DẪN NHẬP Giáo Hoàng Ca-Tô Giáo Rô-Ma (Công
Giáo La-Mã) John Paul II, trong cuộc viếng thăm Ấn Độ năm 2000, đã kêu gọi
tín đồ tăng gia nỗ lực cải đạo quần chúng ở Á Châu, nghĩa là, theo
truyền thống truyền đạo của Ca Tô Giáo, dùng mọi thủ đoạn để kéo
quần chúng vào Ca-Tô Giáo. Mac Kher, dựa trên những sự kiện lịch
sử: rằng sự du nhập của Ki Tô Giáo vào Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu, phần
lớn Phi Châu và vài vùng Thái Bình Dương đã đưa tới sự hủy diệt một
cách có hệ thống toàn bộ những tôn giáo và nền văn hóa đa thần có trước
thời Ki-Tô, cho lời kêu gọi trên là một lời tuyên chiến chống nền văn
hóa Á Đông, các tôn giáo Á Đông, và xã hội Á Đông nói chung, Ấn Độ
nói riêng (Xin đọc trong www.nycny.com).
Tuần báo Newsweek, số ngày 16 tháng 4, 2001, trang 48, tường trình sự
suy thoái của Ki Tô Giáo ở Âu Châu và Bắc Mỹ, nhất là ở Âu Châu,
ngày nay được coi là một xã hội trong tình trạng hậu-Ki-Tô
(post-Christian society), nhưng Ki Tô Giáo
lại có chiều hướng phát triển trong các nước nghèo khó ở Á, Phi, nơi
đây dân trí còn thấp kém, đời sống kinh tế vật chất khó khăn, và
còn bị nhiều áp bức.
Gần đây, tại Việt Nam, những nhà truyền giáo Tin Lành, mượn chiêu
bài tự do tín ngưỡng để truyền đạo trên các miền thượng du Bắc
Việt và đã gây ra không ít hỗn loạn
trong xã hội Việt Nam.
Mục đích truyền đạo của Ca-Tô cũng như Tin Lành ở Việt Nam là, lợi dụng và khai thác
hoàn cảnh khó khăn về vật chất cũng như tinh thần của một số người
dân ở trình độ thấp nhất, thu nhặt tín đồ bằng những giáo điều
huyền hoặc và bả vật chất. Khi có
một số tín đồ cuồng tín và tuyệt đối theo lệnh các nhà truyền giáo
rồi, họ sẽ biến số tín đồ này thành
một lực lượng chính trị nấp sau bình phong tôn giáo để tạo áp lực với
chính quyền, chi phối mọi hoạt động xã hội trên căn bản một niềm
tin không cần biết không cần hiểu của Ca-Tô Giáo cũng như Tin Lành. Lịch sử du nhập của Ca-Tô Giáo vào Việt
Những tín đồ tân tòng Ca-Tô hay Tin Lành, vì nhẹ dạ cả tin những
lời hứa hẹn vào một đời sau, vì được giúp đỡ chút ít trong những
hoàn cảnh vật chất khó khăn, đều không biết rằng mình đã bị huyễn
hoặc bởi một cái bánh vẽ, do đó bị lùa vào cảnh nô lệ một hệ thống
giáo quyền trong cấu trúc toàn trị của Ca-Tô Giáo, hay vào cảnh nô lệ
“những điều mạc khải không thể sai lầm trong Thánh Kinh” của Tin
Lành. Nhìn vào toàn bộ nền Thần học
Ki Tô Giáo, chúng ta thấy nó giống như một cái áo cũ kỹ đã rách bươm
nhiều chỗ, phải vá chằng vá chịt, dùng để che đậy một thân thể bệnh
hoạn. Tại sao? Bởi vì nền thần học này dựa trên nhiều
ngụy tạo và gian dối, như sẽ được chứng minh trong chương sau. Mỗi khi sự ngụy tạo và gian dối nào bị
phanh phui, người ta lại phải thay đổi, dùng ngụy biện để che đậy nó đi bằng một luận điệu
thần học khác. Vì vậy mà John E.
