CHƯƠNG I -GIÊ-SU LÀ AI?
Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày
nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội
Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những
điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là
huyền thoại... Các học giả đã biết
rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là
một người thường sống với một ảo tưởng
– họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không
cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội
trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những
tín đồ Ki Tô bình thường.
(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even
scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know
of Jesus is myth... Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a
man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and
ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary
Christians.) (Russell Shorto in "Gospel Truth")
Như là một định chế trong thế giới này,
(As an institution in this world the (Paul Blanshard, in "The Management of Truth: The Ki-Tô Giáo nói chung, đặc biệt là Giáo-hội
Ca-Tô Rô-Ma (phiên âm từ "The Roman Catholic Church") mà người Việt
Nam thường biết dưới cưỡng từ quen thuộc là Giáo Hội Công Giáo
La-Mã, đã thành công trong việc tạo dựng lên một hình ảnh của Giê-su,
đối tượng của một đức tin thuộc loại "Tin là một cách sống, chết; không
liên quan gì đến cái biết, cái hiểu." (Đỗ Mạnh Tri, trong cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng") trong đám
tín đồ đông đảo, gần 2000 năm qua. Hình
ảnh Giê-su mà Giáo hội cấy vào đầu tín đồ rất xa với sự thực, những
sự thực không nằm trong sự hiểu biết của tín đồ, vì Giáo hội cũng
đã thành công trong việc biến tín đồ thành những thuộc hạ với tâm cảnh
nô lệ, hoàn toàn tuân phục Giáo hội. Trong bức "Thư Chung Năm 2001" của "Hội Đồng Giám Mục Việt Nam"
gửi "Cộng Đồng Dân Chúa" để
họ "Được Sống Dồi Dào", mục 4, các giáo dân được khuyến khích
phải "quên mình trong vâng phục"
theo đúng Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 44, nghĩa là phải tuyệt đối
vâng phục những điều "Giáo hội dạy
rằng...". Do đó, bất cứ Giáo
hội giảng dạy ra sao, bất kể những điều
giảng dạy này có đúng sự thực hay không, có thuận lý hay
không, có hợp với trình độ
hiểu biết
của nhân loại ngày nay hay không v..v.., tín đồ đều phải vâng
phục và tin theo. Đây là truyền thống
tín ngưỡng của Ca-Tô Giáo Rô-ma. Thật
vậy, Truyền thống trong Ca-Tô Giáo Rô-ma được tóm tắt trong câu (J.
Sheatsley, The Pope's Catechism, p.80): Tín đồ
Ca-Tô phải tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những
gì Giáo hội Ca-Tô dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong
Thánh Kinh. Vì
Truyền Thống Ca-Tô (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải. (A Catholic must believe all that God has
revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or
not. Because Catholic Tradition and Holy Scripture
were alike revealed by God)
Bản chất của Tin Lành cũng không khác gì Ca-Tô Giáo. Họ chỉ thay những lời "Giáo hội dạy
rằng.." của Ca-Tô Giáo bằng câu "Thánh Kinh viết rằng..." và
điều kiện tiên quyết để theo Tin Lành là phải tuyệt đối tin vào
Thánh Kinh và huyền thoại cứu rỗi của Giê-su. Trong Tin Lành, thẩm quyền
của Giáo hội trong Ca-Tô Giáo được thay thế bằng thẩm quyền của Thánh
Kinh. Mục sư Tin Lành Rubem Alves viết trong cuốn "Protestantism and Repression", trang 62
như sau về đức tin trong đạo Tin Lành: "Nếu
những sự kiện khoa học, nhân văn, xã hội v..v.. hay thực tế ở ngoài đời
(real life) mà trái ngược với Thánh Kinh thì những sự kiện này đương
nhiên phải dẹp bỏ." (If the facts oppose the text (of the Scriptures),
abolish the facts). Nếu khoa học mà
phù hợp với Thánh Kinh thì đó là khoa học tốt (Good science). Nếu khoa học mà không phù hợp với Thánh
Kinh thì đó là khoa học xấu (Bad science). Truyền
thống trong Tin Lành cũng là phải tuyệt đối tin rằng con người sinh ra
trong tội lỗi (born in sin) và do bản chất đó, con người không thể làm
gì tốt (by nature, incapable of doing good), phải
bị đày đoạ vĩnh viễn (To be a sinner is to be destined to eternal damnation), và
cách duy nhất để được cứu rỗi là phải tin vào quyền năng của Giê-su
(Justification by Faith). Vì vậy, Rubem Alves viết: "Chúng ta không bao giờ thấy Tin Lành giải
thích hay biện minh cho thẩm quyền của Thánh Kinh bằng sự hiểu biết hay
xuyên qua những thực tế ở ngoài đời. (Ibid., p.34: We will never see
Right Doctrine Protestantism trying to explain or justify biblical authority in terms of
understanding or comprehension of existence that it offers.) Do đó, thảm
trạng của nhân loại ngày nay là, gần một phần tư dân số trên thế giới
vẫn tiếp tục sống trong bóng tối của một ý thức hệ mà thực chất
không còn phù hợp với trình độ trí thức của con người trong thời đại
thông tin điện tử này. Họ là nạn
nhân của một nền Thần học tinh vi, dựa trên nhiều ngụy tạo và gian dối,
một nền Thần học có tác dụng giữ họ trong bóng tối của đức tin thời
Trung Cổ. Luận cứ này sẽ được chứng minh trong những phần sau của cuốn
sách này. Cho nên, nếu
chúng ta đặt một câu hỏi then chốt: Giê-su
là ai? thì câu trả lời thật là dễ dàng đối với những tín đồ Ki
Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành: “Chúa tôi.”, vì họ chỉ được dạy
như vậy và tin có vậy. Nhưng nếu chúng
ta hỏi tiếp: “Chúa tôi là ai?” thì
có lẽ tín đồ Ki Tô Giáo sẽ không trả lời vì không biết trả lời ra
sao. Nhưng phần chắc là, do được dạy
nhồi sọ từ nhỏ, họ sẽ nhìn chúng ta với một cặp mắt khinh khi, cho rằng chúng ta đích thật là những kẻ
mọi rợ, chưa biết đến “tin mừng phúc âm.” trong khi họ chưa bao giờ
đọc đến phúc âm và cũng không biết trong phúc âm có những gì, ngoài
vài điều vụn vặt chọn lọc được rao giảng trong nhà thờ, và trong
sách báo tuyên truyền một chiều của Ki-Tô giáo.
Chỉ có điều, đối với thiểu số trên thế giới thì phúc
âm, hay nói cho đúng hơn, những điều mê tín cách đây 2000 năm của dân tộc
Do Thái, quả mang đến một tin mừng: “cứ
tin ở Chúa thì sau khi chết phần hồn sẽ được lên thiên đường ở cùng
Chúa, và đến ngày phán xét cuối cùng, thì Chúa sẽ làm cho xác chết của
mình sống lại đoàn tụ với linh hồn”.
Nhưng đối với đa số trên thế giới hiện đại có chút ít
đầu óc thì chuyện “linh hồn lên thiên đường và xác chết ngày sau sống
lại” thuộc loại chuyện “Chú Cuội ngồi trên cung Hằng”, vì "cứ tin ở Chúa" chỉ có thể áp
dụng cho con người sinh sau Chúa, nghĩa là cách đây khoảng 2000 năm, trong
khi lịch sử nhân loại đã trải dài ít ra là vài triệu năm. Có lẽ
tuyệt đại đa số tín đồ Ki Tô Giáo không hề đọc đến 3 tác phẩm
nhan đề Giê-su là ai?, trong số hàng trăm
tác phẩm khác, mà nội dung là kết quả nghiên cứu về nhân vật Giê-su
trong lịch sử Ki Tô Giáo. Tác giả 3
tác phẩm nghiên cứu về cùng một chủ đề này là hai học giả Ki-Tô:
Colin Cross và Thomas Wright, và Linh mục Ca-Tô John Dominic Crossan, giáo sư thần
học tại đại học De Paul ở Chicago trong 26 năm.
Ba tác phẩm này cùng với nhiều tác phẩm nghiên cứu khác
ngày nay đã có thể cho chúng ta một cái nhìn về nhân vật Giê-su hoàn
toàn khác với hình ảnh cùng những thuộc tính mà các giáo hội đã cấy
vào đầu óc các tín đồ về Chúa của họ.
