--
Vậy thì, Giê-su giảng dạy những gì?
Nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden trong cuốn The Final Superstition, trg. 174, về cái gọi
là giáo pháp của Giê-su có thể giúp chúng ta nhìn rõ vấn đề một cách
tổng quát: Có rất ít, nếu có, điều sáng tác
độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Giêsu. Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những
quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn
và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập,
Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ...
Một điều rõ ràng: Ki Tô
Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ
cóp nhặt (đạo văn) những quan điểm, ý kiến của Do Thái Giáo và các
tôn giáo gọi là dân gian. Trong cuốn "Nguồn Gốc Luân Lý Trong các
Phúc Âm", Joseph McCabe (Một Linh Mục
Ca Tô. TCN) đã trích dẫn những quan điểm
luân lý trong Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những
quan điểm luân lý tương đương và y hệt
của các tác giả Do Thái và dân gian. 4
Thật vậy, đọc Thánh Kinh và với một chút kiến thức về triết học
và tôn giáo, chúng ta có thể thấy rõ là nhận định của Daleiden không phải
là sai.
Bây giờ chúng ta hãy đi vào chi tiết những lời giảng dạy của
Giê su.
Trước hết, chúng ta hãy xét đến những khẳng định về "cái
Ta" của Giê-su vì chính những khẳng định này đã được giáo hội
khai thác để cấy vào đầu tín đồ từ khi còn nhỏ, tạo nên một đức
tin không cần biết không cần hiểu. Vì
"cái Ta" của Giê-su bắt nguồn từ một tâm bệnh hoang tưởng như
đã được chứng minh trong chương trên, cho nên trong Tân Ước có rất nhiều
"cái Ta" tự tôn của Giê-su. Sau đây chỉ là vài trích dẫn những lời
của Giê-su trong Thánh Kinh với vài lời phân tích của tôi dựa trên
lô-gic. John 6:35: Ta là thức ăn của đời sống. (I am the
bread of life) John 8:12, 9:5: Ta là ánh sáng của thế gian (I am the light
of the world) John 10: 11, 14: Ta là người chăn chiên chí thiện (I am the good shepherd) John 11:25: Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống (I am
the resurrection and the life) John 14:6:
Ta
là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (I am the way, the truth, and
the life) John 10:30: Ta với Cha Ta là một. (I and My Father are
one). John 10:36: Ta là Con Thiên Chúa (I am the Son of God). John 12:49:
Ta
không nói theo ý Ta; Chính người Cha
sai Ta xuống đây đã cho lệnh Ta phải nói những gì và nói như thế nào.
(I have not spoken on my own authority; the Father who sent me has himself given me
commandment what to say and what to speak)
Những khẳng định trên, và nhiều khẳng định khác về cái "Ta" của Giê-su trong Tân Ước, rõ
ràng là bắt nguồn từ một căn bệnh hoang tưởng như chúng ta sẽ thấy
trong phần phân tích sau đây. Đó
không phải là những lời dạy có tính cách giáo dục đạo lý. Trong lịch sử nhân loại, chúng ta không hề
thấy bất cứ một nhân vật nổi danh nào như Đức Phật, Đức Khổng Tử,
Lão Tử, Socrates v..v.. tự quảng cáo cho "cái Ta" của mình nhiều
và hoang đường như Giê-su. Hoang đường
vì không phải là sự thật, vì mâu thuẫn, và vì chúng trái ngược với
con người thực của Giê-su như được mô tả trong Thánh Kinh.
Những "cái Ta" của Giê-su đã đặt trước chúng ta khá nhiều
vấn đề, và bắt buộc chúng ta phải có một sự chọn lựa dứt khoát,
không thể nhập nhằng.
Thật vậy, Ta là Con Thiên Chúa khẳng định vai vế
của Giê-su đối với Thiên Chúa, và lẽ dĩ nhiên hoàn toàn mâu thuẫn với
Ta với Cha
Ta là một. Dù chúng ta có nhắm
mắt tin bừa thuyết điên rồ toán học (mathematical insanity) Chúa Ba Ngôi của giáo hội Ca-Tô đưa ra
nhiều thế kỷ sau khi Giê-su đã qua đời đi chăng nữa thì các câu trên cũng
còn đưa tới vài vấn đề khác. Thí
dụ:
Chúng ta hãy xét đến câu John 12: 49 ở trên: Ta không nói theo ý Ta; Chính người Cha sai Ta
xuống đây đã cho lệnh Ta phải nói những gì và nói như thế nào.