Remsburg đã viết trong cuốn False Claims, trang 3, rằng: Trong những giới thông minh ở Âu
Châu và Mỹ Châu, nền thần học Ki-Tô trên thực tế đã chết. (Among the intelligent classes of Europe and
Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận sự kiện là, nền thần học
này cũng mang đến cho các tín đồ, tuyệt đại đa số thuộc thành phần
thấp kém trong xã hội, một niềm hi vọng trong đời sống sau: Tới ngày phán xét cuối cùng (không biết
bao giờ mới xảy ra tuy Chúa Giê-su đã hứa với các tông đồ là sẽ xảy
ra trong ngay khi ông ta còn sống, và trong 2000 năm nay không biết bao nhiêu lần
các bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo đã tiên đoán sai lầm ngày tận thế sẽ xảy
ra) Chúa sẽ hóa phép làm cho xác chết của họ sống lại đoàn tụ với
linh hồn và sống cùng Chúa đời đời trên Thiên đường. Đó là cái bánh vẽ trên trời (từ của
Linh mục Ernie Bringas: A Pie-in-the-sky) cộng với mồi vật chất (theo đạo có
gạo mà ăn) để khuyến dụ họ tin theo đạo Chúa.
Những nhận xét ở trên không phải là không có căn bản, nhưng tuyệt
đại đa số những tín đồ Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành, đều không biết đến những sự thực này,
do chính sách bưng bít của các giáo hội, và do chính họ không đủ khả
năng để theo dõi những diễn biến ngay chính trong các giáo hội của họ.
Thật vậy, chính Mục Sư Tin Lành Rubem Alves, Giáo sư Thần Học
tại đại học Campinas ở Ba Tây, trong cuốn Đạo Tin Lành và Sự Đàn
Áp (Protestantism and Repression, Orbis Book) đã phải đưa ra nhận đinh như
sau, phản ánh thực chất tình trạng Tin Lành truyền đạo ở Ba Tây, trang
44: Có phải là kỳ cục không khi mà
Chúa Ki-Tô không thể rao giảng cho những
người cảm thấy mình an toàn và hạnh phúc, những người cảm thấy cuộc
đời đáng sống, những người không đang ở trong một cơn khủng khoảng? Có phải là khác thường không khi mà Chúa
Ki-Tô chỉ có thể tuyên dương và có nghĩa trong những tình trạng đau khổ
vì bệnh hoạn của những người đang ở trong những hoàn cảnh lo lắng, cảm giác tội lỗi, và khủng khoảng hay
chết chóc? Thật ra nhiệm vụ của
nhà truyền giáo là gì? Nhiệm vụ của
họ là đặt cho một cơn khủng khoảng những tên Thần Học mà thực ra
nguồn gốc của nó là vấn đề tâm lý xã hội.
Nhà truyền giáo tìm cách khơi động một cơn khủng khoảng mà
con người có thể chưa cảm thấy, để rồi từ đó, và chỉ khi đó, họ
mới có thể tuyên bố "Chúa Ki-Tô là sự giải đáp". (Isn't it curious that Christ cannot be
preached to people who feel secure and happy, to people who feel that life is worth
living, to people who are not going through a crisis?
Isn't it odd that Christ can only be proclaimed and meaningful in morbid
situations where people are infected with existential anxiety, guilt feelings, and terror
or death? What really is the task of the
evangelist? His or her task is to give
theological names to a crisis that could well be psychosocial in origin. The evangelist seeks to activate a crisis which
might not have been sensed before, so that then, and only then, he or she can proclaim
that "Christ is the answer".)
Nhận định của Giáo sư Rubem Alves ở trên quả thật
đúng nếu chúng ta quan sát tình trạng Ki Tô Giáo nói chung ở các xã hội
tân tiến Âu Mỹ. Con người Âu Châu nói
riêng, trong các nước văn minh tiến bộ nói chung, vì đã có một
đời sống kinh tế tương đối thoải mái, và vì thường xuyên đối diện
với những tiến bộ của các bộ môn khoa học và tôn giáo học, đã tỉnh
ngộ và thấy rõ thực chất của những lời hứa hẹn hoang đường như trên. Cho nên chúng ta không lấy gì làm lạ khi
đa số chỉ mang danh là tín hữu Ki Tô theo truyền thống gia đình và xã hội
của họ, nhưng chẳng còn tin những điều không còn phù hợp với sự tiến
bộ trí thức và mức độ hiểu biết của quần chúng ngày nay. Những người ngày nay còn tin vào những
điều hoang đường phi lý trí, phản khoa học v..v.. phần lớn thuộc những
nước nghèo, chậm tiến, và thường là
lớp người không mấy khi dùng đến đầu óc, hoặc đầu óc đã bị bố
mẹ, linh mục, mục sư làm cho mê muội từ khi còn nhỏ, chưa đủ khả
năng hiểu biết, do đó bị giáo hội dẫn vào và giữ trong bóng tối của
mê tín, của vô minh, và trong hệ thống toàn trị của giáo quyền Ca-Tô
và của Kinh Thánh Tin Lành.
