1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 07.11.2005
Sơ Lược Về Nguồn Gốc & Lợi Ích Của
THIỀN Trong Đời Sống Con Người
 
TÂM HOÁN (Hoành Nguyễn)
 
giaodiem -thien
Thiền Đường Lộc Uyển tự San Diego California

          Từ thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, Phật Thích Ca đã truyền bá phương pháp tọa thiền tại Ấn Độ, được người đời trân quý về tác dụng và công hiệu của nó.

          Thiền (meditation) đem sức mạnh đến cho cả cơ thể và tâm linh, còn gọi là tâm thức (Mind), mà theo Lão Tử là ở 3 nơi: Óc, tim và bụng.

          Tổ sư của Thiền tông Việt NamThiền sư TĂNG HỘI. Thân phụ ông là thương buôn Ấn Độ, mẹ là người Việt Nam, tên nước lúc đó là Giao Chỉ, bao gồm cả các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và phía Bắc Việt Nam, là vùng đất giao tiếp giữa 2 nền văn hóa. Ông mồ côi cha mẹ năm hơn mười tuổi, được nhận vào làm chú tiểu của chùa Dâu hay chùa Pháp Vân, tỉnh Bắc Ninh là cái nôi của nền văn hóa Việt Nam, từ thời Thái thú Sĩ Nhiếp.

Thầy Tăng Hội không những giỏi về Phật học, mà giỏi luôn về Lão học và Nho học. Đạo Phật từ Ấn Độ được truyền sang Việt Nam vào thế kỷ thứ III, rồi từ Việt Nam lại được truyền sang Trung Quốc vào thế kỷ thứ VI với vị tổ sư đầu tiên dạy Thiền là Bồ Đề Đạt Ma, nhỏ hơn thầy Tăng Hội tới ba trăm tuổi. Đạt Ma Sư Tổ từ Ấn Độ sang Trung Hoa phát triển môn võ thuật Thiếu lâm Thiền tông.

Thầy Tăng Hội không phải chỉ là thiền tổ của Việt Nam mà còn là thiền tổ của Trung Hoa, vì Ngài đã qua Trung Quốc để dạy thiền vào giữa thế kỷ thứ III.

Cần đọc thêm tác phẩm “Thiền Uyển Tập Anh” về thiền Việt Nam.

          Sau khi tổ sư Tăng Hội đã dạy thiền tại Giao Chỉ, rồi sau đó mới tới kinh đô của nước Đông Ngô vào thời Tam Quốc để giảng dạy Phương Pháp Đạt Thiền tại chùa Kiến Sơ, do thầy đã thuyết phục được vua Ngô Tôn Quyền xây cất. Đến đời con là vua Tôn Hạo đã xin quy y và thọ 5 giới với thầy Tăng Hội. Thầy là người đầu tiên vận động cho người dân nước Ngô được xuất gia.

            Thiền hay thiền na (tiếng phạn là dhyana), là phần thực tập nòng cốt của đạo Phật. Bản chất của thiền là niệm, định và tuệ. Thực tập thiền có tác dụng nuôi dưỡng và trị liệu cho cả thân và tâm. Niệm hay chánh niệm (samyaksmrti) là nguồn năng lượng giúp ta ý thức được những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, trong thân, tâm và trong hoàn cảnh. Thí dụ: niệm cơn giận … Định là chú tâm. Tuệ là tuệ giác chuyển hóa được cơn giận thành năng lượng của hiểu biết, chấp nhận, xót thương và hòa giải. Thiền là loại trừ hay là đốt cháy mê đắm, là phải tập buông bỏ những nhiêu khê bận rộn của cuộc sống, làm cho tâm ngay thẳng lại, tạo ra hỷ lạc. Phải diệt trừ 5 loại ngăn che: tham đắm, giận hờn, mê ngủ, lăng xăng hối hận và nghi ngờ. Tập thiền là lau sạch cái tâm để dần dần hết vô minh, để có hiện pháp lạc trú. Nhìn sâu vào hiện tại ta có thể thấy được cả quá khứ và tương lai. Như khi nhìn đám mây, thấy quá khứ là nước sông hồ biển cùng sức nóng mặt trời; Thấy tương lai là cơn mưa.