Thứ nhất, câu trên chứng tỏ Giê-su chỉ tự nhận, vì không có bất
cứ bằng chứng nào chứng tỏ đó là sự thật, là một sứ giả của
Thiên Chúa, được sai xuống trần để nói cho dân Do Thái, tuyệt đối không
phải cho dân Việt, những gì mà Thiên
Chúa muốn nói. Điều này hoàn toàn
mâu thuẫn với lời tự nhận khác của Giê-su: John 10:30: Ta với Cha Ta là một.
Thứ nhì, nếu chúng ta chấp nhận câu John 12: 49 ở trên như là sự
thực, thì những lời Giê-su nói đều là những lời của Thiên Chúa. Mà Thiên Chúa thì không thể sai lầm, vì
Thiên Chúa, theo niềm tin của các tín đồ Ki-Tô, là bậc toàn năng, nghĩa
là làm gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, kể cả
quá khứ vị lai, hai thuộc tính của Thiên Chúa có tính cách loại trừ hỗ
tương (mutual exclusive), nghĩa là có cái này thì không thể có cái kia, mà
giáo hội đã thành công cấy vào đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ, khi họ
chưa phát triển về trí tuệ cũng như về thân xác. Điều này
khiến chúng ta bắt buộc phải chọn một
trong hai điều sau đây chứ không thể chọn cùng lúc cả hai. 1.
Nếu những lời Giê-su nói không hề
sai lầm, đúng trong mọi thời đại, thì vai trò Thiên Chúa của Giê-su có
thể tạm chấp nhận được. 2.
Nếu trong những lời nói và hành động
của Giê-su có những sai lầm thì Giê-su không thể nào là Thiên Chúa.
Nhưng Thánh Kinh lại chứng tỏ rằng Giê-su có rất nhiều sai lầm. Vậy thực ra những lời nói của Giê-su cũng
chỉ là những lời nói của một người thường, với sự hiểu biết giới
hạn của một người thường, ở trình độ của một người dân thường
trong vùng dân Do Thái cách đây 2000 năm. Và
như vậy, Giê-su đã phạm tội nói láo và lừa dối, vì ông ta khẳng định
rằng những lời nói của ông là của Thiên Chúa không thể sai lầm. Kết luận: Giê-su chỉ có thể đóng một
trong hai vai trò: Thiên Chúa hay một người thường phạm tội nói láo và lừa
dối chứ không thể cùng lúc cả hai. Vậy
vai trò nào là vai trò đích thực của Giê-su?
Điều này không khó, chúng ta chỉ cần mở Thánh Kinh ra đọc thì sẽ
thấy ngay. Chúng ta đã biết trong chương
trên, bác sĩ Nguyễn Văn Thọ cũng như
học giả Rubem Alves, dựa trên Thánh Kinh, đều viết rằng Giê-su tin và khẳng
định rằng Moses (Môise) là tác giả của Ngũ Kinh trong khi thực sự thì
Moses không viết. Huyền thoại về
Moses được viết ra khoảng 3, 4 trăm năm sau khi Moses đã chết, trong 2 phẩm
Xuất Ê-Díp-Tô (Exodus) và Dân Số (Numbers). Đây là kết quả nghiên cứu của
những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh mà chính giáo hội Ca-Tô cũng phải
chấp nhận. Bằng chứng? Tên các vị
Vua xứ
Thứ ba, nếu Giê-su tự cho mình chính là Thiên Chúa, Thiên Chúa ở đây
phải hiểu là Thiên Chúa trong Cựu Ước, thì Giê-su lại bị kẹt trong vấn
đề đạo đức. Vì trong Cựu Ước,
Thiên Chúa được mô tả như một vị Thần chiến tranh, ác độc, ghen tuông,
ưa ủng hộ dân này chém giết dân kia. Thật
vậy, Thiên Chúa trong Cựu Ước dạy dân Israel của Ngài "Vậy
các ngươi sẽ ăn cướp của người Ai cập" (Exodus 3, 22: So you
shall plunder the Egyptians) và dân ngài đã tuân theo lệnh của Ngài như được
kể trong Xuất-Ê-Díp-Tô (Exodus) 12, 35-36; Ngài dạy Moses: "Hãy báo thù dân Midian cho dân Israel" (Numbers 31, 2: Take
vengeance for the children of Israel on the Midianites), Moses tuân lệnh dạy dân
mình: "Các ngươi hãy mang binh khí đi đánh
dân Midian để trả thù cho Thiên Chúa" (Numbers 31, 3: So Moses spoke to
the people, saying, "Arm yourselves for the war, and let them go against the
Midianites to take vengeance for the Lord); "và
chúng giao chiến cùng dân Midian, đúng như lời Chúa ra lệnh cho Moses, giết
sạch mọi người Nam" (Numbers 31, 7: And they warred against the
Midianites, just as the Lord commanded Moses, and they killed all the males); "Và dân Israel bắt tất cả đàn bà
Midian, và con nhỏ của họ, và cướp hết thảy súc vật, bày chiên, và của
cải của họ. Chúng cũng đốt sạch
những thành phố, thành trì mà dân Midian ở.
