1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 03.11.2005

TẢN MẠN & TẢN MẠN:

THIỀN SƯ NHẤT HẠNH
CHIẾN TRANH – NHÂN QUYỀN - DÂN CHỦ
(PHẦN III : TỰ DO-NHÂN QUYỀN-DÂN CHỦ)

Trần Chung Ngọc

Lời Nói Đầu.

Trước đây, trên Trang Nhà Giao Điểm, tôi đã viết một số bài về những vấn đề Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo.  Nếu muốn, quý độc giả có thể kiếm những bài như “VÀI NHẬN XÉT VỀ VẤN ĐỀ TRANH ĐẤU CHO NHÂN QUYỀN & TỰ DO TÔN GIÁO Ở HẢI NGOẠI” và ““NHÂN QUYỀN“!  CỦA AI & CHO AI?” còn lưu trữ trên Trang Nhà Giao Điểm.  Tôi cũng đã viết về Dân Chủ qua bài “BI KỊCH PHẠM HỒNG SƠN”.  Trong Phần III của loạt bài này, tôi xin viết thêm một số ý kiến về những vấn đề trên xuyên qua những thông tin mới.  Nếu có vài chỗ nhắc lại một vài tài liệu trong các bài trước, xin quý độc giả thông cảm.

*

Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ là những vấn đề sôi bỏng trong thời buổi ngày nay.   Nhất là khi chúng là những sản phẩm mà Mỹ muốn xuất cảng và áp đặt trên toàn thế giới, ngoài Wal Mart, Starbuck, Coca Cola, McDonald, và phim ảnh Holywood phần lớn là về tình dục và bạo lực (sex and violence), và tất nhiên, theo sách lược đa chuẩn (multi-standard) cố hữu của Mỹ.  Vài người Việt Nam nổi tiếng, tiếng xấu hay tiếng tốt, xin khoan nói, như Nguyễn Văn Lý, Hoàng Minh Chính, Phạm Hồng Sơn v..v.. ở trong nước, Nguyễn Gia Kiểng, Võ Văn Ái v..v.. ở ngoài nước, cũng đang tích cực tranh đấu để cho Việt Nam có được Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ, theo quan niệm về Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ của Mỹ, vì đối với họ, tự do và dân chủ chỉ có một, cái “một” này là “một” của Mỹ, và lấy nền văn hóa Tây phương làm tiêu chuẩn văn hóa cho cả thế giới (Nguyễn Gia Kiểng).  Chỉ có điều, trên cái thế giới này, chẳng làm gì có một khuôn mẫu Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ chung cho cả thế giới.  Do đó, lấy quan niệm về Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ của Mỹ, hay của bất cứ nước nào trên thế giới, hoặc coi nền văn hóa Tây phương là khuôn mẫu văn hóa, để hòng áp đặt trên đất nước Việt Nam là chuyện làm lố bịch, ngu ngơ của những trí thức dỏm, tay sai, vọng ngoại một cách hẹp hòi mù quáng.  