          Thực Tập Hơi Thở Chánh Niệm:

          Thiền điều hòa hơi thở là phương pháp hữu hiệu chống lại sự âu lo (anxiety), và những áp lực về tinh thần tạp niệm (stress), căng thẳng do áp huyết cao, mà những người sống bằng đầu óc suy nghĩ nhiều quá, dễ trở nên căng thẳng. May mắn thay cho những ai biết quân bình con tim và khối óc của chính minh trong cuộc sống.

          Trước hết là sổ tức: tâm loạn thì dùng phương pháp đếm. Thở vào đếm một, thở ra đếm một; Thở vào đếm 2, thở ra đếm hai. Đếm cho đến mười rồi đếm lui trở lại đến một. Tập một hồi không còn lộn thì tâm bắt đầu định. Tiếp theo là tùy tức, theo dõi hơi thở không cần phải đếm. Con người còn thở được thì thiền còn sống. Theo thiền quán, hạnh phúc chân thực là sự có mặt trong giây phút hiện tại.

          Nuôi Dưỡng Đạo Chí Bằng Cái Nhìn Sâu Sắc

          Khi tiếp xúc với hình ảnh âm thanh thì phải có chánh niệm sâu sắc; Chánh niệm là khả năng nhận diện đơn thuần về sự có mặt của một đối tượng, không phê phán, không xét xử, không tham đắm vào đối tượng ấy, cũng không chán ghét xua đuổi đối tượng ấy, và nhất là không xem thường hoặc không quan trọng hóa nó. Ví dụ, ta có một vùng đau nhức trong cơ thể. Ta chỉ nhận diện sự đau nhức ấy. Với năng lượng của định và tuệ, ta có thể thấy và hiểu được, tầm quan trọng và nguyên do đích thực của vùng đau nhức ấy, và sự chửa trị sẽ được căn cứ trên tuệ giác mà niệm và định đem lại. Nếu ta lo lắng nhiều quá, nếu ta tưởng tượng nhiều quá, thì những lo lắng và những tưởng tượng ấy sẽ làm ta căng thẳng, và sự đau nhức sẽ tăng thêm. Nó không phải là ung thư mà ta tưởng tượng nó là ung thư, ta có thể lo lắng và sầu não đến mất ngủ. Khổ đau vì thế tăng lên gấp bội và sẽ đưa tới một tình trạng nghiêm trọng hơn. Ví dụ, nếu mũi tên thứ 2 bay tới và cắm đúng vào vết thương gây ra do mũi tên đầu, thì sự đau nhức sẽ không nhân thành 2 mà sẽ nhân thành 10. Vì thế ta đừng để cho mũi tên thứ hai hay mũi tên thứ ba (tưởng tượng và lo lắng) bay đến. Còn phải có quyết tâm lớn gọi là đạo chí. Cái mình thấy sâu sắc gọi là quán chiếu. Có sinh là có tử, kiếp người cũng như mọi sự vật đều như huyễn hóa. Người tu phải có định để chọc thủng được cái vô minh, và thấy được chân lý. Muốn có định thì phải củng cố đạo chí.

Quán tưởng là nhìn vào cái tưởng là hạnh phúc dục lạc, để thấy được cái sự thật không hạnh phúc của chúng, để không còn bị mê đắm. Vọng tưởng thường tạo ra những tri giác sai lầm của tham đắm, đam mê, hận thù, ganh tị, sợ hải, khổ đau và phiền não gây ra, chỉ có thể được hoàn toàn chuyển hóa khi ta đạt tới cái thấy vô ngã.

          Thiền phải là nếp sống tỉnh thức của mọi người. Từ 6 tuổi trở lên, các em đã có khả năng học Thiền và tập Thiền: Thiền thở, thiền hành, thiền ăn, thiền ngồi bán kiết già hay kiết già … Ai cũng cần tu học để trở thành sáng suốt hơn, bao dung hơn, khiêm nhượng hơn và tỉnh thức hơn.

