Joshua hay theo tiếng Hi Lạp, Jesus (Giê-su), có nghĩa là "cứu
tinh" (savior). Nhiều người có tên như vậy ở miền Trung Đông trước
khi Giê-su của Ki Tô Giáo sinh ra đời.
Niềm tin trong Ki Tô Giáo là, một trong số rất nhiều người mang tên
Giê-su, Giê-su của Ki Tô Giáo, thực sự là Đấng Cứu Thế (Savior of the
World). Và chính vì lý do này mà Tây phương
đã chia lịch sử loài người ra làm hai: trước và sau ngày sinh của
Giê-su, tuy rằng không ai biết ngày sinh của Giê-su là ngày nào, và trước
khi Giê-su sinh ra đời thì lịch sử loài người đã diễn tiến ít ra là
trong vài triệu năm.
Hàng triệu người trên thế giới ngày nay vẫn tin Giê-su là Đấng Cứu
Thế. Đối với họ, ông ta là hiện
thân của Thượng đế, xuống đầu thai trong một trinh nữ, và sinh ra trong
một chuồng súc vật ở
Đó là đại cương đức tin trong Ki-Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành. Đức tin này được xây dựng trên quan niệm
về "tội tổ tông" (original sin) và huyền thoại "Giê-su sống
lại" của Thánh Phao-Lồ (Paul), dẫn đến vai trò "cứu rỗi" của
Giê-su. Đối với người ngoại đạo,
đức tin trên vừa làm cho họ lắc đầu mỉm cười, vừa là một thách đố
trí tuệ đối với họ, vì họ không thể nào hiểu nổi tại sao trong thời
buổi này mà, không kể hàng triệu người thuộc lớp dân kém hiểu biết
và ít học nhất trong mọi nước trên thế giới, nhất là trong những nước
nghèo khổ kém phát triển, vẫn có những người tự xếp mình vào giới
trí thức còn tin như vậy.
Họ không thể hiểu vì trước những bằng chứng khoa học về nguồn
gốc con người và vũ trụ mà không ai có thể phủ nhận, kể cả Tòa
Thánh Vatican, thuyết Thiên Chúa sáng tạo
ra vũ trụ và muôn loài trong 6 ngày cách đây khoảng 6000 năm, cũng như vai
trò "cứu rỗi" của Giê-su, đã trở thành vô nghĩa, ít ra là trong
giới hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo.
Ngày nay, không ai có thể phủ nhận sự kiện là, vũ trụ đã thành
hình cách đây khoảng 15 tỷ năm, và trái đất mà chúng ta sống trên đó
đã có tuổi khoảng 4 tỷ rưỡi năm. Trong
vũ trụ thì trái đất của chúng ta chỉ là một hạt bụi, và con người
cũng chỉ do các sinh thể ban khai tiến
hóa tạo thành, có nguồn gốc từ những hạt bụi của các ngôi sao khi vũ
trụ mới thành hình. Là một chuyên
gia về thiên văn học tại đại học Virginia, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết
trong cuốn L'Infini Dans La Paume de la Main: "Tiến hóa từ những cát bụi của những
ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử
trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm" (Poussières
d'étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les
fleurs de lavande). Những khám phá trong
các ngành khoa học, đặc biệt là những môn Cổ Sinh Vật Học, Sinh Học,
Vật Lý.. đã chứng minh rằng con người hiện đại đã xuất hiện trên
trái đất cách đây hơn 2 triệu năm, và tổ tiên loài người, kể từ các
con vượn người (nhân hầu) cũng đã có mặt trên trái đất cách đây khoảng
6 triệu năm.
Nói tóm lại, thuyết tổ tiên loài người là Adam và Eve do Thiên
Chúa tạo ra từ đất sét (Thiên Chúa không biết rằng trong đất sét
không có chất hữu cơ và con người thì phần lớn lại là những chất hữu
cơ) chỉ là một huyền thoại của dân Do Thái tưởng tượng ra để giải
thích nguồn gốc loài người, phù hợp với quan niệm về một vị Thần
mà họ thờ phụng. Và chuyện "phục
sinh" của Giê-su sau này chẳng qua cũng chỉ là chuyện mà một số người
theo Giê-su khi đó bày đặt ra để tạo ra một hi vọng về một sự sống
lại sau khi chết trong đám tín đồ thấp kém mà trong thời đại đó, tuyệt
đại đa số là những kẻ mù chữ thất học.
Thật vậy, học giả A.
Sự thực về chuyện phục sinh ra sao, quý độc giả nên đọc trong
cuốn Công Giáo: Huyền Thoại và Tội Ác
của một tín đồ Ca-Tô, Dominic Nguyễn Chấn, bút hiệu Charlie Nguyễn, Giao
Điểm xuất bản, 2001.
Với trình độ hiểu biết của nhân loại ngày nay, con người đã
không còn có thể chấp nhận những chuyện hoang đường của thời cổ
xưa. Chúng ta đã biết, Malachi Martin,
giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma, đã
đưa ra một sự kiện: "Hàng trăm nhà
thần học và giám mục đã từ bỏ
niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và
về nhiều giáo lý căn bản khác."
Đây là một vấn đề rất quan trọng trong nội bộ Giáo hội mà tuyệt
đại đa số các tín đồ không hề biết đến.