Ngoài những trí thức dỏm với những lý thuyết dỏm về Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ như trên, nhìn vào những hành động cụ thể của một số người hăng say nhất ở hải ngoại tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở trong nước, tôi có cảm tưởng là, không phải là họ tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ, mà là chống bất cứ cái gì của Việt Nam, nấp sau chiêu bài chống Cộng và chiêu bài tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ, nhưng thực chất là nhân danh nước Chúa chống nước Việt Nam.    Đúng vậy, bất cứ người nào, hay đoàn thể nào, từ Việt Nam ra ngoại quốc [trừ mấy ông Giám mục, Linh mục Công Giáo tấp nập xuất ngoại để moi tiền giáo dân], bất kể thuộc giới nào có đôi chút ảnh hưởng đến quần chúng: tôn giáo khác Công giáo, văn nghệ sĩ, ca nhạc, thơ văn, kịch nghệ v..v.. cũng đều bị chống.  Nói cách khác, không phải là họ chống Cộng Sản mà là chống toàn thể nước Việt Nam, chống văn hóa Việt Nam, chống một cách hung hăng vô lối, chống một cách cuồng tín, hạ cấp, và nhất là chống một cách phi Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ.  [Xin đọc những bài “Khủng Bố Ca Sĩ”, “Xin Đừng Hăm Dọa Chúng Tôi”, “Biểu Tình Lạc Mục Tiêu” v..v.. trên trang nhà Chuyển Luân].  Tôi không thể không tự hỏi: “Thật ra những người này có hiểu thế nào là Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ hay không?  Phải chăng họ đã bị điều động bởi một thế lực đen đã nổi tiếng là phi dân tộc và đang tiếp diễn màn phản dân tộc ở hải ngoại?”  Ở trong nước, họ thường đồng nhất hóa vài nhân vật trong tôn giáo là chính tôn giáo: Nguyễn Văn Lý, Chân Tín v..v.. chính là Công Giáo, Nguyễn Hồng Quang chính là Tin Lành, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ chính là Phật Giáo v..v.., đồng nhất hóa chính trị của vài cá nhân như Phạm Hồng Sơn, Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự v..v.. là chính trị của cả dân tộc, và ở hải ngoại, đồng nhất hóa vài hành động ngu ngơ vô trí tuệ của một số nhỏ cực đoan, cuồng tín,  chính là hành động của toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại, không cần để ý đến sự chia rẽ sâu đậm giữa các tổ chức, hội đoàn ở hải ngoại, và sự thờ ơ của tuyệt đại đa số người Việt di cư..

Thực chất sự tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở trong nước ra sao?   Điển hình là hai nhân vật Nguyễn Văn Lý, Phạm Hồng Sơn, cùng những chính trị gia nửa mùa nấp bóng ngoại bang, hồ hởi, hãnh diện khi được uống sâm banh trong Tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam nhân ngày lễ Độc Lập của Mỹ.  Những bộ mặt Lê Chiêu Thống tân thời này làm sao có thể thuyết phục được người dân Việt, vốn có lòng yêu nước cao độ, luôn luôn khinh ghét những người dựa hơi ngoại bang?   Có những người cảm thấy mình rất là quan trọng khi được đến điều trần tại quốc hội hay hạ viện Mỹ để “mách bu”, không biết rằng Mỹ đang sử dụng mình như con tốt đen để đạt những mục tiêu riêng của Mỹ.  Lại có những người luôn luôn đưa ra những luận điệu tâng bốc quan thầy như hạ viện Mỹ đã làm luật Nhân Quyền cho Việt Nam, hay quốc hội Mỹ đã làm luật về tự do tôn giáo để áp dụng cho cả thế giới, hay Mỹ xếp Việt Nam vào một trong những nước đáng quan tâm về tự do tôn giáo, làm như Mỹ đang là ông chủ của cả thế giới, nắm vận mệnh của nước Việt Nam trong tay, nên có thể làm luật thay cho Quốc Hội Việt Nam.  Những người này quên rằng Mỹ đã “không thắng” được ở Việt Nam và phải trở về Mỹ “trong danh dự” với “hội chứng Việt Nam” còn kéo dài cho tới ngày nay. 

Một trường hợp gần đây làm cho Mỹ bẽ mặt vì thái độ trịch thượng của mình.   Trong cuộc viếng thăm Trung Quốc, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld “lên lớp” Trung Quốc là đã gia tăng ngân sách quốc phòng lên tới 30 tỷ đôla, làm cho thế giới e ngại về sự bành trướng quân sự của Trung Quốc.  Trung Quốc cười xòa và trả lời:  “Tại sao Mỹ lại cứ thích xía vào nội bộ của các nước khác.   Trung Quốc có 1.4 tỷ dân, với ngân sách quốc phòng là 30 tỷ, trong khi Mỹ chỉ có 300 triệu dân mà ngân sách quốc phòng là 400 tỷ.  Thế là thế nào??”  Cho nên, những người cứ mang luật của quốc hội hay hạ viện Mỹ ra để mà chống “Việt Cộng” là những người đần, không hiểu gì về chính trị quốc tế.   Nếu luật của Mỹ và sự “đáng quan tâm” của Mỹ có một giá trị gì, thì ngày nay trên thế giới đã không còn “Trung Cộng”, “Việt Cộng”, “Cuba”, “Bắc Hàn”, “Iran”, “Syria”, “Sudan” và các nước khác trong khối Hồi Giáo hay ở Phi Châu  v..v..  Những hạng người như trên chỉ chứng tỏ cho quần chúng biết rõ mình là những hạng người nào, và kiến thức của họ ở mức độ nào.