Và đem theo tất cả đồ cướp được, người và súc vật"
(Numbers 31, 9-11: And the children of
Như trên đã nói, trong Thánh Kinh có nhiều chuyện
chứng tỏ Giê-su sai lầm. Sau đây là
một chuyện điển hình: chuyện Giê-su nguyền rủa cây sung.
Ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Ca-Tô, kể chuyện này trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng như sau: -Matthêu 21, 18-21: Sáng sớm, khi trở vào thành, Ngài cảm thấy
đói. Trông thấy cây vả bên đường. Người
lại gần nhưng không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi. Nên Người nói: "Từ nay, không bao giờ
mày có trái nữa!" Cây vả chết
khô ngay lập tức. Thấy vậy, các môn
đệ ngạc nhiên nói: "Sao cây vả lại chết ngay lập tức như thế?" Đức Giêsu trả lời: "Thầy bảo thật
anh em. nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được
điều thầy làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có thể bảo núi này: Dời
chỗ đi, nhào xuống biển! thì sự việc sẽ xảy ra như thế." Rồi ông bình luận và
chê triết gia và nhà toán học nổi tiếng hoàn cầu trong thế kỷ 20,
Bertrand Russell, là không biết đọc Thánh Kinh như sau: "Chẳng
cần phải là nhà Kinh Thánh học ta cũng biết rằng đây là một lối giảng
dạy bằng dụ ngôn, bằng tác động. (...) Đọc dụ ngôn mà không biết uyển
chuyển đôi chút, thật sự đáng tiếc nơi một con người đặt nặng vấn
đề ngôn ngữ như B. Russell." Ông Đỗ Mạnh Tri đã
thiếu lương thiện trí thức, trích dẫn thiếu sót Thánh Kinh, bỏ đi đoạn
trên nói về đầu đuôi câu chuyện dẫn đến chuyện cây sung. Đoạn trên đó như sau: "Thế
rồi, khi Giêsu và các môn đồ tới Jerusalem, và tới làng Bethphage ở gần
núi Olives, Giêsu sai hai môn đồ đi trước vào làng..... ...Giêsu đi thẳng vào đền thờ,
đuổi hết những người mua bán ra ngoài, lật đổ bàn của những kẻ đổi
tiền, và ghế của những kẻ bán chim bồ câu.... Rồi Giêsu bỏ họ, ra khỏi Jerusalem,
về trọ tại làng Bethphage đêm ấy." Và chuyện cây sung bắt
đầu: Sáng hôm sau, trên đường trở vào
thành phố, Ngài thấy đói bụng.... Chúng ta thấy ngay rằng, thật ra, chỉ
những người đã bị nhồi sọ một
chiều từ khi còn nhỏ, hoặc có đầu mà không có óc, mới có thể cho
câu chuyện cây sung ở trên là "một lối giảng dạy bằng dụ
ngôn". Một dụ ngôn thường là một
câu chuyện về những nhân vật không dính dáng gì tới người đang kể
chuyện hay những người đang nghe, và có tính cách giáo dục, luân lý. Ở đây, Matthew kể chuyện về một nhân vật
Giê-su có thật, mới chết trước khi Matthew viết Phúc Âm Matthew khoảng 3,
40 năm, và câu chuyện có đầu có đuôi hẳn hoi.