Giáo hội cố bưng bít được chừng nào hay chừng ấy, bởi vì nếu
Giáo hội thú nhận công khai cùng các tín đồ là không làm gì có "tội
tổ tông", không làm gì có quỷ Satan cùng sự vô nghĩa của một số tín
lý khác, nghĩa là những hệ luận của quan niệm về tội tổ tông, thí dụ
như Đức Mẹ đồng trinh, Chúa sống lại và bay lên trời, sự "cứu rỗi"
của Giê-su v..v.. thì cả cái lâu đài xây dựng trên những ngụy tạo và
dối trá của Giáo hội sẽ sụp đổ. Cho
nên, Giáo hội cố duy trì hình ảnh thần thánh của Giê-su trong đám nạn
nhân thấp kém của Giáo hội được chừng nào hay chừng đó. Nạn nhân đây gồm tất cả những người
đã bị Giáo hội và cha mẹ nhồi sọ từ khi còn nhỏ những luận điệu
thần học dối trá của Giáo hội cho nên không có cách nào họ có thể gột
bỏ được một niềm tin đã bị lạc dẫn.
Để giúp họ phần nào nhìn rõ vấn đề, tôi nghĩ có lẽ tôi cần
phải viết thêm vài sự kiện về thực chất con người của Giê-su. Trong chương II, qua những đoạn trích dẫn
từ Thánh Kinh, chúng ta đã biết rằng, Giê-su là một người mà những đặc
tính tiêu biểu là: lời nói không đi đôi với việc làm, tiền hậu bất
nhất, khi nói suôi, khi nói ngược, và phần lớn là về “cái Ta” của
ông ta.
Trong Thánh Kinh còn có nhiều chuyện
có thể giúp chúng ta hiểu rõ con người của Giê-su
hơn. Sau đây là vài chuyện trích từ
Thánh Kinh. Chúng ta đã biết chuyện Giê-su nguyền
rủa cây sung cho nó chết héo queo chỉ vì nó không ra trái lúc trái mùa để
cho Giê-su ăn khi đói bụng. Một
chuyện khác trong Thánh Kinh, Matthew 8:
28 - 34, có thể cho chúng ta thấy rõ
tâm địa của Giê-su, được tóm tắt
như sau:
Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa
Giê-su và quỷ trong hai người đó van nài Chúa Giê-su đuổi chúng ra và cho
nhập vào một bày heo. Chúa phán "đi
ra", chúng liền nhập vào bầy heo và cả bầy heo (độ 2000 con, theo
Mark 5: 13) rông tuốt xuống sông chết đuối
hết. Trẻ con chăn heo chạy về làng kể
chuyện lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Giê-su
và...van nài (có nghĩa là đuổi) Ngài
hãy đi ra khỏi vùng đất của họ. Chúng
ta hãy tự hỏi, 2000 con heo có tội tình gì mà Chúa Giê-su "lòng lành
vô cùng" của các tín đồ Ki Tô Giáo lại phù phép làm cho 2 con quỷ
nhập vào cả đàn, rồi bắt chúng nhào xuống sông chết đuối hết? Như vậy có phải là Giê-su là người không
có lòng nhân, vô cớ tự nhiên đang tâm giết cả một đàn heo vô tội một
cách tàn nhẫn. Mà đàn heo cũng lại là
những sản phẩm của chính Chúa Cha “sáng tạo” ra, vì theo niềm tin Ki
Tô thì mọi thứ trên đời này đều là do Chúa Cha tạo ra cả. Bởi vậy dân làng mới coi Giê-su như
là một tên phù thủy, một kẻ đáng chê trách, đã vô cớ hủy đi một
nguồn lợi của dân làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một đàn heo tới
2000 con, cho nên họ kéo ra ngoài làng, chặn
đuổi Giê-su
đi nơi khác, không dám để cho Giê-su vào làng. Như
đã viết rõ trong Thánh Kinh, Giê-Su sẽ cứu dân Do Thái ra khỏi tội lỗi
(Matthew 1: 21: for He will save His people from their sins) và chỉ cho dân Do Thái
mà thôi (Luke 1: 33: And He will reign over
the house of Jacob for ever). Cho nên tôi thật
thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo
vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho mình sống đời
đời trên Thiên Đường bên cạnh Thiên Chúa với thân phận tôi tớ hầu
hạ Chúa. Trong trang nhà mucsu.net của Tin Lành Việt Nam ở Mỹ, có một bài
viết về "Hãy Học làm đầy tớ hầu hạ Chúa" với tất cả sự
hân hoan và hãnh diện của người có đầu óc của một đầy tớ.
Câu chuyện sau đây trong Thánh Kinh sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ
của những tín đồ Việt "Thế rồi Giê-Su đi tới vùng (When Jesus went out from there and
departed to the region of
Tôi xin để cho các độc giả tùy ý nhận định về tư cách,
đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong câu chuyện trên. Tôi không hiểu các đồng bào Ki-Tô của
tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, biết đâu họ chẳng
cho mình có cùng một thân phận và lòng tin mãnh liệt như bà già trong câu
chuyện kể trên để được Giê-Su cứu giúp, dù bây giờ Giê-Su không còn
trên thế gian nữa.