Họ đâu có biết rằng, phê bình đạo luật về tự do tôn giáo của Hoa Kỳ, Giáo sư luật tại đại học Emory, Abdullahi Ahmed An-Na'im nói: "Nhiều người nhớ lại những lời hoa mỹ thiên Ki Tô trước đây và tin rằng Hoa Kỳ chỉ quan tâm đến sự hỗ trợ các thừa sai Mỹ ở ngoại quốc."(Emory University law professor Abdullahi Ahmed An-Na'im says many remember the early pro-Christian rhetoric and believe the United States is only interested in aiding American missionaries abroad.) và J. Paul Martin, Giám đốc trung tâm nghiên cứu nhân quyền tại đại học Columbia còn đi xa hơn nữa.  Ông nói: "Ở các nước như Nga sô, Pháp, Bỉ, và Đức, nhiều người coi đạo luật về tự do tôn giáo của quốc hội Hoa Kỳ là một phần của chủ nghĩa đế quốc rộng lớn hơn của Mỹ" (J. Paul Martin, executive director of Columbia University's Center for the study of Human Rights, goes further.  In such countries as Russia, France, Belgium, and Germany, he says, many see Congress' action as "part of a larger American imperialism".)

Rồi một ông cụ nổi tiếng vì tranh đấu cho Dân Chủ, được Nhà Nước cho phép đi Mỹ “chữa bệnh”, lý do để xin được xuất ngoại, nhưng lại đến đại học Harvard xun xoe “báo cáo” về lý thuyết Mác-Lê, nguyên văn: “Trước hết tôi xin phép có lời trân trọng nhất vô cùng cảm ơn Ngài Giám đốc rất tôn kính, ngài Lawrence H. Summers, đã cho tôi hân hạnh lớn nhất được báo cáo hôm nay trước các Quý vị tại trường Ðại học Harvard tiếng tăm nhất thế giới này.  Chủ đề tôi xin phép báo cáo là “Chủ nghĩa Marx và hệ lụy” được thu gọn trong Tuyên Ngôn của Ðảng Cộng Sản..”  Cụ Hoàng Minh Chính ơi là cụ Hoàng Minh Chính!  Cụ làm như Mỹ không biết gì về chủ nghĩa Marx.   Chắc cụ Hoàng Minh Chính chưa đọc một cuốn sách nào trong rừng sách của Mỹ viết về chủ nghĩa Marx, cho nên cụ “đánh trống qua cửa nhà sấm”, đến báo cáo cho đại học Harvard về chủ nghĩa Marx, một đại học nổi tiếng về những công cuộc nghiên cứu trong mọi bộ môn và có một rừng sách về chủ nghĩa Marx trong thư viện của trường.  Hơn nữa, cụ có biết rằng những câu có tính cách xun xoe, khúm núm như “tôi xin phép có lời trân trọng nhất”“tôi xin phép báo cáo”  chưa từng bao giờ thấy xuất hiện trong những cuộc nói chuyện hay thuyết trình  ở các trường đại học Mỹ không?  Một nhóm nào đó ở Harvard mời cụ đến, nghĩa là muốn nghe cụ nói về vấn đề gì đó, thế mà cụ vẫn còn phải “xin phép để báo cáo” cùng họ về một chủ đề mà cụ có học cho đến chết cũng không hết những điều họ đã biết về chủ nghĩa Marx.  Kiểu “lễ phép” này lạc hậu, lạc chỗ, không thích hợp trong môi trường đại học, nhất là đại học Mỹ.  Người ta mời cụ đến với hi vọng được nghe những điều mới lạ, nhưng cụ thử đọc lại những điều cụ nói xem có gì mới lạ, hay chẳng qua chỉ là những luận điệu đã cũ mèm, lỗi thời từ lâu. Tại sao cụ lại đi làm trò cười cho thiên hạ như vậy và để lòi sự hiểu biết vô cùng giới hạn của mình ra.   Rất có thể cái nhóm nào đó ở Harvard đã tổ chức, gọi cụ đến để cho cụ chống Cộng trong khuôn khổ một đại học nổi tiếng, làm cho cụ có vẻ nổi tiếng và rồi chống Cộng hăng hơn theo đơn đặt hàng của họ.