Ngay cả mặt mũi thực sự của Giê-su cũng được đài BBC
dùng máy điện toán tái tạo dựa
trên những mẫu sọ người Do Thái cách đây 2000 năm, và những hình vẽ
người Do Thái cho đến thế kỷ thứ 4. Hình
ảnh gần đúng với sự thực này đã được đăng trên báo chí, và chương
trình “Dateline NBC” của đài truyền
hình NBC ngày 11 tháng 4, 2001 cũng đưa lên cho cả thế giới coi. Hình ảnh này cũng được đài TV Discover loan truyền cho thế giới coi tối
ngày 15 tháng 4, 2001, trong cuốn phim khảo cứu
“Jesus: The Complete Story”, cùng với những chi tiết đối ngược với
những luận điệu thần học của giáo hội.
Theo các khoa học gia thì hình ảnh Giê-su mà chúng ta thường thấy
trên các hình vẽ, tượng hình v..v.. ngày nay chỉ là những sản phẩm tưởng
tượng của các nghệ sĩ (Artists’ fantasies) thuộc giống dân da trắng, vì
sự thực là không có một tài liệu nào cho biết hình dáng Giê-su ra sao. Nhưng với kỹ thuật tái tạo trong khoa học
ngày nay, người ta đã có thể tái tạo khuôn mặt của Giê-su một cách
sát với thực tế nhất. Khuôn mặt
này trông thô lỗ, râu tóc quăn, da ngăm ngăm, mũi to, môi dày v..v.., như chúng
ta thấy ở đầu cuốn sách này, không có gì giống với những hình ảnh
do người da trắng tạo ra theo sự tưởng tượng của họ. Sự tái tạo khuôn mặt Giê-su của đài
BBC đã gây nên nhiều phản ứng trong giới da trắng vì theo quan niệm của
họ, Giê-su phải là người da trắng, mặt mũi gọn ghẽ như hình ảnh mà
chúng ta thường thấy trong các xã hội Âu Mỹ..
Trong tờ Chicago Tribune ngày 13 tháng 4, 2001, Brad R. Braxton viết: “Vấn đề không phải là có lẽ Giê-su có
tóc quăn, mũi lớn, môi dầy, da đen mà là tại sao hình ảnh này lại thu
hút sự chú ý (phản đối) của một số người da trắng... Trong nhiều thế
kỷ, dân da trắng đã hưởng lợi thế về tôn giáo, tâm lý, chính trị
và kinh tế vì đã vẽ ra một vị thần theo hình ảnh của họ. Vẽ ra chân dung của Giê-su như là một người
da trắng vốn không phải là điều khó hiểu.
Đó chỉ là thần học dưới dạng nghệ thuật.” (So the
news is not that Jesus probably had curly hair, a broad nose, thick lips and dark skin,
the news is why this is so arresting to some white people...For centuries, white people
have enjoyed the religious, psychological, political and economic advantages of having the
divine cast in their image. The depiction of
Jesus as a white man is not inherently problematic. It
is theology in the form of art.) Vậy thì
“Giê-su là ai?”. Cho đến thế kỷ
16, hầu như toàn thể Á Châu chẳng có mấy người biết Giê-su là ai. Còn ở Âu Châu thì không một ai dám đặt
ra câu hỏi này và không một ai dám phê phán bình luận cuốn Thánh Kinh vì
sợ bị tù đầy, tra tấn và mang đi thiêu sống.
Chúng ta nên nhớ, những tòa hình án xử Dị Giáo của giáo hội Ca-Tô, vì thế giới
loài người càng ngày càng văn minh hơn, do đó quyền lực của giáo hội cũng
càng ngày càng suy sụp, chỉ được dẹp bỏ vào khoảng giữa thế kỷ 19,
sau khi đã tra tấn và giết hại 11 triệu người "dị giáo", và
“Thánh bộ” (Holy Office) cầm đầu các tòa án xử dị giáo đã được
biến thể, đổi tên thành Thánh Bộ Truyền Bá Giáo Lý Về Đức Tin, ngày
nay do “hồng y thiết giáp” Ratzinger đứng đầu. Sự tiến
bộ trí thức là một định luật thiên nhiên của nhân loại. Dù giáo hội
Ca-Tô đã tìm hết cách và xử dụng tối đa mọi quyền lực thế gian
trong suốt 1500 năm, từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 19, với những biện pháp
dã man, tàn bạo nhất để ngăn chận sự tiến bộ này, cuối cùng giáo hội
cũng phải đầu hàng trước những bước
tiến trí thức của loài người. Thật
vậy, ngay từ 1760, Hermann Samuel Reimarus, giáo sư ngôn ngữ Á Đông tại đại
học Hamburg bên Đức, đã viết một cuốn sách đưa ra nghi vấn về sự thực
lịch sử viết trong các phúc âm. Vì sợ
bị giáo hội trả thù, ông ta đã xếp đặt để cho tác phẩm của ông
được xuất bản sau khi ông ta chết. Rồi
cho đến năm 1835, Giáo sư Thần học David Friedrich Strauss cho ra đời cuốn Khảo Xát Kỹ Cuộc Đời Của Giê-su (Life
of Jesus Critically Examined) trong đó tác giả dùng những phương pháp phân
tích để đi tới kết luận: “các phúc
âm không phải do các tông đồ của Giê-su viết mà là do những tín đồ
Ki Tô về sau, những người đan lẫn những truyền thuyết, những điều
tưởng tượng và sự kiện vào với nhau.”(..the gospels were written not
by followers of Jesus but by later Christians who wove fact, legend, and fantasy
together). Sau đó Strauss bị cấm dạy
môn Thần học cho đến khi chết. Chúng
ta có thể đọc tóm tắt những tác phẩm của Reimarus và Strauss trong cuốn
sách được coi là làm “lung lay thế giới thần học” (..it rocked the
theological world) vào đầu thế kỷ 20, Tìm
Kiếm Nhân Vật Giê-su Lịch Sử (The Quest of The Historical Jesus), của một tác giả nổi tiếng trên
toàn thế giới, Y Khoa Bác Sĩ Albert Schweitzer.
Ngoài bằng bác sĩ, Albert Schweitzer còn có hai bằng cấp khác:
tiến sĩ Thần học, và tiến sĩ Triết Học. Bước
sang thế kỷ 20, sự khám phá ra những cuộn kinh nơi Biển Chết (The Dead
Sea Scrolls) song song với kỹ thuật định tuổi vật chất cùng nhiều khám
phá khác trong ngành khảo cổ đã giúp cho những nhà nghiên cứu rất nhiều
trong công cuộc đi tìm những sự thực trong Thánh Kinh. Rồi đến thập niên 1960, những khoa dạy
môn Thần học trong các trường đại học Ki Tô bắt đầu xuống dốc vì
càng ngày càng ít người học, nhiều học giả đã bỏ các trường đại
học Ki Tô để sang dạy tại các trường đại học công, nơi đây họ có
nhiều tự do hơn trong việc khảo cứu. Tất
cả những sự kiện trên đã làm động cơ thúc đẩy cho công cuộc nghiên
cứu phúc âm và về nhân vật Giê-su phát triển mạnh mẽ. Điển hình là Hội Nghiên Cứu Giê-su (The
Jesus Seminar) gồm nhiều học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội
Ki Tô, đã phối hợp các kỹ thuật nghiên cứu tân tiến nhất như khảo cổ,
cổ sinh vật học, phương pháp định tuổi vật chất, với phương pháp
phân tích ngữ học, cổ ngữ học, xã hội học, sử học v..v.. để phân
tích từng câu, từng lời, từng sự kiện viết trong phúc âm. Một khuôn mặt đặc biệt trong ngành
nghiên cứu Tân Ước lại chính là một linh mục Ca-Tô: John P. Meier, giáo sư
Thần học. Trong tác phẩm Một Người Do Thái
Ở Ngoài Lề, Không Đáng Kể: Nghĩ Lại
Về Nhân Vật Giê-su Lịch Sử (A Marginal Jew: Rethinking The Historical
Jesus), tập 1 và 2, nhà xuất bản Doubleday tại New York phát hành năm 1991 và
1994, với sự duyệt và phê chuẩn (imprimatur) của Vatican, tuy còn dè dặt
trong những điểm tế nhị khác thuộc về đức tin Ca-Tô, linh mục Meier đã
thẳng thắn luận về những bằng chứng chứng tỏ Giê-su là đứa con
hoang, đã lấy vợ, và nhiều chủ đề khác có thể gây ngỡ ngàng trong một
giáo xứ (He discusses evidence that the historical Jesus was illegitimate, that he was
married, and various topics that might raise eyebrows in a parish house). Hơn thế nữa, Meier đồng ý với các đồng
nghiệp trong ngành, bác bỏ những chuyện có tính cách siêu nhiên trong Tân
Ước như là sự thực lịch sử –
Giê-su đi trên sóng, biến đổi nước thành rượu, và các phép lạ khác v..v.. Linh
mục Meier cũng bàn đến một vấn đề quan trọng khác liên hệ đến tín
lý then chốt “Maria đồng trinh” của Ca-Tô giáo, và đưa ra nhiều bằng
chứng trong Thánh Kinh chứng tỏ là bà Maria đã sinh nở ít ra là 7 lần, với
Giê-su là đứa con đầu lòng. Lẽ dĩ
nhiên, tuyệt đại đa số tín đồ Ki Tô không hề biết đến những kết
quả nghiên cứu sâu rộng này. Vậy kết
quả những công cuộc nghiên cứu về nhân vật Giê-su ra sao? Cho đến nay, các chuyên gia về tôn giáo
ở trong cũng như ngoài Ki Tô giáo đã có thể đưa ra một giải đáp khá
chính xác cho câu hỏi "Giê-su là ai?".