            Áp dụng thiền sẽ tốt cho việc điều trị các bệnh cao áp huyết, mất ngủ, lo âu, nóng nảy, bệnh dạ dày, hen suyển, tim mạch, tâm thần, đái đường, Alzheimer’s, stroke … Thư giản là bước đầu tiên dẫn đến thiền định: Đi đứng thong thả, ăn uống, nói năng, lắng nghe theo cách thư thả, đừng vội vàng. Nên tập thư giản, xả bỏ phiền não và thiền định. Thời gian hành thiền nhiều hay ít tùy hoàn cảnh từng cá nhân, miễn là phải thực tập kiên nhẫn, chú tâm và đều đặn mỗi ngày. Ở những bệnh nhân có tham gia thiền quán, người ta nhận thấy ít lo âu trước khi mổ; Ít mất máu trong khi mổ, và hồi phục nhanh hơn sau khi mổ. Thiền là nhu cầu tâm linh của cuộc sống trần thế.

          Trong bài “Lợi Ích Của Tu Thiền” HT Thích Thanh Từ đăng trên tạp chí Đất Lành - San Diego California, có những đoạn hướng dẫn sau đây:

          Người tu Phật thường tránh những thái độ cực đoan, mà phải giữ trung đạo, ăn nghỉ chừng mực điều độ, đối với các dục lạc phải hạn chế, không buông lung trác táng. Khổ hạnh và hành lạc là hai thứ bệnh mà người tu Phật không nên có. Nhờ tọa thiền có sức ấm, nên bệnh được giảm và mình sẽ không bị thời tiết làm bệnh như bịnh cảm. Thân chúng ta sanh bệnh do 2 lý do: Một là thời tiết, hai là tâm lý bất ổn. Nội tâm, nếu buông xả tất cả tâm niệm lo sợ, buồn rầu thì tự giảm được phần lớn bệnh hoạn. Có nhiều người, khi thích cái gì hay bực bội điều gì thì trong tâm tán loạn. Tu Thiền là phải ứng dụng, cốt làm sao lóng lặng được những tâm niệm tán loạn, bồng bột ấy. Người biết tu thiền sẽ kềm chế được Tham – Sân – Si nên trí tuệ càng ngày càng sáng tiến lần tới giác ngộ. Đây chính là lợi ích lớn nhất của sự tu Thiền. Các Thiền sư rất tự tại vui vẻ trước giờ phút lâm chung, không hề có chút sợ sệt. Thân nầy theo thời gian ví như chiếc xe cũ không còn giữ được tốt mãi, hư thì thôi không luyến tiếc. Biết tu là tích lũy được những nghiệp lành. Lợi ích của tu Thiền trong đạo Phật, là đem lại sự quân bình cho nhân loại trong thời đại khoa học kỹ thuật cực tiến nầy, đã khiến cho phần tinh thần đạo đức bị suy giảm. Đó là thiếu quân bình. Tu là phải luôn luôn quan sát, thấy được tâm niệm hành động của mình tốt hay xấu. Nếu tốt thì chúng ta nuôi dưỡng, nếu xấu thì chúng ta tiêu diệt.

          Cũng trên tạp chí Đất Lành, có đăng bài “Chương trình phát thanh Đuốc Tuệ phỏng vấn thầy Thích Nhật Từ về Chuyến Hoằng Pháp Tại Việt Nam Của Thiền Sư Nhất  Hạnh”. Xin lược trích ý chánh như sau:

          Chuyến đi của Thiền Sư ví như  một cơn mưa đang đổ xuống, và cây cỏ tùy đó mà tiếp thu chất lượng nước mưa khác nhau. Có những cây sẽ sinh sôi nẩy nở rất tốt, có những cây chỉ phát triển vừa vừa, có những cây sẽ bị ngập lụt mà chết. Rõ ràng chuyến đi dó có ảnh hưởng về chính trị, đã để lại rất nhiều ấn tượng. Con đường hành trì phải được xem là điểm tựa tâm linh rất quan trọng mà đức Phật từng gởi gấm, tức là biến chánh pháp thành một dưỡng chất tinh thần cho tất cả những ai có duyên với Phật pháp, trong một bối cảnh rất nhạy cảm về chính trị, rất phức tạp về ý thức hệ, trước và sau năm 1975. Đức Phật nói, không có một chính thể nào tồn tại mãi với cuộc đời.