Mặt khác, ông Đỗ Mạnh Tri cũng không cho độc giả biết cái
mà ông Tri cho là dụ ngôn của Chúa trong chuyện nguyền rủa cây sung dạy
về cái gì? Luân lý, đạo đức, cách
xử thế đối với chúng sinh? Tất cả
đều không phải. Câu chuyện về cây
sung chẳng phải là một "dụ ngôn" mà đã nói rõ một điều: ai có
lòng tin vào Thiên Chúa thì có thể làm được như Giêsu, nghĩa là có thể
nguyền rủa cho một cái cây chết héo queo ngay lập tức, ngoài ra còn có
khả năng bảo núi chuyển là núi tự động bò xuống biển? Hay nói cách khác, ai tin vào Giê-su thì có
thể làm được bất cứ cái gì mà mình muốn. Chỉ có điều, trong 2000 năm nay,
người tin Giêsu thì rất nhiều, trong đó có các giáo hoàng tự xưng là đại
diện của Giê-su trên trần (Vicars of Christ), và tất nhiên có ông Đỗ Mạnh
Tri, nhưng nhân loại chưa thấy ai làm
được những chuyện này. Vậy phải
chăng những lời của Giê-su trong "dụ ngôn" về cây sung chẳng qua
chỉ là những lời hứa hẹn hoang đường, vô trách nhiệm, và chỉ có những
người không đội trời chung với lý trí, với suy luận v..v.. mới có thể
tin vào những lời hứa hão của Giê-su. Cũng vì vậy mà các chuyên gia phân tích
Thánh Kinh kết luận rằng: hành động của Giê-su trong câu chuyện về cây
sung (hay cây vả) chứng tỏ Giê-su đã vấp phải 4 sai lầm về kiến thức
cũng như về đạo đức cùng một lúc: 1)
Không biết là trong
mùa đó cây sung không thể có trái, nghĩa là thiếu kiến thức về mùa
màng, cây cỏ. 2)
Hủy diệt vô lý vĩnh
viễn một cây ra trái ăn được. 3)
Dễ nổi nóng, nổi
quạu khi bị phật ý. 4)
Lừa dối các môn
đồ bằng những lời hứa hẹn hoang đường: chỉ cần có lòng tin là có
thể thay đổi tình trạng vật chất thiên nhiên bằng lời nguyền rủa hay
ra lệnh. Nhưng vấn đề chính trong chuyện cây
sung là, một chi tiết trong đó đã đương nhiên bác bỏ khả năng làm
phép lạ của Giê-su như đi trên sóng, biến 1 ổ bánh mì thành 100 ổ bánh
mì, biến nước thành rượu v..v.. Ngài
là Thiên Chúa mà sáng ra Ngài lại đói như người thường. Tại sao Ngài lại không biến cục đá
ngoài đường thành bánh mì để Ngài ăn cho đỡ đói mà lại hi vọng vào
vài quả sung lúc trái mùa? Để rồi
Ngài phải nổi quạu và nguyền rủa cây sung một cách phi lý? Ấy thế mà các tín đồ có đầu nhưng không
có óc vẫn tin rằng Ngài quả là Thiên Chúa "lòng lành vô cùng"
và có khả năng làm nhiều phép lạ. Như chúng ta sẽ thấy,
nhiều bằng chứng ngay trong Thánh Kinh chứng tỏ Giê-su có đầy dẫy những
sai lầm và có một kiến thức rất giới hạn, tính tình dễ nổi nóng một
cách bất thường v..v.. Vậy chúng ta có thể chấp nhận những lời tự
tôn của Giê-su như "Ta với
Cha Ta là một" hay "Ta là Con
Thiên Chúa", "Ta là con đường, là sự thật, là sự sống" v..v.. được hay không? Trong chương trên, tôi đã trình bày kết
luận của nhiều học giả: Giê-su chỉ là một người thường, không hơn
không kém, khoan kể là kiến thức và đạo đức của Giê-su không có gì
đặc biệt, nếu không muốn nói là thấp kém so với rất nhiều nhân vật
trong lịch sử thế gian. Vậy mà
Giê-su dám tự nhận: John 8, 12: Ta là ánh sáng của thế gian. (I am the
light of the world). Ánh
sáng gì của thế gian? Ánh sáng soi
sáng trí tuệ và đạo đức con người? Tuyệt
đối không phải. Đó là ánh sáng, thật
ra là sự u tối, của một đức tin mù quáng, không cần biết, không cần
hiểu. Lịch sử thế gian cho thấy, vì
tin vào "ánh sáng thế gian" của Giê-su, Ca-Tô giáo Rô-Ma đã chìm
đắm trong bóng tối dày đặc của 2000 năm đầy tội ác và vẫn còn đang
tiếp tục mưu toan lùa nhân loại vào cảnh tối tăm nô lệ cho một định
chế thế tục độc tài tham lam vô độ mang danh nghĩa tôn giáo.