Những kết quả nghiên cứu tổng hợp về nhân vật Giê-su đã
cho chúng ta một con người lịch sử hoàn toàn khác với hình ảnh Giê-su
mà các giáo hội Ki Tô đưa ra trước đám đông tín đồ thấp kém. Tại sao vậy?
Chúng ta có thể đọc trong cuốn Sự Thật Về Phúc Âm của Russell Shorto, một
học giả đã nghiên cứu và duyệt qua những công cuộc nghiên cứu về
nhân vật Giê-su trong hai thế kỷ 19 và 20, những
đoạn như sau: Bữa ăn
chiều cuối cùng, Sinh ra từ một trinh nữ, chết rồi sống lại: những niềm tin chính của Ki Tô Giáo đang bị thử thách từng điểm một. Các học giả chuyên nghiên cứu Thánh Kinh
– một thời đã là những người gìn giữ nền Thần học Ki Tô – ngày
nay đang dùng khoa khảo cổ, cổ sinh vật học, ngữ học, khoa học điện
toán, và ngay cả khoa vật lý các hạt nhỏ, để tìm hiểu vấn đề “Giê-su
là ai?” Kết quả là một sự duyệt
lại tận gốc rễ Phúc âm và chuyện trong Phúc âm nay đã trở nên thật
là rõ ràng nhưng lại làm cho một số người choáng váng bàng hoàng. Điều
quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến
cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ
cho phép nghiên cứu (như LM John Meier. TCN),
cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại. 1 ...Công
cuộc nghiên cứu của Hội Nghiên Cứu Giê-su, và của tất cả những nhà nghiên cứu
Thánh Kinh ngày nay, biểu thị cho một sự chuyển hướng của các học giả
chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh về tiêu chuẩn lương thiện văn hóa, lánh
xa sự độc đoán của giáo hội. Theo
Funk (chủ tịch Hội Nghiên Cứu Giê-su. TCN), các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều
thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống
với một ảo tưởng (ảo tưởng tin rằng mình chính là con của Thần
Do Thái và là đấng cứu tinh của dân Do Thái. TCN) – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ
các linh mục và mục sư. Nhưng những
vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản
ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống
trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường. 2 Có ba chi
tiết quan trọng trong đoạn tóm tắt kết quả nghiên cứu về nhân vật
Giê-su của Shorto ở trên: 1) Phần lớn những điều mà ngày nay chúng ta biết
về Giê-su chỉ là huyền thoại; 2) Giáo hội và các bậc lãnh đạo trong
giáo hội đã biết rõ sự thực trên; 3) Chỉ
có những tín đồ Ki-Tô, và có thể những bậc lãnh đạo Ki Tô trong các
nước kém phát triển, hoặc một số người ngoại đạo không hề nghiên
cứu về nhân vật Giê-su, là vẫn còn
tin rằng những gì giáo hội dạy về Giê-su đều là sự thực, và do đó
vẫn tiếp tục sống trong bóng tối. Phải
chăng Shorto đã đưa ra những nhận định vô căn cứ? Tuyệt đối không phải. Chúng ta hãy xét đến vài kết quả nghiên
cứu điển hình về nhân vật Giê-su của một số giám mục, linh mục, học giả chuyên về
tôn giáo: 1. Trong cuốn Giê-su Là Ai ?, học giả Ki Tô Colin Cross
viết như sau trong phần dẫn nhập:
Nhìn từ xa và xét về toàn thể,
Giê-su ở 2. Mục Sư Ernie Bringas cũng viết như sau, trong cuốn
Thi Hành Đúng Như Trong Sách: Những Thảm
Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Do Quyền Lực Thánh Kinh Gây Nên: Điểm
đồng thuận ngày nay là nhân vật lịch sử Giê-su - những lời Giê su nói và những hành động
Giê-su làm, và những biến cố xảy ra trong cuộc đời của ông - không thể
xác định được chính xác. Trong khi
chúng ta biết tác giả của một phúc âm nhìn nhân vật Giêsu như thế nào
như họ đã viết lại, và viết lại như thế nào, thường là chúng ta
không thể đi quá những điều viết trong phúc âm để biết về chính con
người thực của Giê-su. Chúng ta
không thể đoan quyết là những lời nào viết trong phúc âm về cuộc đời
của Giê-su là đúng như sự thực. 4 3. Uta
Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên chiếm được ngôi vị Giáo sư Thần
học Ca-Tô (A Chair in Catholic Theology), viết trong phần dẫn nhập của cuốn
Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con như
sau:
Chúng ta vấp phải sự thực sau đây
về nhân vật Giê-su. Chúng ta không biết
khi nào ông ta sinh ra và ở đâu cũng như khi nào ông ta chết. Ông ta là một người không có một tiểu
sử. Chúng ta không biết những hoạt
động của ông như là một thầy giảng trước quần chúng thật sự đúng
là ở đâu và kéo dài bao lâu. Nói cho
thật đúng, chúng ta chẳng biết gì nhiều hơn là ông ta đã sinh ra đời,
có người theo ông ta làm môn đồ, và ông ta bị hành quyết trên giá hình
chữ thập – loại hình phạt của La Mã – và như vậy có một kết cục
xấu số... Ông
Giê-su này không chỉ nằm sâu dưới đất ở 4. Học giả Andrew Harvey viết trong cuốn Con Của Người: Không
còn nghi ngờ gì nữa, sự phân tích lịch
sử đã chứng tỏ là các phúc âm không phải là những điều do Thần Ki Tô
linh cảm hoặc là những điều trung thực do nhân chứng kể lại về cuộc
đời của Giê-su, mà là những câu chuyện đã được gọt dũa cẩn thận,
được xếp đặt để cho phù hợp với, hoặc cổ xúy những sở thích
tôn giáo, nhân cách, nhóm người khác nhau trong những năm đầu đầy xúc
động của Ki Tô Giáo. Những phúc âm
không phải là những tài liệu viết ra theo sự linh cảm trực tiếp của
Thần thánh, hoặc những ghi chứng lịch sử rõ ràng; chúng không phải là
những điều mạc khải trực tiếp của Thần Ki Tô hoặc là những chuyện
do những nhân chứng, những người biết rõ Giê-su, muốn kể lại rõ ràng
những kinh nghiệm của họ đối với Giê-su.
Được viết vào cuối thế kỷ đầu, chúng biểu thị và cô
đọng những truyền thống trong những cộng đồng Ki Tô đầu tiên và từ
từ biến đổi trong khoảng 300 năm để
thành những phúc âm ngày nay chúng ta có. 6 5. Giám mục
John Shelby Spong viết trong cuốn Sinh Ra Từ Một
Người Đàn Bà: Giê-su
được diễn giảng bởi những tín đồ Ki Tô lúc đầu theo những quan niệm
về Thần Ki Tô mà họ tin tuyệt đối, dựa theo hình ảnh của một ông
vua trên trời. Điểm chủ yếu là
hình ảnh Giê-su ngồi bên phải của cái ngai Chúa Cha ngồi trên trời. Hình ảnh này phản ánh niềm tin huyền thoại
phổ thông thời đó về một vũ trụ được coi như là một vương quốc. Nhưng
Giê-su đã được “sinh ra từ một người đàn bà”. Sự sinh ra đời của Giê-su cũng gây nhiều
tai tiếng như cách ông ta chết. Ông
ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Rồi
giám mục Spong đã vạch ra những luận cứ, nhiều khi rất mâu thuẫn, của
giáo hội đưa ra để thay đổi những sự kiện trên như sau:
Một lần nữa, nghệ thuật diễn giảng lại được mang ra áp dụng. Ông ta
không phải là đứa con hoang, Thần Ki Tô là cha ông ta; Thánh Linh đã sinh
ra ông ta. Ông ta không sinh ra ở Nazareth, mà sinh ra ở Bethlehem, thị trấn của
David. Sự sinh ra ở 6. Trong cuốn Giê-su Chính Gốc, hai tác
giả Elmar R. Gruber và Holger Kersten viết: Hầu như
không có đề tài nào khác gây sôi nổi trong thế giới Tây phương như là
nhân vật “Giê-su ở Nazareth”; hầu như không có đề tài nào khác đã
đưa đến sự hiện hữu của nhiều cuốn sách như vậy, hoặc đến những
sự tranh luận sôi nổi và nồng nhiệt như vậy.