Đọc Thánh Kinh tôi nhận thấy tin theo Chúa kể cũng khá mất nhân vị:
khi thì bị mắng là Satan (Phê rô), khi thì bị mắng là chó, khi thì bị mắng
là đồ điên và mù, khi thì bị rủa là đồ rắn độc, bị đày đọa hỏa
ngục v..v.. Hình ảnh của một Chúa
nhân từ, được rao giảng là "quá thương yêu thế gian" v..v.., quả thật không phù hợp với những ngôn
từ Chúa nói trong Thánh Kinh. Về
chuyện Giê-su gọi người phi-Do Thái là chó ở trên, Tiến Sĩ Madalyn O'Hair bình luận như sau:
Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng
ai muốn anh trong tôn giáo này. Đối với
người nào thực sự "thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của
họ" tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học. (Unless you are a Jew,
you are not wanted in this religion. For
someone who really "truly feels in his heart that Jesus is his Savior" I would
recommend a psychiatrist.) Và,
Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn
Scandalous Saints, trang 214: Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là
phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew
5:44) Nhưng khi một người đàn bà
không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái,
thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng, "Không thể lấy bánh của con dân Do
Thái vứt cho chó ăn." (Matthew 15:26) Nói
một cách khác, ông nói, "Người phi
Do Thái là đồ chó. Tại sao ta lại phải
làm bất cứ gì cho ngươi?" Anh
cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó?
Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị
của lòng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi
gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn
đề thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có
chút gì là Thánh cả. Những
sự kiện cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái. Thánh Phao-Lồ (Paul) viết rằng, theo lời mặc
khải của Thiên Chúa, "Giê-Su luôn
luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ
thay đổi." (Hebrew
13:8) Vậy nếu anh dự định lên Thiên
Đường ở cùng Giê-su đầy tình thương, và anh không phải là người Do Thái,
anh nên nghĩ lại đi thì vừa. 1
Thánh Kinh có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách và đạo đức
thấp kém của Giê-su như trên, nhưng trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn
được dạy là "Chúa toàn hảo", "Tình
Yêu của Chúa" bao trùm thế gian v..v.. nên phải "Kính Chúa" và
hãy hãnh diện là "đầy tớ hầu hạ Chúa", "thờ phụng
Chúa". Nhưng Giám Mục John Shelby
Spong thì lại nghĩ khác, vì sự lương thiện trí thức không cho phép ông
ta tin nhảm nhí. Do đó, ông đã viết: Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với
một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân
người hay không? Chúng ta có nên khâm
phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một
cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?... Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi
đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà
tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.2 Thật là tội nghiệp cho những
tín đồ trong thời buổi này mà vẫn còn tin vào những chuyện thuộc loại huyền
thoại phản khoa học, đầy mâu thuẫn và phi lý, kể cả những chuyện
không hề có trong Thánh Kinh. Thật là tội nghiệp vì họ đã được cấy
vào đầu óc, từ khi còn nhỏ, những huyền thoại mà giáo hội dạy rằng
đó là những sự thực lịch sử. Do
đó những huyền thoại mà họ tin là thực đã ăn sâu vào đầu óc họ,
không có cách gì có thể làm cho họ thay đổi niềm tin, nhất là khi lớn
lên, họ không bao giờ đọc Thánh Kinh, rất ít khi dùng đến đầu óc suy
luận của mình, chỉ biết phó mặc tư duy của mình cho giới chăn chiên. Ngoài ra, họ còn bị giới chăn chiên đe dọa
là nghi ngờ những lời giảng dạy của giáo hội là mang tội với Chúa. Ngay gần đây, ở Việt
Nhưng đối với giới trí thức thì khác, chúng ta hãy đọc một đoạn
ngắn trong chương mở đầu cuốn Jesus: A
Life của học giả A. N. Wilson, để thấy rõ ảnh hưởng của những huyền
thoại trên đầu óc con người, nhất là đối với những thành phần thấp
kém, ít học, những thành phần chiếm đa số tín đồ Ki Tô trên thế giới. Giống như mọi Ki Tô hữu, tôi biết rằng
tôn giáo của tôi nhận là có căn cứ trên lịch sử. Đức tin của tôi được xây dựng trên một vài câu chuyện, với những ngày
tháng kèm theo. Nhưng tôi không phải là trở thành một tín đồ Ki Tô