          T/s Nhất Hạnh nhắc lại: Có một giai đoạn lịch sử, mặc dù không thành văn, tất cả các đảng viên Cộng Sản đều không đi chùa, không tham gia những sinh hoạt tôn giáo. Ngày nay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỗi ngày đều ngồi thiền; Cựu Thủ tướng hay Chủ tịch nước, trước khi chết đã quy y để được trở thành một Phật tử. Tổ tiên chúng ta đến với đạo Phật khi họ còn trẻ, nhiều nhiệt huyết để có thể biến những ước mơ thành hiện thực. Mỹ là một quốc gia có nền tảng văn hóa Thiên Chúa Giáo làm chuẩn, thế mà đạo Phật đã len lỏi vào các cộng đồng phương Tây, không thông qua chiến tranh, không thông qua cuồng tín, không thông qua kinh tế.

          Đạo Phật mà Thiền Sư giới thiệu ở đây là một đạo Phật rất trẻ trung. Cái hình ảnh của gần 200 người xuất thân từ 30 quốc gia khác nhau, nhiều tôn giáo khác nhau, vai trò và vị trí xã hội của họ rất lớn, có vị là tiến sĩ, bác sĩ, luật sư, giáo sư, còn có vị từng là linh mục, mục sư Tin Lành, đã trở thành đệ tử của Thiền Sư. Khi Thiền Sư dẫn một đoàn thiền sinh mấy trăm người đi rất an nhiên, tự tại, thảnh thơi ở những khu vực chúng ta thấy rất hiếm có sự hiện hữu những tu sĩ Phật Giáo là những hành giả, đi thong dong tự tại ở chợ Bến Thành, ở chợ Đồng Xuân hoặc ở khu vực rất quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Huế, đã làm quần chúng phải đặt lại vấn đề: đạo Phật phải có một giá trị nào đó cho nên mới thu hút được giới trẻ, giới trí thức từ nhiều tôn giáo và nhiều quốc gia khác nhau. Những nhà sư, trong tay không có một tấc đất, trong túi không có một đồng xu và trang phục thì rất giản đơn, với một màu nâu sòng hay vàng, tượng trưng sự giải thoát; Nhưng họ vẫn có đời sống an nhiên và nụ cười thoải mái. Rõ ràng là thời gian T/s Nhất Hạnh có mặt ở Việt Nam đã thay đổi phần nào nhận thức của quần chúng đối với đạo Phật. Con đường của Phật Giáo phải là con đường của sự hòa giải, chứ không phải con đường đối lập, đối kháng.

          Bài viết sơ lược nầy chỉ nhằm giúp cho người viết cũng như độc giả hiểu được khái quát về vị tổ sư Thiền tông Việt Nam, cùng những lợi lạc về tu tập thiền. Rất mong quý vị hiểu biết rộng về thiền, sẽ cống hiến cho độc giả nhiều bài chi tiết và sâu sát dễ hiểu hơn. Trân trọng.@@

Sacramento California, ngày 21  tháng 10  năm 2005

Tài liệu tham khảo để viết bài:

- Thiền Quán của những Lo Âu & Thư Giản (Việt Hải, Los Angeles).
- Tạp chí Đất Lành San Diego California tháng 9 & 10 – 2005.
- Thiền sư Tăng Hội của Nhất Hạnh.
- Thiền: Chất liệu nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa.
- Tương lai thiền học Việt Nam (Thích Nhất Hạnh).

 

© Copyright 2005 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com