Tuy vậy, nhân cách của con người Giê-su lịch sử được bao
phủ bởi một bức màn đen tối dày đặc. Trong
15 thế kỷ, chúng ta chỉ có những chuyện kể về Giê-su theo luận điệu
thần học chính thức của giáo hội, viết ra với mục đích củng cố đức
tin Ki-Tô cùng lôi cuốn người ngoại đạo vào Ki Tô giáo.... Trong thế
kỷ 19, lần đầu tiên Tân Ước được đưa ra làm chủ đề nghiên cứu
trí thức. Đây là sự bắt đầu của
công cuộc khảo cứu có hệ thống về cuộc đời của Giê-su. Năm 1835 David Friedrich Strauss đã xuất bản một
cuốn sách nhan đề Cuộc Đời Của Giê-su, gây nhiều
ảnh hưởng. Trang bị với những quan
điểm phân tích thuần lý và với tinh thần không thỏa hiệp, Strauss đã
thẳng thắn bác bỏ tích cách chính xác lịch sử của các phúc âm. Đối với ông, những điều viết trong phúc
âm chỉ là những truyền thuyết và những
chuyện sùng tín về hình ảnh con người Giê-su, lấy ý từ Cựu Ước. Sự chống đối tính cách xác thực của
phúc âm như trên còn đi xa hơn vào khoảng giữa thế kỷ 19. Bruno Bauer loại hẳn hình ảnh của Giê-su
trong công việc nghiên cứu lịch sử,
tuyên bố rằng nhân vật chính trong Tân Ước là một phát minh huyền thoại. Giê-su và Paul (Phao Lồ) chỉ là những giả
tượng văn chương; và Ki Tô Giáo được coi là tạo ra bởi một nhóm cuồng
tín pha chế đức tin xung quanh hai nhân
vật phát minh từ những truyền thống tôn giáo Hi Lạp, Do Thái và La Mã. Ngày
nay chúng ta có đến hơn 80000 tác phẩm chuyên khảo về Giê-su, nhưng tác dụng
của chúng để soi sáng nhân vật Giê-su lịch sử thật quả là vô cùng
khiêm nhường. Ai là Giê-su? Ông ta sinh ra bao giờ? Hình dáng ông ta ra sao? Khi nào ông ta bị đóng đinh trên thập
giá? Bao giờ, ở đâu và ông ta chết
như thế nào? Tìm kiếm giải đáp cho
những câu hỏi trên đã trở thành một vấn đề không giải quyết nổi. Trong những cuốn sách viết trong hai thế kỷ
đầu hầu như không có cuốn nào nhắc đến Giê-su như là một con người
thực sự hiện hữu. Những nguồn tài
liệu về sau toàn là những tác phẩm thần học, dựa trên niềm tin không
thắc mắc: Giê-su là con đấng Cứu Tinh (của dân Do Thái. TCN) và là con của Thần Gia-vê (thần của
dân Do Thái. TCN).
Do đó, hầu như không có những tác phẩm thực sự vô tư về
Giê-su, và cho tới ngày nay, công cuộc nghiên cứu trí thức cũng không ở
vị thế có thể khẳng định là Giê-su sinh ra năm nào. Hầu như không có tài liệu nào nói về cuộc
đời niên thiếu của Giê-su, một giai đoạn quan trọng làm nền tảng tạo
ra những cá tính của con người. Ngay
cả những chuyện kể về khoảng thời gian ngắn ngủi ông ta tiếp xúc với
quần chúng cũng không nói gì nhiều về tiểu sử của ông ta. Có vẻ như là ông ta không được các sử
gia đương thời biết tới, hay ít nhất là không đáng để nhắc tới. Vậy làm sao mà các sử gia này không hề
biết tới những phép lạ hoặc những hiện tượng kỳ lạ như được kể
trong phúc âm? 9 7. Michael Martin
trong cuốn Bản Án Chống Ki Tô Giáo viết: Những phương
pháp phân tích hiện đại về học thuật khảo cứu Thánh Kinh đã đặt vấn
đề về tính cách xác thực của Thánh Kinh, nhất là Tân ước. Trong ánh sáng của sự phân tích Tân Ước
này, nhiều nhà thần học đã cho rằng người ta chẳng biết được bao
nhiêu về Giê-su. Thí dụ, W. Trilling
cho rằng “không có một ngày tháng nào trong đời sống của Giê-su” có
thể được khẳng định và J. Kahl đoan quyết rằng điều duy nhất ta biết
về Giê-su là ông ta “đã hiện hữu trong một thời điểm mà chúng ta chỉ
có thể biết một cách đại khái”. Nhiều
học giả khác cho rằng việc tìm kiếm một Giê-su lịch sử là điều vô
vọng.. Sự
phân tích về con người Giê-su lịch sử được tôn trọng nhất ngày nay
là của G. A. Wells. Wells nhấn mạnh rằng
những nghi vấn về giá trị lịch sử của Giê-su của ông phần lớn dựa
trên những quan điểm của các nhà thần học Ki Tô và các học giả
chuyên về Thánh Kinh. Những vị này đồng
thuận chấp nhận rằng các phúc âm được viết trong khoảng từ 40 đến
80 năm sau khi Giê-su mãn kiếp và bởi những tác giả vô danh không đích
thân biết đến Giê-su. Theo Wells thì
những vị trên cũng thừa nhận rằng trong những chuyện kể về Giê-su, phần
lớn là truyền thuyết và những chuyện trong phúc âm được viết theo động
cơ thần học của những tác giả. Ngoài
ra, những bằng chứng trong phúc âm thuần túy là của Ki Tô Giáo. 10
Trên đây
chỉ là vài nhận định tổng quát về tiểu sử
không rõ ràng của Giêsu. Sở
dĩ những học giả nghiên cứu về nhân vật Giê-su đưa ra những nhận định
như trên là vì họ đã dùng những phương pháp khảo cứu phân tích khoa học
trên mọi khía cạnh liên quan đến con người Giê-su, thí dụ như đối chiếu
cổ sử, phân tích cổ ngữ, phân tích từng câu từng lời trong Thánh Kinh
v..v.. Đi vào chi tiết và dựa trên Thánh Kinh, chúng ta còn thấy rõ ràng
là không có một căn bản nào có tính cách thuyết phục để cho những
người có đầu óc có thể biết được Giê-su là ai để mà tin, vì trong
Thánh Kinh có quá nhiều điều mâu thuẫn về con người lịch sử Giê su. Những chi tiết về một phần nhỏ, trong
khoảng 3 năm cuối cùng của cuộc đời ngắn ngủi 33 năm của Giê-su được
mô tả trong bốn Phúc Âm Matthew (Mã Thi Ơ), Mark (Mác-cô), Luke (Lưu Ca) , và
John (Gioan), và những thư viết cho tông đồ của Paul (Phao Lồ). Nhưng chính
những chi tiết này: khi sinh ra đời, gia phả, thời gian gần 3 năm đi giảng
đạo, khi chết, đều hoàn toàn mâu thuẫn nhau.
Vì chúng hoàn toàn mâu thuẫn nhau, chứ không phải là bổ túc
cho nhau theo như luận điệu bào chữa của một số tín đồ được dạy
như vậy mà không tự chính mình đọc Thánh Kinh với một đầu óc suy luận,
cho nên, chúng ta không thể dựa vào đâu để tin chi tiết nào thật, chi tiết
nào giả. Sau đây, tôi xin trích dẫn
vài đoạn trong Thánh Kinh liên quan đến sự sinh ra và gia hệ của Giê-su
để cho quý độc giả thấy rõ vấn đề. Trước hết,
chúng ta cần ghi nhận rằng, ngày nay những người nghiên cứu Tân Ước, ở trong cũng như
ở ngoài giáo hội, đều đồng ý với nhau ở những điểm sau
đây: 1. Những thư của
Paul được viết vào khoảng 20 năm sau khi Giê-su chết và không hề viết
gì về cuộc đời của Giê-su: nơi
sinh, nơi giảng đạo, nơi bị hành hình v..v.. và còn viết rằng Giê-su là
con của Joseph và Maria, một người đàn bà (born of a woman). 2. Trong 4 phúc
âm thì phúc âm Mark được viết sớm nhất, vào khoảng 40 năm sau khi Giê-su
chết, và Mark cũng không viết gì về sự sinh ra của Giê-su từ một trinh
nữ cũng như về gia hệ của Giê-su. 3. Hai phúc âm
Matthew và Luke được viết vào khoảng cuối thế kỷ đầu, nghĩa là khoảng
70 năm sau khi Giê-su chết. 90 phần trăm
nội dung là lấy của Mark và thêm vào đó chuyện Giê-su được sinh ra từ
Maria đồng trinh và viết về gia hệ của Giê-su.