Số báo Newsweek nêu trên đã đưa ra vài con số nói lên tình trạng của
Ki Tô Giáo hiện nay: năm 1900, 80% tín đồ Ki Tô là dân Âu Châu và Bắc Mỹ,
ngày nay 60% là dân các nước Á, Phi, và châu Mỹ La-Tinh (Newsweek, Ibid.: In
1900, 80% of Christians were either Europeans or North Americans. Today, 60% are citizens of Africa, Asia and Người
Việt Nhưng chỉ vài tháng sau khi xưng
thú 7 núi tội lỗi cùng thế giới, như tự tát vào chính mặt mình, ngày
5 tháng 9, 2000, Hồng Y Ratzinger, với sự đồng ý của Giáo Hoàng John Paul
II, đã tung ra tài liệu “Dominus Jesus” mang hình thức tuyên ngôn
dài 36 trang. Trong tài liệu này có hai
điểm nổi bật gây nhiều dư luận trên thế giới, một liên quan đến các
tôn giáo phi-KiTô, và một liên quan đến khả năng trung gian cứu rỗi duy
nhất của giáo hội Ca-Tô: 1. “..
như là một phương tiện đưa đến sự cứu rỗi, những tôn giáo phi-KiTô
thiếu sót một cách trầm trọng” (..non-Christian religions are gravely
deficient as a means of salvation) 2. “Giáo
hội Ca-Tô Rô-ma là phương tiện duy nhất đem đến sự cứu rỗi cho toàn
thể nhân loại” (The Roman Catholic Church is the only instrument for the
salvation of all humanity).
Hai điểm trên chứng tỏ giáo hội Ca-Tô không thực tâm trong vấn đề
xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ, và ý muốn thống trị, thái độ
thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn
hóa và tôn giáo phi-KiTô vẫn là chỉ tiêu của giáo hội trong sách lược
bành trướng đạo sang Á Châu.
Sách lược truyền đạo của Tin Lành cũng tương tự như của Ca-Tô. Họ vẫn tin tưởng rằng những điều "Thánh
Kinh viết rằng..." phải là tuyệt đối, không thể sai lầm, và cũng
dùng cùng những thủ đoạn của Ca-Tô giáo: xuyên tạc, hạ thấp tất cả
các tín ngưỡng dân gian phi Ki-Tô và những nền văn hóa phi Ki-Tô.
Chúng ta cũng cần
phải ý thức được rằng, Ki Tô Giáo nói chung, Ca Tô Giáo cũng như Tin Lành,
đang lạm dụng và núp sau chiêu bài “Nhân quyền” và dựa vào ưu thế
kinh tế và quân sự của các cường quốc Au Mỹ để truyền đạo trong những
quốc gia mà họ có thể ép được. Họ
không dám đụng tới khối Hồi Giáo hay Do Thái, những khối tuyệt đối
không nhân nhượng về vấn đề tự do truyền đạo. Họ cũng không dám đụng tới Trung quốc,
một quốc gia vĩ đại với gần một tỷ rưỡi dân, có tiềm lực kinh tế
và quân sự không thể coi thường, và có một chính sách rõ rệt để
ngăn chận và kiểm soát sự tự do truyền giáo.
Nhưng họ lại khai thác sự yếu kém kinh tế của các nước nhỏ ở
Á đông và tính dễ dãi của những dân tộc trong vùng này, như Thái Lan
và Việt Nam, để thực hiện ảo vọng Ki Tô hóa các quốc gia này. Việt Nam là mục tiêu hàng đầu vì nơi đây
Vatican đã có sẵn một lực lượng khoảng từ 5 đến 7 triệu giáo dân phần
lớn nổi tiếng cuồng tín, cực đoan, và hoàn toàn lệ thuộc Vatican. Chính quyền Việt Nam cần phải ý thức
được cái hiểm họa Ki Tô, Ca-Tô cũng như Tin Lành, nếu không muốn truyền thống dân tộc và
văn hóa của Việt Nam bị xóa sạch trong tương lai, rơi vào vòng nô lệ
Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ.
