "một trách nhiệm và lòng say mê" trong nghề nghiệp. Tương lai anh còn dài. Tình yêu anh còn đó, bỏ ngõ... Và cỏ vẫn lên xanh. Con đường đi của một học sinh giỏi văn thoáng chốc đã thành đường đi của một Tiến sĩ giảng dạy , nghiên cứu văn học và viết sách giáo khoa với một với một trách nhiệm và lòng say mê. Đó chính là nắng ấm mùa xuân. Đó chính là tất cả ước ao, hoài bão cuộn thành nỗi "khát khao" của một thuở học trò với cơn mưa mùa hạ trong anh.,.

Tháng 3/10/2005

Thâm Trầm NTH 

 

© Copyright 2005 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com