Thêm vào với mục đích gì, ngày nay các học giả nghiên cứu
Thánh Kinh đã rõ. 4. Phúc âm John
được viết vào đầu thế kỷ thứ hai, có thể gần 100 năm sau khi Giê-su
chết, và cũng không viết gì về sự sinh ra của Giê-su. 5. Cả 5 tác giả
trên đều không phải là tông đồ của Giê-su, không trực tiếp biết
Giê-su là ai, cho nên chỉ viết lại những chuyện đồn đại theo ý kiến
và chủ đích riêng của mình. Như trên
đã nói, trong Tân Ước chỉ có hai Phúc Âm Matthew và Luke là nói về sự
sinh ra của Giê-su. Phúc Âm Matthew
(MaThiêu) kể như sau, Matthew 1: 18-24:
Sự sinh ra của Giê-su Ki Tô như sau:
Sau khi mẹ Giê-su là Mary đính hôn với Joseph, trước khi họ giao hợp cùng
nhau, người ta thấy bà có mang với Thánh Linh. Chồng
nàng, Joseph, là người tốt bụng, và không muốn nàng bị nhục trước công
chúng, định kín đáo từ hôn. Nhưng khi
ông còn đang suy nghĩ về quyết định này, bỗng nhiên, một thiên sứ hiện
ra trong một giấc mộng, nói rằng, “Joseph, con dòng David, đừng có sợ, cứ
lấy Mary làm vợ, vì cái thai nàng mang trong bụng là của Thánh Linh. Rồi nàng sẽ sinh ra một đứa con trai,
ngươi hãy đặt tên cho nó là Giê-su, vì nó sẽ cứu dân của nó khỏi tội
lỗi. Việc xảy
ra đúng như lời Thần Ki Tô tiên đoán qua nhà tiên tri: “Này, một
trinh nữ sẽ mang thai, sinh hạ một con trai, và họ sẽ đặt tên cho hắn là Immanuel”, có nghĩa
là “Thần ở cùng ta”. Joseph tỉnh
giậy, theo lệnh của thiên sứ, cưới Mary làm vợ, nhưng không giao hợp
cùng vợ cho đến khi Mary sinh đứa con đầu lòng, đặt tên là Giê su. Còn phúc
âm Luke 1: 26- 33 thì thuật lại chuyện sinh ra của Giê-su như sau:
Qua tháng sáu, Thần Ki Tô sai thiên sứ
Gabriel vào thành Nazareth, xứ Galilee, đến một trinh nữ đã hứa hôn với
một người tên là Joseph, thuộc dòng dõi vua David. Tên người trinh nữ là
Mary. Thiên sứ
nói: “Hãy hoan hỉ lên, hỡi người được đặc ân, Chúa ở cùng nàng,
phúc cho người đàn bà như nàng.” Nhưng khi
Mary thấy thiên sứ, không hiểu thiên sứ nói gì, và những lời chúc tụng
kia có nghĩa gì. Rồi
thiên sứ nói với nàng, “Đừng sợ, Mary, vì Thần đã ban đặc ân cho
nàng. Và này, cô sẽ mang thai, và sinh
ra một con trai và đặt tên nó là Giê-su. Đứa
trẻ đó sẽ thành vĩ nhân, và sẽ được gọi là con của đấng tối cao;
và Thần sẽ cho hắn ngôi vị của David. Hắn
sẽ cai trị dân Do Thái (hậu duệ của Jacob)
mãi mãi, và nước hắn cai trị sẽ bất diệt. Thông điệp
như trên của Thần Gia-vê qua thiên sứ thật ra chỉ do Luke bịa ra để
khuyến dụ dân Do Thái tin theo Giê-su, vì những điều thiên sứ nói về
Giê-su hoàn toàn sai với sự thực. Giê-su
chẳng bao giờ cai trị dân Do Thái và dân Do Thái cũng chẳng bao giờ chấp
nhận Giê-su là Vua của dân Do Thái giống như David khi trước. Không những
thế, dân Do Thái thời Giê-su còn cho ông ta là kẻ phỉ báng Thần Gia-vê,
tự xưng là con của Thần, là Vua của dân Do Thái, là vị cứu tinh của
dân Do Thái v..v.. Và cho đến ngày nay,
dân Do Thái, dân được Thần Gia-vê chọn lựa làm dân của Thần (chosen
people), vẫn không chấp nhận Giê-su, vì vậy mà suốt 2000 năm nay, giáo hội
Ca-Tô mới thù hận và tìm mọi cách để bách hại dân Do Thái. Vậy, nếu chúng ta đối chiếu lời của
Thiên sứ, thay mặt Thần Gia Vê, trong đoạn loan báo cho Mary ở trên, với
thực tế, thì chúng ta phải kết luận là những lời “tiên tri” của Thần
Gia-vê hoàn toàn sai, vì không hề xảy ra. Vậy chúng ta có thể chấp nhận
những thuộc tính toàn năng, toàn trí của Thần Gia Vê mà giáo hội đã cấy
vào đầu tín đồ hay không? Mặt khác, đọc kỹ Thánh Kinh chúng ta thấy rằng
chuyện thiên sứ “báo mộng” cho Joseph xảy ra khi Maria đã có mang được
6 tháng, và Maria không hề nói cho Joseph biết cái thai trong bụng mình từ
đâu mà ra. Tại sao Maria phải dấu chồng
khi mà bà được ân sủng đặc biệt của Thánh Linh khiến bà mang thai? Nhưng ở
đây, tôi sẽ không đi vào công việc phân tích những đoạn trên trong
Thánh Kinh. Sự phân tích này, tôi đã
trình bày tạm gọi là đầy đủ trong Chương 2 của cuốn Đức Tin Công Giáo, Giao Điểm xuất bản
cuối năm 2000. Tôi trích dẫn những
đoạn trên trong phúc âm Matthew và Luke chỉ để chứng minh một sự mâu
thuẫn cùng cực trong hai phúc âm trên, khi Matthew và Luke kể về dòng dõi,
gia hệ của Giê-su, cho rằng Giê-su thuộc dòng dõi vua David, những chi tiết
hoàn toàn bất phù hợp với chuyện Maria mang thai của Thánh Linh ở trên. Thật vậy,
theo Matthew 1:1-17 thì các thế hệ tiếp nối giòng họ Giê-su từ vua David
như sau: David, Solomon, Rehoboam, Abijah, Asa, Jehoshaphat,
Jehoram, Uziah, Jotham, Ahaz, Hezekiah, Manasseh, Amon, Josiah, Jeconiah, Shealtiel, Zerubbabel,
Abiud, Eliakim, Azor, Zadok, Akim, Eliud, Eleazar, Matthan, Jacob, Joseph, Jesus.(tất cả là 27 thế hệ.) Nhưng
theo Luke 3:23-28 thì các thế hệ tiếp nối từ vua David tới Giê-su như sau: David, Nathan, Matthata, Menna, Melea, Eliakim, Jonam,
Joseph, Judah, Simeon, Levi, Matthat, Jorim, Eliezer, Joshua,, Er, Elmadam, Cosam, Addi,
Melki, Neri, Shealtiel, Zerubbabel, Rhesa, Joanan, Joda, Josech, Semein,
Matthathias. Maath, Naggai, Esli, Nahum, Amos, Matthathias, Joses, Jannai, Melki, Leci,
Matthat, Eli, Joseph, Jesus. (tất cả là
42 thế hệ.) Chúng ta
nên để ý rằng, trong 2 danh sách trên kể về dòng dõi của Giê-su, chỉ
có ba tên giống nhau (chữ đậm), còn thì hoàn toàn khác biệt, và Matthew kê ra 27 thế hệ trong khi Luke kê
ra 42 thế hệ. Nếu những tên thế hệ
đều giống nhau thì chúng ta có thể cho rằng Matthew bỏ sót, liệt kê
cách quãng những thế hệ tiếp nối từ David đến Giê-su. Nhưng rõ ràng là không phải vậy. Một vài
nhà thần học Ki Tô đã đưa ra một cách giải thích có tính cách ngụy biện
nhưng không được thông minh cho lắm. Đó
là gia phả của Giê-su theo Luke là theo dòng họ mẹ, nghĩa là Maria, chứ
không phải là dòng họ bố là Joseph. Nghiên
cứu về cổ sử và truyền thống Do Thái, các học giả đã bác bỏ lý luận
ngụy biện này. Thật vậy, cả Matthew
và Luke đều ghi Giê-su thuộc dòng dõi cha là Joseph chứ không ghi Giê-su thuộc
dòng họ mẹ là Maria. Ngoài ra, luận
điệu ngụy biện trên không hề để ý đến sự kiện là gia phả của
Maria trong Luke, nếu thực là như vậy, lại nhiều hơn gia phả của Joseph tới
15 thế hệ, tính trung bình từ 20 đến 30 năm một thế hệ thì sự khác
biệt này, bắt đầu từ vua David, là từ 300 năm đến 450 năm. Nhưng khi hứa hôn với Joseph thì Joseph đã
nhiều tuổi, còn Maria mới có khoảng 14, 15 tuổi.