Còn nữa, trong hội nghị Họp Mặt Dân Chủ 2005, cụ còn đoán mò: “Ðại Hội X đảng CSVN trong năm tới 2006 chẳng hứa hẹn một điều gì sáng sủa.” khi Đại Hội chưa họp và chưa biết nội dung Đại Hội ra sao.  Cũng trong cái gọi là hội nghị Họp Mặt Dân Chủ 2005 này, hành động ngoạn mục nhất của cụ là lên tiếng ca tụng quan thầy Mỹ như sau:

Trong lễ tuyên thệ nhậm chức kỳ hai, đầu năm 2005, Tổng Thống George W. Bush đã long trọng tuyên bố: "Chính Sách của Hoa Kỳ là tìm kiếm và hỗ trợ sự phát triển của các phong trào và thể chế dân chủ ở mọi quốc gia và mọi nền văn hóa với mục tiêu cuối cùng là chấm dứt các chế độ chuyên chế trên thế giới"
Nhân dân Việt Nam hiện nay đang trong cơn quằn quại rũ bỏ ách nô lệ thâm căn cố đế nội xâm đã tìm thấy trong chính sách hỗ trợ Tự Do Dân Chủ của Hoa Kỳ một sức mạnh vô giá cho cuộc đấu tranh sống còn của mình.

Bush tuyên bố thì mặc Bush tuyên bố, chẳng có mấy người để ý, vì Bush đã nổi tiếng là tuyên bố ẩu tả từ lâu rồi, và cả thế giới đã biết tự do dân chủ chỉ là những chiêu bài của Mỹ để xen vào nội bộ các nước, cụ không biết hay sao?  Có phải là cụ cho rằng “miệng kẻ sang có gang có thép”, nhưng Bush đâu có phải là kẻ sang gì, chỉ là với cương vị Tổng thống của một cường quốc đang áp dụng chính sách “cường quyền thắng công lý”, bị cả thế giới dè bỉu, và tờ Daily Mirror ở bên Anh đã cho rằng 52% người dân Mỹ bầu cho Bush là những dân ngu (stupid), chứ thực ra Bush có bao nhiêu trí tuệ với IQ bằng nửa Clinton.   Đúng là cụ nói trong cơn mơ, vì không hiểu sách lược đối ngoại của Mỹ ra sao qua những chiêu bài có tính cách khoa trương là xuất cảng tự do và dân chủ.  Cụ không biết rằng khi Bush bị phanh phui là đã đưa ra những bằng chứng giả tạo về vũ khí giết người hàng loạt của Iraq, và Iraq có dính líu trong vụ 9-11 ở New York, để được sự ủng hộ của quần chúng, có cớ xâm chiếm (invasion and occupation) Iraq, thì Bush mới đổi sang luận điệu là mang tự do dân chủ đến Iraq trong khi trước đó Mỹ đã từng ủng hộ Saddam Hussein.   Cụ quên rằng Mỹ đã “ trút lên đầu dân tộc Việt Nam 7 triệu tấn bom, hơn gấp đôi tổng số bom thả xuống Âu Châu và Á Châu trong đệ nhị thế chiến, tính trung bình một quả bom nặng khoảng 230 ki-lô (500 lbs) cho mỗi đầu người Việt Nam, trên đất nước Việt Nam có khoảng 20 triệu hố bom, thuốc độc khai quang Agent Orange trải để phá hại cây cỏ, mùa màng trên một diện tích bằng bang Massachusetts và ảnh hưởng độc địa của loại thuốc này còn di hại đến ngày nay. CIA ở Việt Nam, trong chiến dịch Phụng Hoàng đã bí mật giết không xét xử ít nhất là 20000 dân ở nam Việt Nam nghi là Cộng Sản nằm vùng…(Howard Zinn, A People’s History of the US, 1492-Present, HarperCollins Publishers, New York, 1999, p. 478:  By the end of the Vietnam war, 7 million tons of bombs had been dropped on Vietnam, more than twice the total bombs dropped on Europe and Asia in World War II – almost one 500-pound bomb for every human being in Vietnam.  It was estimated that there were 20 million bomb craters in the country.  In addition, poisonous sprays were dropped by planes to destroy trees and any kind of growth – an area the size of the state of Massachusetts was covered with such poison... The CIA in Vietnam, in a program called “Operation Phoenix”, secretly, without trial, executed at least 20000 civilians in South Vietnam who were suspectected of being members of the Communist underground.) cũng là để cho Nam Việt Nam được tự do, dân chủ dưới hai chế độ độc tài gia đình trị, tôn giáo trị Ngô Đình Diệm và chế độ “Diệm không Diệm” Nguyễn Văn Thiệu, thực hiện 10% mục đích của Mỹ trong cuộc xâm lăng Việt Nam.  [Xin đọc Phần II trong loạt bài này trên trang nhà Giao Điểm, tháng 10].  Lạ thật, tại sao Cộng Sản lại không biết đến cái sức mạnh vô giá của 10% Tự Do Dân Chủ của Hoa Kỳ mà lại phải thống nhất đất nước, thiết lập “nội xâm” (sic) thay vì chấp nhận “ngoại xâm”. Thật là tội nghiệp cho những người có đầu mà không có óc:  “Xin Chúa hãy tha tội cho họ, vì họ không biết là đã đang làm gì”.   Tại sao mấy người không tự lực tranh đấu, vận động quần chúng ủng hộ nếu có chính nghĩa, mà cứ phải đi theo vết của Lê Chiêu Thống, tình nguyện làm đầy tớ cho ngoại bang?  Mấy người có hiểu thế nào là liêm sỉ, thế nào là tự ái dân tộc, thế nào là tinh thần quốc gia của người Việt không? 