Ngoài ra, để đối phó với sách lược đang được
thi hành hiện nay của Ca Tô và Tin Lành: dùng bọn người trí
thức nô lệ mất gốc, đưa ra những tác phẩm xuyên tạc bôi nhọ lịch sử,
văn hóa Việt Nam, điển hình là cuốn sách với cái tên quái gở “Tổ
Quốc Ăn Năn” của Nguyễn Gia Kiểng, một tín đồ Ca-Tô, đồng nhất
hóa hành động hay tư tưởng của một vài cá nhân trong lịch sử Việt
Nam với Tổ Quốc Việt Nam, hoặc cuốn Hành Hương Đất Phật của một
"trí thức Ca-Tô" khác, Nguyễn Kim Khanh với bút hiệu Phan Thiết,
mà nội dung chỉ để xuyên tạc, hạ thấp Phật Giáo qua một kiến thức
rất hời hợt về Phật Giáo. Song song
với những hoạt động văn hóa một chiều của
Cuốn sách này được viết ra không ngoài mục đích đóng góp một
phần vô cùng nhỏ nhoi trong chiều hướng mở mang dân trí bằng cách đưa
ra những sự thực về con người của Giê-su cũng như những lời giảng dạy
của Giê-su trong Thánh Kinh, những lời không mấy khi được các linh mục
hay mục sư diễn giảng trong nhà thờ, hoặc chỉ được diễn giải theo lý
luận thần học của giáo hội, nhiều khi rất mâu thuẫn và phi lý, trước
đám tín đồ thấp kém đã bị cấy vào đầu óc những niềm tin tôn giáo
từ khi còn nhỏ.
Hiện nay trong thế giới Âu Mỹ chúng ta thấy tràn ngập những tác
phẩm nghiên cứu về nhân vật Giê-su. Tác
giả những thiên khảo cứu này đều là những bậc có uy tín trong giáo hội
cũng như ngoài giáo hội. Họ gồm có
các Hồng Y, Tổng Giám Mục, Linh Mục, giới trí thức trong Giáo hội, cùng
những chuyên gia, học giả, giáo sư đại học, nhà thần học v..v.. mà truyền thống tín ngưỡng gia đình và xã hội của họ là Ki Tô
Giáo.
Cuốn sách này chỉ có thể trình bày phần nào những kết quả
nghiên cứu của các học giả nói trên. Độc
giả có thể tham khảo những cuốn sách liệt kê trong phần Tài liệu Tham
Khảo nếu muốn biết thêm chi tiết về những chủ đề nêu trong sách. Không có lý do gì mà người Việt chúng ta
lại không được biết và đọc những tài liệu này. Tín đồ Ki Tô cần phải đọc để biết
về thực chất tôn giáo của họ. Người
ngoại đạo càng cần phải đọc hơn để khỏi bị lừa dối bởi những
điều hoang đường sai sự thực. Nội dung cuốn sách này là trình bày
cùng quý độc giả hình ảnh thực sự của Giê-su qua một số tài liệu
nghiên cứu, phân tích mới nhất của các chuyên gia về Ki Tô Giáo, ở
trong cũng như ở ngoài giáo hội, và tuyệt đại đa số vẫn nằm trong
truyền thống tôn giáo, văn hóa Tây phương.
Hình ảnh này sẽ cho chúng ta biết Giê-su thực sự như thế nào,
sống trong hoàn cảnh nào, chịu ảnh hưởng của những tư tưởng nào
v..v.. Cuốn sách này cũng phân tích những điều giảng dạy điển hình của
Chúa Giê-su được ghi trong Thánh Kinh, và từ những thông tin trong phần
nghiên cứu về con người Giê-su ở trên, chúng ta mới có thể biết rõ chủ
ý của Giê-su nằm trong những điều giảng dạy.
Cho nên cuốn sách này sẽ gồm có hai chương: 1.
Chương 1: Giê-su là ai? 2.
Chương 2: Giê-su giảng dạy những gì?
Ngoài ra trong phần Phụ Lục, tôi cũng xin cống hiến quý độc giả
vài nét về Vua David, người mà các nhà thần học trong giáo hội Ca-Tô thường
hãnh diện khoe rằng Giê-su thuộc dòng
dõi ông Vua này, và dạy các tín đồ hàng ngày cầu nguyện: "Xin
Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn muông chim cầm thú, xin làm cho
tôi đặng về quê thật hiệp làm một cùng vua David." (Trích dẫn từ
Kinh Nhựt Khóa của Công giáo). © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com