Kết luận: dòng họ Joseph toàn những người sống dai, còn
dòng họ Maria toàn những người chết non, chết yểu. Đó là những điều
mâu thuẫn phi lý mà giáo hội không sao giải thích nổi. Tuy vậy mà nhiều tín đồ Ca Tô Việt Vậy khi
những tín đồ Ki Tô nói đến “Chúa tôi” thì “Chúa tôi” của họ
là Giê-su nào, và Giê-su nào của Matthew, hay Giê-su nào của Luke? vì cả Matthew lẫn Luke đều viết Giê-su vừa là con của Thánh
Linh vừa thuộc dòng dõi vua David, hai điều hoàn toàn mâu thuẫn có tính
cách loại trừ hỗ tương, có cái này thì không thể có cái kia? Có lẽ họ chẳng bao giờ bận tâm thắc mắc
đến mâu thuẫn trên, vì Giáo hội dạy rằng, mọi thắc mắc về Chúa
Giê-su là một trọng tội, phải bị đầy đọa nơi hỏa ngục trong ngọn
lửa thiêu đốt vĩnh hằng. Thomas
Paine đã phân tích sự bất phù hợp trên trong
cuốn Thời Đại Lý Trí, một cuốn
sách đã giữ một địa vị cao trong nền văn học Tây phương từ thế kỷ
19 đến nay, về nhân vật Giê- su:
Lịch sử Giêsu KiTô được viết
trong 4 cuốn mà người ta cho là Matthew, Mark, Luke, và John viết. Chương đầu
trong Matthew bắt đầu bằng gia hệ của Giêsu KiTô, và trong chương 3 của
Luke cũng có gia hệ của Giêsu KiTô. Nếu
2 gia hệ này phù hợp nhau, chúng cũng không chứng minh được là đúng vì
đó có thể là một gia hệ đã được đặt ra; nhưng vì chúng mâu thuẫn
nhau về từng chi tiết một, điều này chứng tỏ một cách tuyệt đối là
chúng đều là giả. Nếu
Matthew đúng thì Luke phải sai; nếu Luke đúng thì Matthew phải sai; và vì
không thể dựa vào đâu để tin ai đúng hơn ai, cho nên không dựa vào đâu
để mà tin ai; và nếu chúng ta không thể tin được điều đầu tiên mà họ
đưa ra, làm sao chúng ta có thể tin được những điều họ nói về sau? Nếu chúng ta không thể tin họ về gia hệ
của Giêsu mà họ đưa ra, làm sao chúng ta có thể tin được khi họ nói với
chúng ta những điều kỳ lạ như Giê su là con của Thần sinh ra bởi một
hồn ma, và một thiên thần đã bí mật loan báo sự này cho mẹ của
Giêsu? 11 Lý lịch
không rõ ràng của Giê-su, do đó, là một lợi điểm để cho Giáo hội
khai thác và mê hoặc tín đồ, vì Giáo hội muốn giải thích thế nào cũng
được, đặt ra chuyện nào cũng xong, và với phương pháp nhồi sọ tín đồ ngay từ khi còn nhỏ,
uốn nắn đầu óc để cho tín đồ tuân phục hệ thống quyền lực trong
Giáo hội, tín đồ trở thành những người bị điều kiện hóa, không
còn khả năng suy luận, chỉ còn biết tin theo một cách mù quáng mọi điều
diễn giảng của Giáo hội, bất kể những điều này vô lý đến đâu,
mâu thuẫn đến đâu, không hề thắc mắc. Họ
đáng thương hơn là đáng trách. Và sự
kiện thê thảm này không chỉ có trong đám tín đồ đầu óc thấp kém mà
còn có thể thấy rõ trong một số được coi là trí thức, giữ chức vụ
cao trong Ca-Tô giáo Việt Nam, nếu chúng ta đọc về đức tin Ca-Tô mà họ
trình bày trong những bài viết hay tác phẩm của họ. Sau đây
là một thí dụ điển hình: Trong cuốn
Chứng Nhân Hy Vọng: Các Bài Giảng Tĩnh Tâm
Cho Đức Thánh Cha Và Giáo Triều Roma của TGM Nguyễn Văn Thuận, Công
Đoàn Đức Mẹ xuất bản năm 2000, tác giả mở đầu cuốn sách bằng Bài Suy Niệm Dẫn Nhập: Gia Phả Đức Giêsu
Kitô Đứng Trước Mầu Nhiệm Thiên Chúa, trang 25-34. Tác giả Nguyễn Văn Thuận chỉ nhắc đến
gia phả Giê-su trong Matthew mà thôi và đặc biệt là, để biện minh cho những
sự kiện được viết trong Thánh Kinh là trong gia phả của Giê-su có nhiều
người vô đạo đức, phi luân, tác giả đã đưa ra một luận điệu thần
học có tính cách ngụy biện để biện minh cho những sự kiện không mấy
tốt đẹp này. Tác giả viết, trang
28:
“...sự chọn lựa của Thiên Chúa
có tính cách nhưng không và đầy tình thương (??không hiểu tác giả muốn
nói gì. TCN), không thể hiểu được theo những
lý luận của lý trí.” hàm ý dùng lý trí và lý luận thì không thể hiểu
được Thánh Kinh, chỉ có đức tin Ca-Tô, nghĩa là tin vào những điều giáo
hội giảng dạy về Thánh Kinh thì mới hiểu được Thánh kinh muốn viết
gì và do đó hiểu được Thiên Chúa. Viết
như trên, ông Nguyễn Văn Thuận tưởng rằng như vậy là tôn vinh Thiên
Chúa mà không biết rằng chính mình đang mạ lỵ Thiên Chúa. Đúng vậy,
theo Ca Tô Giáo, Thiên Chúa "sáng tạo" ra con người theo hình ảnh của
Thiên Chúa, nghĩa là có đầy đủ đầu óc và lý trí để có thể cảm nhận
những điều mặc khải của Thiên Chúa. Rồi
Adam cưỡng điều cấm của Thiên Chúa, ăn một trái cây trên cây hiểu biết,
do đó đầu óc con người đã trở thành không thua gì Thiên Chúa, có khả
năng phân biệt Thiện Ác. Nhưng tình
thương qua những việc làm của Thiên Chúa con người lại không hiểu được
bằng đầu óc hay lý trí. Ai cũng biết
những người không biết xử dụng đến đầu óc hay lý trí là những người
ngu. Vậy hóa ra việc làm của Thiên
Chúa chỉ để cho những người ngu tin theo hay sao?
Vậy Thiên Chúa của những người ngu có giá trị gì đối với
những người không ngu, nghĩa là biết xử dụng đến đầu óc và lý trí? Luận điệu dùng lý luận của lý trí
không thể hiểu được những việc làm của Thiên Chúa chẳng qua chỉ là
luận điệu của thời sơ khai. Bởi
vì ngày nay, sự hiểu biết của con người đã vượt quá xa sự hiểu biết
của Thiên Chúa như được viết trong Thánh Kinh.