Về Linh mục Nguyễn Văn Lý, tôi nghĩ rằng, ông ta cũng như các tín đồ Công Giáo Việt Nam, từ Hồng Y trở xuống, đều không có tư cách nói về Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ, khoan nói đến chuyện đòi hỏi.  Tại sao?  Vì họ đang sống như những con chiên, bị Giáo hội Công Giáo kiểm soát từ ngày sinh ra cho đến ngày chết qua những nghi thức tôn giáo thuộc loại vô lý và mê tín nhất.  Nói khác đi, họ đang sống trong sự lệ thuộc một định chế thế tục nấp sau bộ mặt tôn giáo, một định chế tôn giáo phi tự do dân chủ nhất hoàn cầu và không hề có ý niệm gì về nhân quyền trong suốt 2000 năm lịch sử. Những người mà thực chất không có quyền tự do suy nghĩ, không có quyền tự do phát biểu ý kiến, răm rắp tuân lệnh từ Vatican đưa xuống, có những lệnh đối ngược với quyền lợi quốc gia Việt Nam như lịch sử đã chứng minh, hãy tự vắt tay lên trán tự hỏi xem mình có đủ tư cách để lên tiếng tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở trong nước hay không? 

Tôi không có viết sai sự thực đâu.  Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn “Tương Lai Của Tự Do: Dân Chủ Phi Tự Do ở Trong Nước [Mỹ] và ở Hải Ngoại” (The Future of Freedom: Illiberal Democracy at Home and Abroad, W.W. Norton & Co., New York, 2003)  của Fareed Zakaria, Ph.D. Harvard, chủ biên tờ Newsweek quốc tế, nhà phân tích chính trị cho đài ABC, viết về Nghịch Lý Của Công Giáo (The Paradox of Catholicism), trang 33:

