1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 05.11.2005

nguyễn văn hóa

Về thiên tiểu luận “Đặng thùy Trâm -Bài thơ gởi lại” của Ngọc thiên Hoa

Khi người ta nói yêu là đứng ở thế đối lập với ghét. Nói tình thương là đối lập với hận thù. Nói người yêu nước là đối lập với kẻ xâm lăng. Yêu nước là tình cảm thiêng liêng nằm trong phạm trù dân tộc.

Phạm trù dân tộc là một trạng thái “tĩnh”, từ biểu tượng đến ý thức. Lòng yêu nước chỉ thực sự rung động khi dân tộc trở thành đối tượng vận hành tình cảm yêu nước. Khi đối tượng ấy bị xâm phạm, tình yêu nước cháy bùng lên.

Ca dao, tuc ngữ, văn chương truyền khẩu, âm nhạc, thơ ca… là phương tiện để xác nhận tình cảm này; trong đó thơ ca là phương tiện thuần khiết và giản đơn để căng thẳng sợi âm thanh kỳ diệu của lòng yêu nước. Bởi vậy, hầu như những người Việt yêu nước đến với cách mạng đều làm thơ.

Năm 1920, khi ông Hồ Chí Minh còn là thanh niên đang tạm trú ở một ngõ hẻm của thành phố Paris, một hôm ngồi trong phòng đọc “Đề cương Lênin” đã làm ông cảm động, phấn khởi, vui mừng đến phát khóc lên. Vui sướng đến “phát khóc” trong trường hợp này là một trạng thái tình cảm giống như đọc được một bài thơ quá hay, phản ảnh tâm trạng, mơ ước của lòng mình. Tình cảm ấy lớn hơn, mạnh hơn là một thích thú về sự khai ngộ của tri thức.

Hồ Chí Minh đã vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin về sau này như một trí tuệ lạnh lùng dẫn đạo hành động cứu nước, trãi qua những chặng đường dài; nhưng điểm xuất phát của nó là một động thức tình cảm. “Từ ấy” trong tâm tư của Hồ Chí Minh đâm hoa kết trái tình cảm với Cách mạng Vô sản tháng 10 Nga lớn hơn, sâu sắc hơn, thiết thực hơn cho đất nước, so với hai cuộc Cách mạng Dân chủ tư sản Pháp 1789 và Cách mạng Mỹ 1776 rất nhiều.

 *
*     *

10 năm sau, gần cuối thập niên 30, thế hệ trẻ hơn  không riêng gì Tố Hữu, phần lớn những nhà cách mạng tiền phong chống Pháp cứu nước đều biết làm thơ. Có người làm thơ hay. Họ làm thơ khi ở trong vòng tù tội của quân thù như: Xuân Thủy, Sông Hồng, Hồ tùng Mậu, Trần huy Liệu, Đặng xuân Thiều, Hồng Chương, Hoàng văn Thụ, Lê đức Thọ.. v.v.., thêm vào còn có vô số bài thơ khuyết danh (của những nhà cách mạng ẩn danh) ta thán về nỗi lòng uất ức, thân phận của một dân tộc bị trị hay kích động lòng yêu nước, tinh thần cách mạng. Họ là những nhà thơ bột phát từ hơn thập niên trước Cách mạng mùa Thu 1945.

Thơ và lòng yêu nước tạo nên một phong thái cách mạng lãng mạn phổ biến trong giới thanh thiếu niên Việt Nam thời ấy.

Bởi vậy khi Tố Hữu thúc giục lòng sục sôi lên đường cứu nước:

       Đi! Bạn ơi! Đi! Sống đủ đầy,
       Sống trào sinh lực bốc men say. (Đi – Tố Hữu)

thì hàng hàng lớp lớp thanh niên hiên ngang ra đi trong tinh thần rất lãng mạn:

       Tương lai đó, trước mặt ta biển rộng
       Trên đầu ta, lồng lộng gió trời cao.
                     (Như những con tàu –Tố Hữu)

Cách mạng mùa Thu tháng 9/1945 là ánh bình minh tỏa sáng một “tương lai” trước mặt, cho nên cuộc kháng chiến trường kỳ ròng rã 9 năm tiếp nối của thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam yêu nuớc không hề biết mỏi mệt, không tiếc máu xương.  Và chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 là hào quang vang dội lòng người, lòng yêu nước của thế hệ thanh niên Việt Nam càng được củng cố thêm, bền bỉ, kiên cường. Không may, chiến thắng ấy chưa đủ sức mạnh chính trị nội tại cho sự độc lập toàn vẹn lãnh thổ, hiệp uớc Genève/Geneva ngày 21/7/1954 đã chia đôi đất nước. Từ lòng chảo Điện Biên Phủ nối dài tới Hà Nội trở thành trung tâm của phía cách mạng cứu nước, một nửa từ vĩ tuyến 17 xuôi Nam còn sự bám víu dây dưa của thực dân. Cho nên, bất cứ một chính phủ nào được thiết lập ở phía Nam hẳn phải có sự tính toán, sắp đặt của ngoại nhân, nếu không muốn dùng danh từ cụ thể hơn là chính phủ bù nhìn. Ở phía Bắc, điểm hò hẹn lịch sử của những người hẹn thề đánh tan thực dân, giải phóng dân tộc chưa thể nguôi ngoai, vẫn chưa thấy được “thiên đường sao nhấp nhánh”. Đoàn quân yêu nước ấy giờ đã có thể ngẫng đầu nhìn lên soi ánh mặt trời ở phía Đông, nhưng ngảnh mặt về phía Nam còn rơi tiếng thở dài… của uất hận.