Những kiến thức của con người ngày nay về khoa học, y học,
vũ trụ học, sinh học v..v.. đã bỏ xa những kiến thức của Thiên Chúa
trong Thánh Kinh. Sự kiện này đã quá
hiển nhiên, chẳng cần phải chứng minh. Nhưng sự
chọn lựa của Thiên Chúa mà chúng ta không thể hiểu được bằng lý trí
là như thế nào? TGM Nguyễn Văn Thuận
giải thích: Abraham bỏ trưởng lập thứ, rồi đến Isaac, con của Abraham,
cũng bỏ trưởng lập thứ, rồi đến Jacob, cháu của Abraham, cũng phế bỏ
ba đứa con đầu, lập đứa con thứ tư là Judah, và tất cả sự chọn lựa
trên là do “ý định mầu nhiệm của Thiên
Chúa”. Ông giải thích thêm: “Chúng
ta không được lựa chọn vì công trạng của mình, nhưng chỉ vì lòng từ bi (sic)
của Chúa.” Trước hết,
chúng ta nên để ý là ông Nguyễn Văn Thuận đã "mượn" danh từ
"từ bi" trong Phật Giáo để dịch chữ "grace" nghe cho nó
có vẻ Việt Nam, chứ thực ra "grace" có nghĩa là ân sủng hay ân
huệ mà Thiên Chúa ban cho loài người. Nền
Thần Học Ki-Tô đưa ra quan niệm là "Chúng ta được cứu rỗi chỉ bởi
ân huệ của Thiên Chúa mà thôi" (Xin đọc, thí dụ, Karl Barth: We are
saved "sola gratia" - "only by
grace", without any works of our own). Ngoài
các tín đồ không bao giờ cần đến đầu óc của mình, nếu có, và tuyệt
đối tuân phục các cấp lãnh đạo trong Ca Tô Giáo, có ai nghe lọt tai những lời
giải thích đầy tính cách huyền hoặc, ngụy biện và phi lý
như trên? Thứ nhất, chuyện bỏ trưởng
lập thứ là chuyện thường tình thế gian, chúng ta thấy đầy dẫy trong lịch
sử Tàu, Ta, những dân tộc không hề biết đến và không hề tin vào một
Thiên Chúa hữu danh vô thực.. Vậy tất
cả đều là ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa cả hay sao? Thứ
nhì, Thiên Chúa chọn lựa vì lòng "từ bi" (sic) thật hay sao? Từ là cho vui và bi là cứu khổ. Thiên Chúa bỏ người này, chọn người
kia, bản chất đã là một hành động thiên vị, vì nếu bảo rằng đó
là thể hiện lòng từ bi đối với người được chọn, thì đối với
người bị loại bỏ một cách bất công Thiên Chúa đã thể hiện lòng
gì? Mặt khác, Thiên Chúa lựa chọn tùy hứng, không dựa trên căn bản đạo
đức hay công trạng, vậy thì chúng ta cứ việc làm ác rồi ngồi há miệng
chờ quả sung từ bi của Thiên Chúa thì có được hay không? Sau cùng, Thiên Chúa đã sáng tạo ra con người
theo hình ảnh của Thiên Chúa (thuyết sáng tạo này ngày nay đã không còn
chỗ đứng trong thế giới của khoa học) thì mọi người đều phải bình
đẳng trước Thiên Chúa, tại sao Thiên Chúa lại phải nhúng tay vào chuyện
chọn người kế vị của vài ông vua Do Thái vô đạo đức? Tại sao Thiên
Chúa lại vướng mắc vào cảnh "con yêu, con ghét" của người thường? Viết lên một câu
phi-lôgic mà nội dung có
tính cách mạ lỵ Thiên Chúa mà ông TGM cũng
viết lên được thì chúng ta phải hiểu đầu óc của ông
TGM đã được giáo hội cho vào khuôn phép như thế nào? Nói tóm lại, cách giải thích theo luận
điệu Thần học của TGM Nguyễn Văn Thuận chỉ là một lối ngụy biện
không thuận lý. Điều này chúng
ta có thể thấy rõ nếu chúng ta đọc
tiếp cách “giải thích một chiều” của ông.
Nơi trang 30-31, ông viết tiếp: Nơi
Đavit, người nổi danh nhất trong các vua đã sinh ra đấng Messia (nghĩa
là Giê-su. TCN), sự thánh thiện và tội lỗi
xen lẫn nhau: với nước mắt cay đắng, ngài xưng thú trong Thánh vịnh các
tội ngoại tình và sát nhân, nhất là trong Thánh vịnh 50, một ca vịnh trở
thành kinh nguyện thống hối thường được dùng trong phụng vụ của giáo
hội.. Cả những
phụ nữ mà Mathêu nêu tên trong đầu sách Tin Mừng của ngài như những
người mẹ thông truyền sự sống, từ cung lòng phúc lành của Thiên Chúa,
cũng gợi lên nơi chúng ta một sự xúc động.
Tất cả họ đều là những phu nữ ở trong những hoàn cảnh bất
hợp lệ: Tamar là một phụ nữ tội lỗi, Racab là một gái mãi dâm, Rut
là một người ngoại bang và về người phụ nữ thứ tư, người ta không
dám nêu danh, và chỉ nói “đó là vợ của ông Uria”. Người đàn bà đó chính là bà Betsabea mà
vua Đavit đã ngoại tình. Tuy nhiên,
dòng lịch sử tràn đầy tội lỗi và tội
ác như thế đã trở thành một nguồn nước trong (sic), khi càng đến gần
thời gian sung mãn: đến đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và đến Chúa Giêsu, Đấng
Messia. Nơi các Ngài tất cả các thế
hệ được cứu chuộc. Danh
sách những
người tội lỗi mà Mathêu nêu rõ trong gia phả của Chúa Giêsu
không được gây gương mù cho chúng ta. Trái
lại, gia phả ấy tuyên dương mầu nhiệm Thiên Chúa. Cả trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã chọn
Phêrô, người đã chối ngài, và chọn Phaolô, người đã bách hại Ngài. Vậy mà các vị lại trở thành cột trụ
của giáo hội. Trong thế gian, khi một
dân tộc viết lịch sử chính thức của mình, họ thường nói về những
chiến thắng đã đạt được, những vị anh hùng, hoặc sự cao cả của
mình...Quả là một trường hợp duy nhất, đáng ngưỡng mộ và tuyệt vời,
khi thấy một dân tộc không hề dấu diếm những tội lỗi của tiền
nhân trong lịch sử chính thức của mình. Chỉ bằng
vào một đoạn văn ngắn ở trên, chúng ta đã có thể thấy rõ ràng đạo
Ca-Tô Rô Ma đã thành công trong việc nhồi sọ, uốn nắn đầu óc tín đồ
như thế nào, từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao. Cao như ông TGM Nguyễn Văn Thuận là cùng,
nay đã lên đến tột đỉnh danh vọng của Ca Tô Giáo với chức Hồng Y,
và sắp sửa lên làm Giáo Hoàng theo hi vọng của một số tín đồ có đầu
nhưng không có óc. Nhưng tôi xin hỏi
ông vài câu: Bằng cách nào mà dòng lịch sử
tràn đầy tội lỗi và tội ác như thế đã trở thành một nguồn nước
trong, thưa ông Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận? Dù bà Maria và Giê-su có được môn thần
học Ki Tô Giáo đôn lên thành những nhân vật thánh thiện thì cái "dòng lịch sử tràn đầy tội lỗi và tội
ác như thế" luôn luôn vẫn là một dòng lịch sử tràn đầy tội
lỗi và tội ác. Một cá nhân có thể ăn năn sám hối những tội lỗi của
mình và nguyện sẽ không tái phạm những tội lỗi đó nữa, tâm hồn được
yên ổn, nhưng tội lỗi vẫn luôn luôn là tội lỗi và vẫn phải gánh chịu
nghiệp quả của những tội lỗi đó. Một
linh mục can tội cưỡng bức tình dục trẻ em có thể ăn năn thống hối
để Chúa "rửa sạch tội lỗi" cho, nhưng vẫn phải vào tù để
đền tội thế gian, và cái tội ông ta phạm vẫn được ghi trong hồ sơ cá
nhân của ông ta. Sự xóa bỏ tội lỗi
của Chúa thật sự vô giá trị trước pháp luật thế gian. Huống chi là những sự kiện lịch sử của
một dân tộc, mà đây lại là dân tộc Do Thái, chẳng liên hệ gì tới
dân tộc Việt Viết
như trên, phải chăng ông Nguyễn Văn Thuận hi vọng có thể dùng một luận
điệu thần học ngụy biện để thay đổi những sự kiện lịch sử đã
ghi trong sử sách? Luận điệu này chỉ để nói cho những "bà lão
công giáo nhà quê" của linh mục Thiện Cẩm ở Bùi Chu, Phát Diệm, Hố
Nai, Gia Kiệm, và một số ở Houston, Bolsa, San Jose v..v.., ngoài ra ông định
nói cho ai nghe? Đây không phải là nơi
phê bình văn phong hay tư tưởng, nếu có, của ông Tổng Giám Mục Nguyễn
Văn Thuận, nên sau đây tôi chỉ đưa ra vài nhận xét ngắn ngủi về đoạn
văn trên để trình bày cùng quý độc giả thấy rõ thế nào là đầu óc
của một tín đồ Ca-Tô Việt Nam, dù ở địa vị cao trong hàng Giáo Phẩm,
và thế nào là luận điệu Thần học ngụy biện để lừa dối tín đồ. Thứ nhất,
trong lịch sử Do Thái, David được coi là người có công mở mang nước Do
Thái và mang đến cho Do Thái một thời đại hùng cường. Nhưng tư cách và đời sống của David thì
không có gì có thể gọi là thánh thiện cả.