vì tôi tin những chuyện đó. Tôi trở
thành một tín đồ Ki Tô từ khi tôi còn là một đứa con nít được mang
đi rửa tội. Năm này qua năm khác,
trong những ngày lễ lớn của giáo hội Ki Tô, tôi lại được nghe nhắc lại
tính cách lịch sử của tôn giáo tôi. Nhưng
ngay cả khi đó, tôi thấm nhập những chuyện trên vì chúng có tác dụng mạnh
mẽ trên đầu óc, chứ không phải là vì tôi đã kiểm chứng những chuyện
trên qua sự phân tích lịch sử. Do đó,
đến ngày lễ Giáng Sinh, tôi nghe kể rằng thiên thần Gabriel đã đến thị
trấn Nazareth và bảo cho Mary biết là nàng sẽ sinh một đứa con, và đặt
tên nó là Giê-su, Đấng Cứu Thế. Không
giao hợp với đàn ông, nhưng Mary đã sinh ra một bé trai, không phải ở
Nazareth, mà là ở Câu chuyện trên ăn sâu vào óc
tưởng tượng của tôi từ lâu, trước khi tôi học lịch sử ở trường
học. Tác dụng mạnh mẽ của câu chuyện
khiến tôi không nghĩ đến việc đặt nó trong phương pháp
phân tích lịch sử thông thường. Tôi
tiếp tục tin rằng đó là một câu chuyện có thực trong lịch sử. Phúc Âm Luke đặt chắc câu chuyện sinh ra
Giê-su vào thời điểm mà Ceasar Augustus đòi hỏi mọi người trong đế quốc
La mã phải dự cuộc kiểm tra dân số. Cuộc
kiểm tra dân số này xảy ra trong thời Quirinius làm Thống đốc ở
Câu chuyện về một đứa bé sinh ra
trong một chuồng súc vật ở
Chúng ta thấy rằng, những huyền thoại về Giê-su được giáo
hội bịa đặt và đưa ra rõ ràng là để khai thác tính tình nhạy cảm
và khuynh hướng cả tin, mê tín của con người ngay từ khi còn nhỏ. Chúng ta cũng không thể phủ nhận là,
trong các giáo hội Ki Tô có rất nhiều người thông minh, hiểu nhiều. Nhưng thay vì dùng cái thông minh của mình
để khai sáng cho đám tín đồ thấp kém, dẫn dắt họ trên con đường mở
mang trí tuệ, thì họ lại cố vận dụng trí óc của mình để nghĩ ra những
lý luận thần học hoang đường, để nhồi sọ tín đồ từ khi còn nhỏ
tuổi, huyễn hoặc những tín đồ thấp kém và nhốt tín đồ vào trong
vòng mê tín, song song với những thủ đoạn nhơ bẩn, lừa dối, cùng phát
minh ra những dụng cụ tra tấn dã man, tàn bạo nhất trong lịch sử loài
người để chiêu dụ, cưỡng ép những người ngoại đạo phải tin theo
những điều mà họ cho là "chân lý mạc khải", không thể sai lầm. Đó là khổ nạn của thế giới ngày nay,
nhất là thế giới của những quốc gia kém phát triển, nghèo khó, dân
trí chưa mở mang. Người dân chất
phác đâu có đủ khả năng để hiểu những lý luận thần học ngụy biện. Họ đặt tất cả lòng tin vào những bậc
lãnh đạo Ki Tô Giáo mà họ yên trí đó là những người có ăn học, thông
thái, lương thiện, thành thật. Họ
có biết đâu, vì tin vào vài hứa hẹn huyền hoặc mà họ không đủ lý
trí để suy luận và đánh giá, nên họ đã bị lùa vào trong một định
chế tôn giáo toàn trị mà mục đích chính chỉ để duy trì quyền lợi vật
chất và tinh thần của một số nhỏ. Ở
các nước Âu Mỹ tân tiến thì vấn đề có khác. Giám Mục James A. Pike viết trong cuốn Một Thời Để Cho Sự Thành Thật Của Ki Tô
Giáo (A Time For Christian Candor), trang 108, như sau: "Cuốn
Tân Ước thật là rõ ràng. Thật vậy,
những sự kiện (trong Tân Ước. TCN) tự
bao giờ vẫn luôn luôn rõ ràng cho bất cứ ai nhìn thấy chúng. Giê-su sinh ra ở một địa phương đặc biệt, vào một thời
điểm đặc biệt. Mẹ và các em ông
ta không cho rằng ông ta có một nhiệm vụ nào khác với nhiệm vụ của một
con người." (The new Testament is
clear enough. Indeed, the facts have always
been clear enough for any man to behold. Jesus
was born in a particuliar place at a particular time.
His mother and brothers did not understand that He had more than a human
role to perform.)
Học giả Colin Wilson còn đi xa hơn. Sau
khi nghiên cứu về nhiều nhân vật tự xưng là Đấng Cứu Thế trong lịch
sử cổ xưa của loài người, ông ta đã viết một cuốn sách với nhan đề: Những Đấng
Cứu Thế Lừa Đảo: Những Chuyện Về
Những Đấng Cứu Thế Tự Phong (Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed
Saviors) trong đó có chương nói về Giê-su. Sau
đây là vài đoạn ngắn, trang 18-25: Đấng Cứu Thế duy nhất trong thời kỳ đó
mà ngày nay người ta còn nhớ đến, tên là Joshua, được biết nhiều hơn
dưới tên Hi Lạp, Giê-su... Ông ta đọc Cựu Ước và tin rằng ngày tận
thế sẽ đến ngay trong thời đại của những người sống cùng thời với
ông ta; khi đó sẽ có chiến tranh, nạn đói, động đất, và người chết
sẽ được làm cho sống lại. Mặt Trời
sẽ trở nên tối tăm và Mặt Trăng sẽ đỏ ngầu như máu, và các ngôi
sao sẽ từ trên trời rơi rụng xuống.