Trước khi đi vào chính những lời của Giê-su trong Thánh Kinh để tìm
hiểu vấn đề Giê-su giảng dạy những gì, tôi hi vọng độc giả nhận
thức rõ một điều. Giới chăn chiên
trong giáo hội Ca-Tô thường trích dẫn những điều vụn vặt trong Tân Ước
mà họ cho đó là những lời hay ý đẹp của Giê-su để giảng dạy cho tín
đồ, phần lớn những lời này thuộc loại khẳng định tự tôn, với mục
đích đề cao, thần thánh hóa Giê-su trước đám tín đồ vốn không bao giờ
đọc Thánh Kinh và cũng không đủ trình độ để phân biệt chân giả. Họ không bao giờ đưa ra những câu chứng
tỏ "lời nói không đi đôi với việc làm" của Giê-su. Thực chất của Giê-su là chỉ nói ngon
nói ngọt ngoài miệng, còn những hành động của Giê-su thì không bao giờ
làm theo lời nói, trái lại còn trái ngược hẳn với những lời nói của
mình. Do đó Giám Mục Spong đã phải đưa ra một nhận định: "Có nhiều bằng chứng trong Thánh Kinh chứng
tỏ Giê-su ở Nazareth là con người thiển cận, đầy thù hận, và ngay cả
đạo đức giả" (xin đọc Chương I, trang 84). Chứng minh? 1. Chúa Giê-su dạy: " Hãy lấy cây sà trong mắt ngươi ra
trước rồi hãy lấy cây kim trong mắt người khác ra sau. Đừng phê phán
ai để ngươi cũng không bị phê phán." nhưng rồi chính ông lại
đi phê phán người khác: Matthew 23: 13: Khốn
cho giới dạy luật và Biệt Lập, hạng đạo đức giả; Matthew 23:15: Khốn cho các ông, hạng giả nhân giả nghĩa;
Matthew 23: 16: Khốn cho các ông, hạng lãnh
đạo mù quáng và còn nhiều lời phê phán tương tự khác đầy dãy
trong Tân Ước.
Vậy trước khi phê phán họ, Chúa Giê-su đã lấy cây sà trong mắt
mình ra chưa? 2. Chúa Giê-su dạy môn đồ "phải yêu kẻ
thù và cầu
nguyện cho người khủng bố hành hạ các con" (Matthew 5: 44), nhưng
chính Giê-su thì lại hành động ngược lại:
Giê-su phán, Matthew 12:30: Kẻ nào
không theo ta, ở với ta, là chống đối
ta., và coi những người không tin
và tuân phục Giê-su là kẻ thù và dạy môn đồ:
Luke 19:27 : Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị
trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta. 3. Chúa
Giê-su dạy: "Người nào nguyền rủa
anh em sẽ bị xuống hỏa ngục"
(Matthew 5: 22) nhưng chính Giê- su lại đi nguyền rủa những người
không chịu theo Giê-su:
Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là
con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.
Matthew 12: 34: Ôi thế hệ của những
loài rắn
độc, ác như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt
lành?
Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi
là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?
Vậy bây giờ Chúa Giê-su đang ở đâu?
Dưới hỏa ngục hay trên thiên đường?