Văn hóa (của đế quốc) La Mã trở thành văn hóa Công Giáo.  Cho tới ngày nay, những  ý tưởng và cấu trúc của Giáo hội Công Giáo – với tính cách phổ quát của nó, hệ thống giáo quyền của nó, những luật lệ của nó – đều dập theo khuôn của đế quốc La mã.  Là một định chế, nó không đứng về phía Tự Do của tư duy, hoặc ngay cả cho tới gần đây, chấp nhận sự khác biệt của các niềm tin.  Thật ra, trong thời Trung Cổ, khi quyền lực của nó lên cao, nó trở thành càng ngày càng bất khoan dung và đàn áp, nhấn mạnh trên những tín lý và sự tùng phục tuyệt đối (của tín đồ), và sử dụng những phương cách tàn nhẫn để   nghiền nát mọi chống đối.  Cho tới ngày nay, cấu trúc của nó vẫn là một hệ thống giáo quyền và chuyên quyền độc đoán.

(The culture of Rome became the culture of Catholicism.  To this day the ideas and structure of the Catholic Church – its universlism, its hierarchy, its codes and laws – bear strong ressemblance to those of the Roman Empire.   As an institution it has not stood for freedom of thought or even, until recently, diversity of belief.  In fact, during the Middle Ages, as it grew powerful, it became increasingly intolerant and oppressive, emphasizing dogma and unquestioning obedience and using rather nasty means to squash dissent.  To this day, its structure remains hierarchial and autocratic.)

Nhận định của Fareed Zakaria cũng giống như nhận định của triết gia người Anh, Thomas Hobbes, về Giáo hội Công Giáo La Mã, là: “Hồn ma của đế quốc La Mã đã chết, đội vương miện ngồi trên nấm mồ của mình” (The Roman Catholic Church is the ghost of the deceased Roman Empire sitting crowned upon its grave).

Vậy Linh Mục Lý cũng như những người Công Giáo tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở Việt Nam có dám phủ nhận sự kiện trên không, có dám phủ nhận là mình đang ở trong một định chế như trên không, có dám khẳng định là Giáo hội Công Giáo Việt Nam có quyền tư duy độc lập đối với Vatican, không tuyệt đối phục tùng Vatican hay không, không theo những tín lý thuộc loại hoang đường mê tín của Vatican không?  Nếu không dám thì sự tranh đấu cho tự do tôn giáo của Linh mục Lý et al.. là tranh đấu cho người Công Giáo được quyền làm nô lệ, tuyệt đối phục tùng Vatican. Và khi Công Giáo nắm được quyền lực thì lại áp dụng chính sách bất khoan dung tín ngưỡng, đàn áp đối lập của Vatican như chính quyền Công Giáo Ngô Đình Diệm đã thi hành ở miền Nam Việt Nam trước đây.  Vậy thì sự tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ và tự do tín ngưỡng của những người Công Giáo có ý nghĩa gì? 

Để có đủ tư cách tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam phải tuyên bố dứt khoát độc lập với Vatican.  Người Việt Nam thừa thông minh để hiểu và áp dụng giáo lý của Giê-su trong Kinh Thánh, nếu có, mà không cần phải qua ngả trung gian là Vatican.  Và không có lý do gì để trao khoán cho Vatican, cho mấy ông mũi lõ mắt xanh ngồi ở Roma, chẳng biết gì về Việt Nam, cái quyền bổ nhiệm các chức sắc Công Giáo Việt Nam.  Đừng có viện cớ đó là chuyện nội bộ của Công Giáo. Việt Nam không bao giờ chấp nhận người dân Việt Nam lệ thuộc một thế lực ngoại bang có nhiều tính chất thế tục hơn là tôn giáo như Vatican, dù được biện minh là tự do tín ngưỡng và thuộc nội bộ tôn giáo.  Biết rõ bản chất nô lệ, tuyệt đối phục tùng Vatican như vậy của các tín đồ Công giáo Việt Nam, Quốc Hội Việt Nam cần làm luật cấm tiệt không cho phép người Công Giáo được giữ một chức vị cao cấp nào trong chính quyền cũng như trong các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, nếu không muốn người dân Việt Nam phải rơi vào vòng nô lệ Vatican.