Thông điệp làm cho chúng ta nhớ tới
Giê-su - hãy yêu người láng giềng và làm cho người ta những điều mà
mình muốn người ta làm cho mình - đã là một phần trong truyền thống Do
Thái. Hơn 1000 năm bị áp bức - người
Do Thái đã bị nô lệ hóa bởi Vua Ai Cập từ 1250 năm trước thời đại
thông thường này - đã tạo nên cho người dân một tâm cảnh hòa bình và
tuân phục ý Chúa; do đó khi Giê-su dạy hãy yêu kẻ thù là ông ta chỉ nhắc
lại điều Moses dạy... Một trong những niềm tin căn bản của Do Thái
là những sự đau khổ của người Do Thái bắt nguồn từ tội lỗi của
ông tổ Adam của họ. Phao-Lồ rao truyền
rằng cái "tội tổ tông" này đã được hóa giải bởi cái chết
của Giê-su trên thập giá, cho nên người nào trở thành tín đồ Ki-Tô
thì nay cái tội tổ tông họ mang trên người đã được cứu chuộc. (Đây chỉ là một luận điệu thần học
ấu trĩ của thời bán khai, vì nếu quả thật cái chết của Giê-su trên
thập giá có thể chuộc được tội thì đó là chuộc cái "tội tổ
tông" cho cả dân Do Thái (dân Việt Nam
coi chuyện "tội tổ tông" là chuyện hoang đường nhất trong những
chuyện hoang đường, không những tầm
bậy mà còn nói lên cái tâm địa tàn nhẫn độc ác và phủ nhận trách
nhiệm của chính Thiên Chúa), chứ không phải chỉ chuộc tội cho những
người Do Thái nào trở thành tín đồ Ki Tô.)... Đến năm
100 của thời đại thông thường này, mọi người đều thấy rõ là lời
tiên tri của Giê-su sẽ không thực hiện được.
Nhưng khi đó thì Ki Tô Giáo đã lan rộng cho nên đó không
thành vấn đề. Sự mong đợi ngày tận
thế nay được hoãn lại một thiên niên kỷ, tới năm 1000 - và từ ngữ
"thiên niên kỷ" trở thành đồng nghĩa với "Ngày Phán Xét". Ki Tô Giáo đạt được chiến thắng lớn năm
313 khi hoàng đế Constantine - một tên ngông cuồng ngu xuẩn khát máu và sa
đọa như nhiều hoàng đế La Mã - tuyên dương Ki Tô Giáo là tôn giáo
chính thức của đế quốc La Mã... Làm sao mà những "Đấng Cứu Thế"
này lại hấp dẫn như vậy. Thứ nhất,
họ đều là những người có năng khướu thuyết giảng. Nhưng không phải chỉ có vậy. Chúng ta đã biết, Giáo hội Ki Tô, mới đầu
là một tổ chức nghèo nàn và bị bạo hành, nhiều người lãnh đạo bị
ném cho những con sư tử ăn thịt, đột nhiên trở thành tôn giáo chính thức
của La Mã năm 313, dưới triều hoàng đế Constantine. Khi có được quyền lực rồi, những tín
đồ Ki Tô bắt đầu xử sự ngay
một cách tệ hại hơn kẻ thù của họ rất nhiều: phá hủy những đền
đài của dân gian, thiêu sống những kẻ ngoại đạo, và cãi vã với nhau. Thực chất là, Giáo hội đã trở thành một
tổ chức siêu độc tài. Và dân
nghèo, được lệnh phải đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, rên xiết dưới
gánh nặng thuế má, và bắt buộc phải trả lệ phí để cho tội lỗi của
họ được tha thứ, càng ngày càng trở nên bất mãn với những lãnh đạo
tinh thần của họ. Nhưng họ không thể
làm gì được; Giáo hội đã đặt họ vào trong gọng kìm sắt như là Đức
Quốc Xã (Nazis) ở Đức hoặc Cọng Sản dưới thời Stalin ở Nga. 4 Tuyệt đại đa số các tín đồ Ki-Tô
Giáo không biết đến lịch sử nhơ nhớp của các giáo hội Ki Tô, không
biết đến những thủ đoạn "trí thức" nhằm nhốt tín đồ vào
trong vòng mê tín tối tăm của giới chăn chiên, không biết đến những sự
thay đổi trong não trạng của các cấp lãnh đạo tôn giáo, và nhất là
không biết đến những thú nhận sai lầm thần học của giáo hội trước
những sự kiện bất khả phủ bác của khoa học và thực tế ở ngoài đời. Do đó, đức tin của họ vẫn thuộc đức
tin của thời Trung Cổ, tin vào những chuyện đã không còn chỗ đứng
trong thời đại mới. Theo Robert W.
Funk, chủ tịch Hội Nghiên Cứu Nhân Vật
Giê-su (President of the Jesus Seminar), một Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh và
nhân vật Giê-su gồm hàng trăm học giả, chuyên gia, ở trong các giáo hội
Ki Tô, thì "thời đại mới" (New age) có nghĩa quan trọng nhất là
sự chấm dứt của thời đại Ki Tô (The “new age” refers first and foremost
to the end of the Christianized era). Trong cuốn
Honest to Jesus, trang 297, ông viết: "Định
nghĩa "thời đại mới" như trên, tôi không bảo rằng Ki Tô Giáo
đã hết thời; tôi chỉ cho rằng Tây phương được Ki-Tô hóa và kỹ nghệ
hóa không còn giữ vai trò chỉ đạo trò chơi duy nhất trên trái đất" (I am not thereby claiming that Christianity has
come to an end; I am only proposing that the Christianized, industrialized West can no
longer pretend to sponsor the only game on the planet...) Ông viết tiếp, trang 298: ...Ở Tây phương, cái biểu tượng của
vũ trụ cổ xưa đang trên đà suy thoái. Chắc
chắn là, nó còn lay lắt, dưới một dạng thức yếu kém, trong nhiều ốc
đảo, nơi đây một hoạt động của đoàn quân hậu vệ được tung ra để
chống lại ảnh hưởng của những đầu óc hiện đại có tác dụng soi
mòn và phá hoại của những chất
a-cít. Những ai còn bám víu vào những
quan niệm cổ xưa càng ngày càng thấy khó khăn hơn trong việc làm cho những
câu trong Thánh Kinh như "ông ta bay lên trời" có ý nghĩa. Những sự hấp dẫn về một Thiên Chúa chứng
thực, về thiên đường và hỏa ngục, về một đấng cứu chuộc thần thánh,
về Chúa Ki-Tô như là trung gian duy nhất
giữa Thiên Chúa và nhân loại, đã bắt đầu mất đi tác
dụng và thường là rơi vào những cặp tai không còn muốn nghe. (.. in the West, the old symbolic universe
is on the decline. It lingers on, to be sure,
in weakened form, in many pockets where a rearguard action is being waged against the
erosice and corrosive acids of the modern mind. Those
who cling to the old are having increasing difficulties in assigning meaning to such
biblical statements as “he ascended into heaven”.