4. Chúa
Giê-su dạy, Matthew 23: 11-12: Các con càng
khiêm tốn phục vụ người thì càng được tôn trọng... Ai tự đề cao sẽ
bị hạ thấp, ai khiêm tốn hạ mình sẽ được nâng cao, nhưng chính
Chúa lại tự tôn một cách quá cống cao ngã mạn như trong những câu tôi
đã trích dẫn ở trên. Cái tính khiêm
tốn mà Giê-su dạy các môn đồ, Giê-su để vào đâu mà lại đưa ra những
lời tự nhận quá huênh hoang như trên? Nói
tóm lại, khi tìm hiểu về thực chất con người của Giê-su, chúng ta cần
giữ thái độ: "Đừng tin những gì
các Linh mục nói về Giê-su trong các nhà thờ, mà hãy nhìn kỹ những gì
Giê-su nói và làm trong Thánh Kinh". Chỉ
có như vậy chúng ta mới có thể có những nhận định trung thực và
chính xác về Giê-su, do đó tránh được những sự mê hoặc của những luận
điệu thần học về những thuộc tính thần thánh của Giê-su, một nền
thần học của giới giáo sĩ đưa ra, chỉ cốt để tự tạo quyền lực
thế gian trên đám tín đồ thấp kém, khai thác sự yếu kém tinh thần và
lòng mê tín cả tin của họ. Đi
sâu vào vấn đề, xét về mặt trí tuệ cũng như đạo đức thì nhiều
chuyện trong Tân Ước chứng tỏ tư cách của Giê-su còn kém cả nhiều người
thường nữa. Điều này chúng ta có thể
chứng minh dễ dàng qua sự phân tích những lời và hành động của Giê-su
trong Tân ước. Tôi cũng xin độc giả nhớ cho rằng, hầu hết những
"lời giảng dạy" của Giê-su là những khẳng định hoang đường
vô căn cứ phản ánh những niềm tin của
người Do Thái trong bối cảnh lịch sử và xã hội của dân tộc Do Thái
cách đây 2000 năm. Cho nên ngày nay, tuyệt
đại đa số các bậc thức giả đã bác bỏ những khẳng định này, như tôi sẽ chứng minh trong các phần sau. Để
độc giả có một nhận định rõ ràng về vấn đề "Giê-su giảng dạy
những gì?", tôi xin xếp những lời của Giê-su trong Tân Ước theo hai
chủ đề chính: gia đình và quốc gia. Sau
đó tôi sẽ bàn đến "Bài Giảng Trên Núi". Ngoài ra, để cho đầy đủ hơn tôi sẽ
đưa ra một số những lời lặt vặt khác của Giê-su ở trong Tân Ước để
quý độc giả thấy rõ con người lịch sử Giê-su là con người như thế
nào. 1.
Giê-su Và Gia Đình:
Gia đình là nền tảng của xã hội. Không
ai có thể phủ nhận là ảnh hưởng tư tưởng Khổng Giáo đã thấm nhuần
vào xã hội Việt
Các tín đồ Ca-Tô thường nhắc
đến câu Giêsu dạy "Phải hiếu kính với
cha mẹ.." (Matthew 19: 19: Honor your father and your mother..) làm như đó
là đạo lý đặc thù của Ki Tô Giáo, chỉ mình Ki Tô Giáo có mà thôi. Nhưng vì không đọc Thánh Kinh nên họ
không biết rằng, trong thực tế, hành động của Giê-su lại trái ngược
hẳn lại, không có gì có thể gọi là hiếu kính với cha mẹ hay có tình
nghĩa với gia đình. Qua những chuyện
viết trong Thánh Kinh, chúng ta không thể nghĩ khác hơn là: những thái độ
và hành động hỗn hào bất kính với
cha mẹ, vô tình vô nghĩa với gia đình, là những thuộc tính đặc thù của
Chúa Ki-Tô.
Thật vậy, đọc Thánh Kinh chúng ta thấy Giê-su không coi gia đình ra gì, có lẽ vì ông ta
có mặc cảm với cái thân thế bất minh, là đứa con hoang của mẹ mình. Trong nhiều trường hợp ông ta còn để lộ
thái độ thù ghét gia đình. Trước hết,
chúng ta hãy xem cách đối xử của ông ta với chính mẹ mình.
Trong các Phúc Âm, chúng ta không bao giờ thấy Giê-su gọi mẹ mình, bà Maria, là "Mẹ". Trong bản Thánh Kinh của Vua James (King James
Version), cuốn Thánh Kinh được chấp nhận rộng rãi và dùng trong nhiều thế
kỷ cho đến tận ngày nay, từ mà Giê-su dùng để gọi bà Maria là "Người đàn bà kia" (Woman), một
cách gọi xách mé hỗn xược. Thật là tội nghiệp cho bà Maria. Đây không phải là điều khó hiểu. Vì phân tích những lời hỗn hào của
Giê-su đối với mẹ và gia đình trong nhiều trường hợp được viết
trong Thánh Kinh, một số học giả đã cho rằng, đúng là Giê-su có cái mặc
cảm của một đứa con hoang, bị thiên hạ khinh khi đàm tiếu cho nên hận
gia đình, hận mẹ, hận thân phận nghèo khó của mình v..v.. kết thành những
thái độ và lời nói với mẹ và gia đình như vậy. Ngoài ra, chính gia đình
của Giê-su gồm có cha, mẹ (Joseph và Maria) và các em trai, em gái của
Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu tinh của dân tộc Do Thái, đôi
khi còn cho ông ta là không có đầu óc bình thường nếu không muốn nói
là điên (out of his mind), cho nên thái độ của Giê-su đối với gia đình rất là hỗn hào, xấc láo.