Với bản chất nô lệ như trên thế mà gần đây, mấy ông linh mục Têphanô Chân Tín, Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tađêô Nguyễn Văn Lý, Phêrô Phan Văn Lợi, những người đang sống dưới một chế độ giáo quyền phi dân chủ, lại dám tự nhận là đại diện cho một số nhà Dân Chủ Việt Nam, viết thư: Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, và đòi Nhà Nước Việt Nam, nguyên văn: 

Chúng tôi yêu cầu Nhà nước Việt Nam phải tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội năm 2007 theo nguyên tắc Đa đảng, Tự do Ứng cử, Tự do Bầu cử như tại các Nước văn minh, có Quốc tế giám sát công khai minh bạch.

Như vậy là yêu cầu Nhà Nước hay bắt Nhà Nước “phải” ...?  Sống trong định chế Công Giáo lâu rồi, làm nô lệ Vatican quen rồi, nên nay mấy ông cũng đòi phải có quốc tế giám sát cuộc bầu cử Quốc Hội Việt Nam?  Chủ quyền của nước Việt Nam các ông vứt đi đâu.  Các ông có còn nhớ chăng những cuộc bầu cử Quốc Hội ở miền Nam dưới chính quyền Ngô Đình Diệm?  Các ông có còn nhớ chăng, ông Ngô Đình Diệm đã đắc cử tổng thống với trên 98% số phiếu, và riêng ở Saigon, ông Diệm đã chiếm được 20000 phiếu   nhiều hơn số cử tri?  Khi đó các ông ở đâu? làm gì? Và có cất lên một tiếng nói nào hay bày tỏ một thái độ nào không?

Đa đảng là bao nhiêu đảng?  Định nghĩa của đảng ra sao? Ai có quyền và phải hội đủ những điều kiện nào để có thể lập đảng?  Mấy “nhà dân chủ” trong nước họp nhau lại có thành một đảng không? Công Giáo có phải là một đảng không?  Mafia đen có phải là một đảng không?  Tự do ứng cử là tự do như thế nào?  Các nước văn minh là những nước nào, và văn minh như thế nào.  Mỹ có phải không?  Mỹ có bao nhiêu đảng?  Cho các ông biết, chỉ có một: đảng tài phiệt dưới hai tên: Cộng Hòa và Dân Chủ.   Các ông nên kiếm những cuốn Imperial America: The Bush Assault On The World Order của John Newhouse, Alfred A. Knoff, New York, 2003, và cuốn Selling Out: How Big Corporate Money Buys Elections, Rams Through Legislation, and Betray Our Democracy của Mark Green, ReganBooks, New York, 2002, để mở mắt ra và nhìn vào cái nước Mỹ “văn minh” nhất của các ông.  Nhưng trước hết, các ông hãy viết thư đòi Vatican “phải” dân chủ hóa chế độ giáo quyền, “phải” từ bỏ quyền bổ nhiệm các chức sắc Công Giáo địa phương, “phải” để cho các giáo hội địa phương được quyền bầu lấy các Hồng Y, Giám Mục v..v.. một cách độc lập, công khai theo nguyên tắc tự do ứng cử, và có Quốc tế giám sát công khai minh bạch.  Hoặc là các ông tuyên bố ly khai ra khỏi Công Giáo, tự đập tan những xiềng xích đang trói buộc mình, dù là xiềng xích tâm linh, sau đó hãy nói đến chuyện bầu bán tự do dân chủ ở Việt Nam.  Muốn có danh chính ngôn thuận thì các ông phải như vậy, nếu không thì đừng nên mở miệng nói đến Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ..