Appeals to an endorsing God, to heaven and hell, to a divine redeemer, to
Christ as the sole mediator between God and humankind, have begun to lose their bite and
more frequently fall on unhearing ears.)
Trong những xã hội Tây phương, phần lớn giới hiểu biết trong các
giáo hội Ki Tô đã không còn tin vào những huyền thoại trong Thánh Kinh nữa. Tuy nhiên, không phải là chỉ trong thời đại
mới con người mới bác bỏ những luận điệu thần học sai lầm của Giáo
hội. Trong lịch sử các giáo hội, nhiều
người từ xưa đã "không tin rằng
vai trò của giáo hội là cần thiết để được "cứu rỗi". Con người có thể đến với Thiên Chúa
trực tiếp mà không cần đến các linh mục, mục sư hay những bí
tích." (Colin Wilson, Ibid., p. 25: Many members of the Church did not believe
that the Church was essential for "salvation".
Man can know God directly, without the need of priests and sacraments.).
Có lẽ chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy ở phương trời Âu Mỹ,
Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành, đang bị suy thoái, nhất là Ca-Tô Giáo
Rô Ma. Sự suy thoái này có nhiều
nguyên nhân. Một trong những nguyên
nhân là trong Ca-Tô Giáo đã xảy ra hết chuyện mang tai tiếng này đến
chuyện mang tai tiếng khác, ngay trong thời đại này, chứ không phải là
trong lịch sử quá khứ. Vấn đề Giáo
hội đã biết rõ nhưng vẫn cố tình dung dưỡng và che dấu tội lỗi của
giới linh mục trong nhiều thập niên về các vụ cưỡng bách tình dục
các trẻ em phụ tế, nữ tín đồ, và ngay cả các sơ trong 23 quốc gia mà
gần đây, vì không thể bưng bít mãi được nên Tòa Thánh đã phải lên
tiếng thú nhận, nay đã được báo chí phổ biến rầm rộ. Từ một thập niên trước đây, giáo hội
đã phải bỏ ra đến gần tỷ đô la để nộp phạt và dàn xếp ngoài
tòa cho hàng trăm linh mục tội lỗi. Vụ
cựu linh mục Ca-Tô John Geoghan mới ra tòa gần đây ở Boston chỉ là một
trong hơn 80 vụ che dấu khác của giáo hội trong Giáo Phận Boston. Cho đến nay, Giáo hội đã bỏ ra hơn 10 triệu
đô la để bồi thường cho các nạn nhân của Geoghan, và người ta ước tính
giáo hội sẽ phải bỏ ra nhiều trăm triệu nữa cho các vụ xảy ra ở
Boston và trên khắp nước Mỹ. (Newsweek, February 25, 2002: The Church has
reportedly paid more than $10 million in settlements so far in the Geoghan case alone. And mounting lawsuits in
Nhưng nguyên nhân chính là con người trong thế giới tiến bộ Âu Mỹ
đã thường ngày đối diện với những tác phẩm nghiên cứu của nhiều học
giả về tôn giáo của họ, chưa kể đến những tin tức hàng ngày trên
báo chí và TV, những cuộc tranh luận về tôn giáo công khai trên TV. Với những thông tin tràn ngập về mọi mặt,
giáo hội không còn có thể che dấu sự thật trước đám tín đồ có ăn
học được nữa. Do đó, trong những
xã hội tân tiến này đã xảy ra tình trạng linh mục, nữ tu, và con chiên
bỏ đạo hàng loạt, khoan kể đến việc một số đã viết sách vạch trần
thực chất phi nhân của giáo hội cũng như những chuyện hoang đường, dâm
ô, tục tĩu trong Thánh Kinh. Thống kê
cho biết, sau vụ 11 tháng 9 tại New York, số người đi lễ nhà thờ tăng vọt
từ hơn 30% đến gần 60%, nhưng chỉ vài tuần lễ sau số người đi lễ
nhà thờ lại trở lại mức hơn 30%. Đó
là ở Mỹ. Còn ở Âu Châu thì tình
trạng thê thảm hơn nhiều.
Không còn thuyết phục được người dân trong những xã hội văn
minh tiến bộ, Ca-Tô Giáo Rô-Ma cũng như Tin Lành đang mở chiến dịch đi
truyền đạo ở các nước nghèo và kém mở mang, nấp sau những bình phong
như "tự do tín ngưỡng" và "nhân quyền". Ở Á Châu, họ tung ra ra cái gọi là nền
"thần học theo cung cách Á Châu". Riêng
đối với Việt Nam, họ viết sách và bỏ tiền ra mua lương tâm của những
tên trí thức dỏm viết sách viết báo xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử Việt
Nam, hạ thấp Phật Giáo, và đánh bóng những tên đại Việt gian như Trần
Lục, Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Ký cùng quan thầy Alexandre de Rhodes. Tin Lành thì len lỏi vào các vùng Thượng
Du Bắc Việt, mang tiền ra khuyến dụ những người Thượng nghèo khổ,
xúi bẩy họ đòi tự trị với quốc giáo là Ki Tô Giáo, gây xáo trộn
trong xã hội Việt
Họ có thành công hay không, tất cả tùy thuộc ở trình độ hiểu
biết của người dân về vấn đề tôn giáo.