Chúng ta chắc ai cũng đã biết chuyện sau đây được kể trong Thánh
Kinh: Nhân ngày lễ vượt qua, vợ chồng Joseph, Mary và Giê-su, khi đó mới
12 tuổi, cùng đến Jerusalem. Sau ngày lễ
thì hai vợ chồng Joseph thấy biến mất ông con.
Tưởng rằng ông con đã đi cùng bạn bè đi về nhà nên ông bà cũng
trở về nhà. Nhưng đi suốt cả ngày
cũng không thấy Giê-su đâu, lúc bấy giờ mới hỏi thăm và đi tìm
Giê-su. Hai ông bà quay trở lại Khi cha mẹ thấy Ngài, thì lấy làm lạ,
và mẹ hỏi rằng: Hỡi con, sao con làm cho hai ta thế này? Này, cha và mẹ
đã khó nhọc lắm mà tìm con. Ngài trả
lời: Các người kiếm tôi làm chi? Há
chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi hay sao?
Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói chi hết.
Quý vị có thấy một đứa bé 12 tuổi nào hỗn hào với cha mẹ như
vậy chưa, trừ phi nó là một nghiệp chướng của một gia đình vô phúc. Trước hết nó ở lại
Chuyện cha mẹ lo lắng cho con là chuyện tự nhiên, nhưng chuyện “Chúa
tôi” đối đáp với cha mẹ như vậy thì quả thật là đặc biệt, hiếm
có trên thế gian, và ít ra là không hợp với nền luân lý của Việt Nam.
Chúng ta cũng biết, trong Tân Ước, ngoài trường hợp hỗn hào với
bố mẹ khi Giê-su 12 tuổi ở trên, chỉ có hai trường hợp khác Giê-su trực
tiếp nói cùng bà Maria, và cả trong hai trường hợp đó Giê-su đều gọi
mẹ là "Người đàn bà kia". Trường hợp thứ nhất, John 2: 1-4 kể rằng:
Trong một tiệc cưới có cả hai mẹ con Mary và Giê-su dự, khi rượu hết bà Mary đến nói với
Giê-su là "Họ đã hết rượu rồi". Giê-su trả lời bà như sau: "Người đàn bà kia! Sự quan tâm của
bà thì có liên can gì tới Ta? Giờ của
Ta còn chưa tới" (Woman, what does your concern have to do with Me? My hour has not yet come). Giờ gì? Đọc tiếp Thánh Kinh chúng ta mới thấy rằng
đó là giờ Giê-su trổ tài làm phép lạ, biến 6 vại nước thành rượu. Kinh Thánh tiếng Việt của American Bible
Societies xuất bản năm 1998 dịch đoạn trên như sau: "Hỡi đàn bà kia, Ta với ngươi có sự
gì chăng? Giờ Ta chưa đến". [Gần đây, con chiên Việt Nam dịch láo “woman”
là “thưa mẹ” để đánh bóng Giê-su] Đó
là câu nói "hiếu kính với cha mẹ" của "Chúa tôi" của
những tín đồ Ca-Tô Việt Nam. Vậy họ
còn đợi gì mà không noi gương Chúa,
đối xử với cha mẹ như Chúa?
Trường hợp thứ hai là khi Giê-su đã bị đóng đinh trên thập giá,
đang hấp hối sắp chết. John 19: 26 kể
rằng: Chúa Giê-su thấy mẹ mình, và một
môn đồ Ngài yêu đứng gần người, thì nói cùng mẹ rằng: "Người đàn bà kia, đó là con của ngươi.."
(When Jesus therefore saw His mother, and the disciple whom he loved standing by, He said
to His mother: "Woman, behold your son!")