Hắn là một tên bạo chúa, hiếu sát và hoang dâm, tuy vậy đối
với dân Do Thái hắn vẫn là một vị vua nổi danh trong Cựu Ước. Tuy nhiên, hắn
không thể nào là “người nổi danh nhất
trong các vua đã sinh ra đấng Messia (nghĩa là Giê-su. TCN.)” như TGM Nguyễn
Văn Thuận đã viết, vì như tôi đã trích dẫn từ Thánh Kinh ở trên: từ David tới Giê-su là 27 thế hệ theo Matthew,
và 42 thế hệ theo Luke, cho nên chúng ta không thể dựa vào đâu để mà
quyết định gia phả nào là của Giê-su. Hơn
nữa, điều khẳng định của ông Nguyễn Văn Thuận về vua David ở trên lại
đương nhiên bác bỏ thuyết Giê-su là con của Thiên Chúa do Thánh Linh xâm
nhập bất hợp pháp vào bà Maria mà sinh ra như sẽ được trình bày rõ hơn
trong một đoạn sau. David
không những mắc tội ngoại tình với Bathsheba, vợ của Uriah, một tướng
dưới trướng của David, mà còn dùng quyền lực cướp vợ của Uriah bằng
cách gửi Uriah ra mặt trận với lệnh ngầm cho viên chỉ huy mặt trận là
Joab phải làm sao để cho Uriah không được sống sót. Tội lỗi của David thì đầy ra đấy,
nhưng thánh thiện ở chỗ nào thì không thấy trong Thánh Kinh, và TGM Thuận
cũng không cho độc giả biết David thánh thiện như thế nào. Trong phần Phụ Lục, quý độc giả sẽ biết
rõ hơn về nhân vật David trong Cựu Ước. Thứ nhì, trong Thánh Kinh
chẳng có chỗ nào viết là “với nước mắt cay đắng, ngài (từ “ngài”
TGM Nguyễn Văn Thuận dùng để gọi một tên sát nhân hoang dâm vô đạo đức
như David) ăn năn trong Thánh vịnh (Psalms) hay Thi Thiên các tội ngoại tình
và sát nhân..” “Thánh vịnh” là một
tập hợp 150 bài thơ dài ngắn khác nhau mà nội dung là những lời rên rỉ,
ca thán, vò đầu bứt tai, của những kẻ loạn thần kinh, bài nào cũng buồn
chán như bài nào (Xin đọc The Happy Heretic
của Judith Hayes, p. 131: Psalms: This is
one long, whining, grousing, hand-wringing, neurotic harangue. There are 150 chapters,
each as depressing as the next.), và “Thánh vịnh 50” là thơ của Asaph làm chứ
không phải của David. Có lẽ ông đã lầm với "Thánh vịnh 51" vì
Thánh vịnh này mới là những lời ăn năn thống hối của David rên rỉ cầu
nguyện Chúa Cha (không phải là Giê-su) tha cho những tội ác đã phạm tuy
thực tế cho thấy rằng chẳng làm gì có Chúa và Chúa cũng chẳng có quyền
gì để mà tha tội (Psalm 51: 1-4: Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy thương xót
tôi tùy lòng nhân từ của Chúa; Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ
bi rất lớn của Chúa. Xin hãy rửa
tôi cho sạch hết trọi gian-ác, và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi
tôi. Vì tôi nhận biết các sự vi phạm
của tôi, tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi.
Tôi đã phạm tội cùng Chúa,
chỉ cùng một mình Chúa thôi, và làm điều ác trước mặt Chúa ..) Có lẽ những lời ăn năn thống hối cùng
Chúa này chỉ có một mục đích: đó là hi vọng được Chúa tha thứ để
rồi sau khi chết sẽ được lên thiên
đường sống cuộc sống đời đời cùng Chúa.
Nhưng đó là niềm tin của những người Do Thái cách đây hơn
2000 năm. Với trình độ hiểu biết của
nhân loại ngày nay thì đến Giáo Hoàng John Paul II cũng phải thú nhận rằng
chẳng làm gì có thiên đường trên những tầng mây, tất cả đều do tâm
mà ra. Vậy Thánh vịnh 51 đã trở
thành lỗi thời vì chẳng có tác dụng gì thực tế. Bám vào đó để mà "phụng vụ"
thì chỉ là duy trì sự mê tín của thời bán khai. Vả chăng, phạm tội với con người mà lại
nói là chỉ phạm tội cùng Chúa thôi là điều mà thế giới ngày nay
không thể chấp nhận. Mặt
khác, ngày nay các học giả nghiên cứu
Thánh Kinh đã chứng minh được rằng trong 150 bài “Thánh Vịnh”, chỉ
có vài bài là được sáng tác trong thời đại của David, phần còn lại
được sáng tác vào khoảng và sau thời kỳ lưu đầy (Exile). Thứ ba,
trong Thánh Kinh có 2 Tamar rất đặc biệt: Tamar
trong 2 Samuel 13: 11-14 là một thiếu nữ bị chính anh ruột của mình, Amnon,
cưỡng hiếp. Tamar và Amnon đều là con ruột “ngài” David của TGM Nguyễn
Văn Thuận. Còn Tamar, người phụ nữ
tội lỗi mà ông Thuận viết trong đoạn trên, còn đặc biệt hơn nữa: chồng
chết, ngủ với em chồng; em chồng chết, ngủ luôn với bố chồng, sinh
con cái. Đó là những mẫu người mà
TGM Thuận cho rằng được Thiên Chúa chọn với “ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa.”,
mà không hề giải thích mầu nhiệm ở chỗ nào, phải chăng mầu nhiệm chỉ
vì những người vô đạo đức phi luân này là tiền nhân của Giê-su?. Chuyện Tamar trong Thánh Kinh, quý độc giả
có thể đọc trong Sáng Thế 38. Có nhiều
đoạn tôi không tiện trích dẫn, vì
chúng tục tĩu dâm loạn, đối ngược
hẳn với nền luân lý Á Đông. Chúng ta cũng nên để ý là, Thiên chúa là
Thiên Chúa của Do Thái, không dính líu gì tới dân tộc Việt Nam, vì ngay
trong Thánh Kinh Thiên Chúa của Do Thái cũng không biết đến sự kiện là
quả đất tròn. Sự hiểu biết của
Thiên chúa ở trong Thánh Kinh về trái đất rất hạn hẹp, chỉ có ở
quanh vùng Trung Đông mà thôi. Thứ tư,
TGM Thuận viết “Chúa Giêsu đã chọn
Phêrô, người đã chối ngài, và chọn Phaolô, người đã bách hại Ngài.”
là sai, chứng tỏ rằng ông đã được "giáo hội dạy rằng" rất
kỹ, và chưa từng đọc Thánh Kinh, vì Thánh Kinh đã viết rõ Giê-su tin rằng
ngày tận thế sắp tới, ngay khi một số người cùng thời với Giê-su
còn sống, vậy chọn Phê-rô để làm gì? Rõ
ràng chuyện Chúa chọn Phêrô là do giáo hội ngụy tạo để tự tạo vai
trò kế thừa Phê rô và là đại diện của Chúa trên trần của các giáo
hoàng. Tôi sẽ trở lại vấn đề này
trong một phần sau. Mặt khác, PhaoLô
không phải là tông đồ của Giê-su, PhaoLô chưa từng thấy Giê-su, làm sao
mà bách hại Giêsu và làm sao Giê-su lại có thể chọn một người mình chưa
từng biết? Tôi đố quý độc giả tìm
trong Thánh Kinh xem có chỗ nào viết là Phao Lồ bách hại Giê-su . Thứ năm,
sợ tín đồ mất niềm tin khi đọc kỹ Thánh Kinh, TGM Nguyễn Văn Thuận dạy
tín đồ: Danh sách những người tội lỗi mà Mathêu
nêu rõ trong gia phả của Chúa Giêsu không được gây gương mù cho chúng
ta. Trái lại, gia phả ấy tuyên dương
mầu nhiệm Thiên Chúa. |