Cái vũ khí hữu hiệu nhất để vô hiệu hóa những lý luận hoang
đường của Ki Tô Giáo về vai trò cứu rỗi của Giê-su và vai trò của
"hội Thánh" Ki-Tô là giáo dục để cho người dân biết rõ về những
sự thực về Ki Tô Giáo. Chính quyền
có nhiệm vụ đưa ra một chính sách giáo dục mở mang dân trí. Đây là
cái chìa khóa để bảo vệ truyền thống và văn hóa Việt
Riêng tôi, tôi cho rằng mưu toan Ki Tô hóa Á Châu của Ca-Tô cũng như
Tin Lành không thể thành công, dù họ có nấp sau những chiêu bài như
"trở về với dân tộc", "góp phần vào nền văn hóa Việt
Nam" qua những luận điệu của cái gọi là "thần học theo cung
cách Á Châu".
Thứ nhất, thần học Ki Tô Giáo, dù mang tên gì đi chăng nữa, Á
Châu hay Phi Châu, Giải phóng hay của phái nữ, cũng đều là thần học. Thần học là môn học đặt tiền đề trên
sự hiện hữu của một vị Thần mà họ gọi là Thượng đế, trên sự
"cứu rỗi" của Giê-su như là có thực, rồi mới tìm cách lý luận
để biện giải cho những tiền đề trên. Nhưng
ngày nay, những khám phá của khoa học trong nhiều bộ môn, và nhất là
thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ và thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc
loài người, đã dứt khoát phá đổ
thuyết Sáng Tạo trong Cựu Ước cũng
như chức năng "cứu rỗi" của Giê-su trong Tân Ước. Khi mà chuyện Adam và Eve chỉ là một huyền
thoại như mọi người, kể cả các bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo, đều công
nhận, đặc biệt là ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Ca-Tô, cũng phải công
nhận như vậy trong cuốn Ngón Tay Và Mặt
Trăng, thì không ai còn có thể tin vào chuyện một nhân vật hoang đường,
ăn một trái trên một cái cây hoang đường, trong một cái vườn hoang đường,
do một ông Thượng đế hoang đường tạo ra, cho nên cả nhân loại đều
bị phạt đời đời kiếp kiếp. Thời
buổi này mà ông Thượng đế đó xử sự như vậy , hoặc mang con ông ấy
lên thập giá đóng đinh thì ông sẽ vào ngồi đếm lịch trong nhà tù. Không có tội tổ tông thì ai cần ai cứu
rỗi? Giê-su sẽ thất nghiệp vì đâu
có còn ai cần đến sự cứu rỗi của ông ấy.
Hơn nữa lý thuyết "chuộc tội" của giáo hội chỉ có tính
cách lừa bịp, vì nếu Giê-su đã chuộc tội cho loài người bằng cách chịu
"tử nạn" đóng đinh trên thập giá, thì tại sao trong 2000 năm nay
con người vẫn chết, vẫn phải làm việc đầu tắt mặt tối, phái nữ vẫn
mang nặng đẻ đau, như lời nguyền rủa của Thượng đế đối với loài
ngươi sau khi một Adam giả tưởng ăn một trái trên một cây giả tưởng
trong một vườn địa đàng giả tưởng của một ông Thượng đế giả
tưởng.
Thứ nhì, người Á Đông có đầu óc thực tế, hướng về nhân bản
và nhân chủ. Người Việt
Thứ ba là những sự kiện lịch sử. Ai
cũng biết, nhiệm vụ của tôn giáo là hướng dẫn vấn đề tinh thần, dạy
đạo đức cho con người để cho con người đi vào con đường hướng Thiện. Nhưng Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành,
là tôn giáo loại gì mà lại đi giết người chỉ vì họ không có cùng một
niềm tin với những tín đồ Ki Tô. Cái
lịch sử ô nhục đầy máu và nước mắt của Ca-Tô Giáo Rô-ma cũng như của
Tin Lành có thể biện minh cho những sắc thái cao đẹp của một tôn giáo
theo đúng nghĩa là một tôn giáo được hay không?
Bao nhiêu triệu người bị tra tấn, tù đầy, giết chóc, thiêu sống
dưới tay của các Linh Mục Ca-Tô và Mục Sư Tin Lành? Có một cá nhân nào bị Phật Giáo, một
tôn giáo mà các tín đồ Ki Tô cho là thấp kém, của ma quỉ, tra tấn, tù
đầy, giết chóc và thiêu sống hay không? Tại
sao Giáo Hoàng John Paul II phải đi đến các nước trong thế giới thứ ba
để đã hơn 100 lần xin lỗi những quốc gia này vì những tác hại và bất
hạnh mà Ki Tô Giáo đã mang đến cho đất nước của ho? Tại sao Tòa Thánh phải xưng thú 7 núi tội
lỗi của Giáo hội đối với nhân loại? Tại
sao các Giám Mục, Mục Sư Tin Lành phải lên tiếng xin lỗi thổ dân da đỏ
ở Mỹ Châu và thổ dân ở Phi Châu và Nam Mỹ?