Một đất nước bị ngoại nhân chia cắt thì đó chỉ là một “định phận” tạm thời, nhưng trên phương diện địa lý chính trị, từ đây lòng người cách biệt. Tâm tư của thanh niên, của người dân… dưới chế độ cộng sản miền Bắc từ sau 1954 đều nghĩ rằng một nửa nước bên kia vẫn đang còn trong vòng nô lệ. Cho đến thời kỳ (1965) Mỹ đổ quân ào ạt vào Việt Nam, leo thang chiến tranh, dùng không quân đánh bom miền Bắc, càng xác nhận thêm trong tâm tư của người dân miền Bắc -một nửa ở phía Nam đang bị đế quốc kế thừa xâm lăng và thống trị.  Do đó, thời tính lịch sử trong lúc này, lòng yêu nước vẫn là một kế tục tinh thần cách mạng mùa Thu 1945… ở một mức độ hùng tráng hơn, và sự hy sinh phải lớn hơn vì phải đối diện với một kẻ thù hùng mạnh, ác liệt hơn thực dân Pháp nhiều. Một nửa nước ở miền Bắc biến thành một xã hội chiến đấu, nhà nước là một bộ máy chiến tranh với chủ nghĩa cộng sản dẫn đạo. Thế hệ thanh thiếu niên canh cánh tinh thần học tập, làm việc và phục vụ. Phục vụ Đảng. Và khi Đảng nói thanh niên phải lên đường giải phóng miền Nam cứu nước thì chắc hẳn không có một ai phải cắc cớ tự hỏi lòng tại sao, vì: –đó là nhiệm vụ yêu nước. Nếu có thắc mắc chăng chỉ còn tinh thần sợ chết, sợ đời sống rừng sâu núi cao hiểm nguy và cực khổ. Do đó, những ai mà tự vượt qua tinh thần “sợ” này, thì hẳn nhiên người đó đã là anh hùng. Đi B hay vào Nam là yêu nước và anh hùng!

Từ lời thúc giục “Đi! Bạn ơi! Đi! Sống đủ đầy, Sống trào sinh lực bốc men say..” chuyển biến thành “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng tiến bước, diệt đế quốc Mỹ, đánh tan bè lũ bán nước..”. Đó chính là tâm tư của cô bác sĩ Đặng thùy Trâm và cũng của thanh thiếu miền Bắc cùng thế hệ lên đường vào Nam chiến đấu....

     ...Nói rốt ráo, chiến thắng của miền Bắc tháng 4/1975 vẫn là một chiến thắng của tình cảm, của tâm linh –tình yêu nước (chứ không phải là chiến thắng của chủ nghĩa Cộng sản “vô địch, bách chiến, bách thắng”), mà trong đó thơ đã đóng vai trò rất lớn!
 
*
*     *

Theo tôi, trước khi đọc “Nhật ký Đặng thùy Trâm” cần phải nắm cái tổng thể chiều dài lịch sử đề cập trên đây, mới có thể phân tích, đào sâu tâm lý con người, nhân vật Đặng thùy Trâm, qua đó chúng ta có thể có cái nhìn thâu suốt hoàn cảnh lịch sử, xã hội đương thời để soi chiếu vào hoàn cảnh của đất nước hiện tại.

May thay, chúng ta đã có Ngọc thiên Hoa bỏ rất nhiều thì giờ để ngồi đọc cuốn “Nhật ký” đang gây sôi nỗi đến mọi giới khắp nước, trong vài tháng qua. Ngọc thiên Hoa không những đọc rất kỹ mà còn phân tích rộng ra, mổ xẻ từng vấn đề, từng khía cạnh rất chi ly. Rồi các bạn sẽ đồng ý với tôi, đây không phải là bài “điểm sách” thường tình mà là một tiểu luận về văn chương. Tôi lại còn muốn thăng hoa để gọi đây là một thiên phê bình, lý luận văn học về “Nhật ký Đặng thùy Trâm” !

Có hai điểm cốt lõi của tiểu luận này đã nêu bật ra, theo tôi, thứ nhất  lý tưởng cách mạng của nhân vật Đặng thùy Trâm chính là lý tưởng của tình yêu thánh hóa; thứ hai khát vọng yêu thương con người, cuộc sống của “cô gái” Đặng thùy Trâm là giá trị chính của tác phẩm. Đó là nhãn quan nghệ thuật phê bình của một ngòi bút nhân bản.

Sau khi Ngọc thiên Hoa xuất hiện trên mạng lưới Giao điểm trong hai tháng qua, nhất là sau bài tiểu luận về “nhà thơ TTKh là ai?” có nhiều độc giả đã thắc mắc hỏi thăm Giao điểm: “Nth là ai…?; Nth từ đầu tới…?”.  Tôi xin được miễn trả lời các câu hỏi này, chỉ nêu lại một dẫn dụ trong bài viết của tác giả nhắc tới lời phát biểu của nhà văn Bảo Ninh: “Có thể chúng ta sẽ có cuốn tiểu thuyết vĩ đại của ngày hôm nay hoặc có thể không. Còn nhà văn lớn của chúng ta có thể đang là đứa trẻ đánh giầy ngoài đường ấy.”, thì Ngọc thiên Hoa đã kê thêm: “có thể là chị bán hột vịt lộn, là em dũa móng tay ?”.  Tại sao không? Có thể lắm chứ!. Vậy, đã có thể ngày xưa Ngọc thiên Hoa từng là một cô bé bán “hột vịt lộn” để nuôi mẹ già và các em (!?)... Cái điều quan trọng là hiện tại văn chương của Ngọc thiên Hoa có đủ vóc dáng của một “nhà văn lớn” chưa?. Câu trả lời là tùy ở bạn đọc!

Sunday, November 06, 2005

© Copyright 2005 giaodiem.com

 

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

 

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com