Chúng ta nên để ý là Giê-su đã dùng cùng danh từ "Người đàn bà kia" (Woman) để gọi
một người đàn bà từ xứ Canaan đến xin chữa bệnh cho con gái mà mới
đầu Giê-su không chịu chữa mà còn gọi người ta là chó vì không phải
là dân Do Thái, và một người đàn bà khác can tội tà dâm (John 8:10,
Matthew 15:28). Ngoài ra, Matthew 12:48 cũng
còn kể: Trong khi Giê-su đang đứng giữa
đám đông, Bà Mary và các em trai của Giê-su đến và nhờ người nhắn với
Giê-su là Mẹ và các em đang ở phía ngoài muốn gặp Giê-su thì Giê-su sẵng
giọng nói: "Ai là mẹ Ta? Ai là các em Ta?"
(Who is my mother? and who
are my brothers?).
Giê-su ghét gia đình là chuyện của ông ta, nhưng ông ta lại muốn những
kẻ theo ông cũng phải ghét gia đình của họ như ông ta đã ghét gia đình
mình. Do đó ông ta đã dạy các môn đồ
như sau: Luke
14, 26: Nếu kẻ
nào đến với ta mà không "căm ghét" cha mẹ, vợ con,
anh chị em, và ngay cả đời sống của hắn, thì hắn không thể là môn đồ
của Ta. (If anyone who comes to me and does not hate his father and mother, wife and
children, brothers and sisters, yes, and his life also, he cannot be My disciples.)
Theo Gene
Kasmar trong cuốn Tất Cả Những Chuyện
Tục Tĩu Trong Thánh Kinh (All The Obscenities in the Bible), trang 359, thì chữ
"căm ghét" là dịch từ tiếng Hi Lạp (Thánh Kinh gốc viết bằng
tiếng Hi Lạp) "miseo", có nghĩa
là ghét tởm và khinh khi (detest and despise).
Và khi một đệ tử của Giê-su nói, Matthew 8: 21-22: “Xin để con đi chôn cất cha con xong con sẽ đi
theo Ngài" Giê-su trả lời: "Hãy
đi theo ta ngay, hãy để cho người chết lo
mai táng người chết của họ.
Tôi cảm thấy quá tội nghiệp cho những tín đồ Ki-Tô Việt
Tại sao "Chúa" Giê-su lại có những hành động đối với
gia đình như vậy? Tân Ước, Matthew
10: 34-36, đã viết rõ, Giê-su khẳng định: Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để
mang lại hòa bình trên trái đất. Ta
không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì Ta xuống đây để làm cho con chống lại
cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của
con người ở ngay trong nhà hắn. Và Lưu-Ca 12: 51-53 cũng xác định lại khẳng định của Giê-su như sau: Đừng tưởng Ta đến để đem hòa bình cho thế
giới. Không, Ta đến để chia loài người
làm hai. Từ đây, một nhà có năm người
sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai. Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với
cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.
Qua những quan niệm và cách hành xử đối với gia đình như tôi vừa
trích dẫn từ "Thánh Kinh" ở trên, Giê-su đã tự mình "làm gương"
cho những người theo ông. Và lịch sử
cũng đã chứng tỏ, Ki Tô Giáo đi đến đâu cũng làm cho gia đình, xã hội
chia rẽ chống lại nhau một khi trong gia đình, trong xã hội, có những con
người tân tòng mù quáng tin vào Giê-su mà không biết gì về thực chất
con người của Giê-su, và nhất là tin vào những giáo lý vô tổ quốc, phản
dân tộc, vô gia đình, vô tổ tiên
v..v.. của giáo hội Ca-Tô. Tất cả chỉ
vì mù quáng tin vào những lời giảng dạy của giới chăn chiên trong giáo
hội, dựa theo một nền Thần học ngụy tạo, lạc dẫn.
Kinh nghiệm Việt
Nhận xét về những tác hại mà Ki Tô Giáo đã mang đến cho nhân loại
trong vấn đề chia rẽ trong gia đình, quốc gia, và dân tộc, học giả
Ca-Tô Joseph L. Daleiden đã đưa ra một nhận định về lời phán trên của
Giê-su trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng
(The Final Superstition), trang 177, như sau: Thảm thay, đây là một trong vài hứa hẹn mà
lịch sử chứng tỏ là Giê-su đã thành công thực hiện. 5 à đọc tiếp: Giêsu là ai? Giảng day những gì? Phần 8 © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com