Những tín đồ Ca-Tô Việt
Nếu người dân được mở mang kiến thức để biết về những sự
thực về Ki-Tô Giáo thì đương nhiên họ sẽ đặt những câu hỏi như trên
với những nhà truyền giáo trước khi họ chấp nhận những luận điệu mê
hoặc của những người đi truyền giáo nhưng không bao giờ đọc kỹ Thánh
Kinh hoặc không bao giờ biết rõ về lịch sử của chính tôn giáo họ. Robert W. Funk cũng chủ trương phải đặt vấn
đề với Ki Tô Giáo, xét đến những sự kiện trong lịch sử Ki Tô Giáo. Ông viết, Ibid., p. 199: Từ nay trở đi, chúng ta phải luôn luôn hỏi
rằng, truyền thống Ki Tô Giáo có cái gì để dạy chúng ta, và nếu có,
thì đó là cái gì. Chúng ta không còn
trao khoán cho Ki Tô Giáo một sự đồng ý trước, như là một phần của sự
mua bán, mà không xác định những điều chúng ta chấp nhận là những cái
gì. 5
Tôi thành thực mong rằng, một ngày nào đó, người dân Việt Nam sẽ
biết đến, không nhiều thì ít, qua những tác phẩm thuộc loại nghiên cứu
của Giao Điểm, Trần Văn Kha, Lê Trọng Văn, Cao Huy Thuần, Nguyễn Xuân Thọ,
Nguyễn Mạnh Quang, Charlie Nguyễn, Nguyên Vũ v..v.., những sự thật trong lịch
sử Ki Tô Giáo cũng như những sai lầm, mâu thuẫn, và những chuyện phi
luân, dâm ô, ác độc có đầy trong Thánh Kinh.
Ngoài ra họ cũng nên có một kiến thức tối thiểu về những tiến
bộ của khoa học, nhất là về vũ trụ học và nhân chủng học. Chỉ có như vậy họ mới có thể tránh
được cái thòng lọng mà Ki Tô Giáo luôn luôn dùng mọi thủ đoạn để
xiết vào cổ họ. Chú Thích - Kết Luận 1. Frederick
Heese Eaton, Scandalous Saints, p. 214: Jesus repeatedly admonished his disciples to love
one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44) Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her
daughter, Jesus told her, "It is not fit to take the children (of 2. John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21,24: Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of
pigs in order to exorcise a demon? Are we
impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of
season?...
A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less
worship. 3.
This story had been taken hold of my imagination long before I ever studied
history at school. So powerful was it that I
would not readily subject it to the ordinary processes of historical analysis.. I continued, however, to suppose that it was a
story with a real historical setting. The
Gospel according to Luke dates it most specifically to a time when Ceasar Augustus
required that everyone in the The
story of the baby being born in a stable at 4. Wilson, Colin, Rogue Messiahs: Tales
of Self-Proclaimed Saviors, pp. 18-25: The only messiah of that period who is remembered
today was called Joshua, better known by the Greek form of his name, Jesus... Study of the scriptures had
led him to believe the world would end within the lifetime of people then alive; there
would be wars, famines, and earthquakes, and
the dead would be brought back to life. The sun would
be turned to
darkness and the moon to blood,
and the stars would fall from the sky.
The message by which we remember Jesus – love one’s neighbor and do to others
as you’d have them do unto you – was already a part of the Jewish tradition. More than a thousand years of oppression – the
Jews had been enslaved by the pharaoh Rameses II as long ago as 1250 B.C. – had
developed a spirit of pacifism and submission to the will of God; so Jesus’s injunction
to love your enemy was merely a restatement of the Mosaic teaching... ...One of the most fundamental beliefs of
Judaism was that the sufferings of the Jews were caused by the sin of their forefather
Adam. Paul announced that this “original sin”
had been canceled out by the death of Jesus on the cross, so that anyone who became a
Christian was now redeemed...
Before 100 A.D. it was clear to everyone that Jesus’ prophecy was not going to be
fulfilled. But by that time, Christianity had
became widespread that this made no difference. The
expectation of the end of the world was now transferred to the Millennium itself – the
year 1000 A.D. – and the word Millennium became a synonym for the Day of Judgement. Christianity achieved its greatest triumph so far
on 313 A.D. when the Emperor Constantine – as blodthirsty and vicious a maniac as many
of the Roman emperors – declared it the official religion of the empire... How
did these “messiahs” become so powerful? To
begin with, all of them had the gift of preaching. But
it was more than that. As we have seen, the
Christian Church, which began as as poor and persecuted organization whose leaders were
thrown to the lions, suddenly became the official religion of
As soon as they gained power, the Christians began to behave far worse than their
enemies, destroying pagan temples, burning heretics, and squabbling among themselves. In effect, the Church became the supreme dictator. And the poor, ordered to go to church every Sunday,
groaning under heavy taxes, and forced to pay to have their sins forgiven, became
increasingly disenchanted with their spiritual masters.
But there was nothing they could do; the Church exerted the same iron grip as the
Nazis in 5. Funk, Robert W.,
Honest to Jesus, p. 299: From now on we must always ask whether the Christian tradition
has something to teach us and, if it does, what that something is. We can no longer give Christianity prior consent
without determining what we are embracing as part of the bargain. © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com