Còn Phạm Hồng Sơn?  Ông ta dịch bài “Thế nào là dân chủ” của Tòa Đại Sứ Mỹ ở Việt Nam để phổ biến cùng khắp rồi cùng với Nguyễn Gia Kiểng ở ngoại quốc, cho rằng đó là khuôn vàng thước ngọc về dân chủ, tự do dân chủ chỉ có một, một khuôn mẫu tự do dân chủ của Mỹ, không biết rằng bài “Thế nào là dân chủ” chỉ là một tài liệu tuyên truyền khoa trương, chỉ có giá trị trên mặt lý thuyết, chứ không phản ánh những sự thực về dân chủ ngay trên đất Mỹ và các thể chế dân chủ khác nhau trên thế giới.   Thật vậy, Jim Lobe đã viết trên trang nhà Asia Times một bài với đầu đề: Dân Chủ: Một Công Cụ Trong Tay Những Nhà Tân Bảo Thủ (Mỹ) (Democracy A Tool In Neo-Con Hands) với đoạn mở đầu như sau:

Trong những luận điệu lừa bịp mà những người Mỹ tân bảo thủ phạm phải trong nỗ lực đưa Hoa Kỳ vào cuộc chiến ở Iraq, luận điệu bền bỉ nhất là khái niệm về sự tận tụy của Mỹ trong sự phổ biến dân chủ theo chủ trương của Tổng Thống Wilson.  Là người đã theo dõi phong trào tân bảo thủ trong 30 năm qua, tôi thấy khó mà có thể chấp nhận được khái niệm này.

Sự nghi ngờ của tôi không chỉ căn cứ trên chính sách chọn lựa hiển nhiên của Mỹ.  Chúng ta chỉ cần nhìn vào sự ủng hộ của Mỹ đối với những chế độ độc tài ở Uzbekistan, Pakistan, Tunisia, và Jordan - đối chiếu với sự hăm hở xâm lăng Iraq của Mỹ nhân danh mang đến đó chế độ dân chủ - là có thể thấy những sự bất phù hợp rất hiển nhiên.

(Of the delusions that US neo-conservatives perpetrated in their drive to take the United States to war in Iraq, the most durable has been the notion that they are committed to the spread of Wilsonian democracy. As someone who has watched the neo-con movement over the past 30 years or so, I find this notion hard to accept.

My skepticism is based not only on their obvious selectivity. After all, one has only to look at their support for authoritarian regimes in Uzbekistan, Pakistan, Tunisia and Jordan - as opposed to their eagerness to invade Iraq in the name of bringing democratic rule there - to find some glaring inconsistencies.)

Trong bài này, tác giả đã đưa ra nhiều tài liệu về sách lược đa chuẩn (multi-standard) của Mỹ trên thế giới dưới chiêu bài dân chủ để xen vào nội bộ một số nước, mua chuộc một số chính khách tay sai ngu ngơ để gây ảnh hưởng và đạt được mục đích thủ lợi của Mỹ.  Đây là điều mà Mỹ đang nỗ lực thực hiện ở Việt Nam.  Tiền thì Mỹ không thiếu, và những người sẵn sàng bán rẻ lương tâm để mưu cầu danh tiếng, vinh hoa phú quý cũng không thiếu.

Tuy nhiên, chúng ta cũng thử tìm hiểu chút ít về tài liệu “Thế nào là dân chủ” (What is democracy) của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mà Phạm Hồng Sơn đã dịch và phổ biến.  Trong tài liệu này có nhắc đến lời của Tổng Thống Thomas Jefferson trong bản tuyên ngôn độc lập năm 1776: “Chúng ta coi những sự thực này như là hiển nhiên, rằng mọi người được sáng tạo ra bình đẳng, rằng họ được đấng sáng tạo ban cho một số quyền không thể bị tước bỏ, trong đó là quyền sống, tự do và theo đuổi hạnh phúc.” (We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain inalienable rights, that among these are life, liberty and the pursuit of happiness.)  Nói thì như vậy, nhưng chúng ta không nên quên rằng sau khi Thomas Jefferson nói như trên thì chế độ nô lệ càng ngày càng phát triển trên đất Mỹ.   Các Tổng Thống và giai cấp quý tộc hay địa chủ Mỹ đều có nô lệ trong nhà, trong các nông trại, trong các trại trồng bông v..v..  Còn nữa, trong một đoạn khác của bản văn “Thế nào là dân chủ” chúng ta có thể đọc: “Trong nước Mỹ, chỉ có người da trắng có tài sản mới có quyền chọn và được chọn [nghĩa là bầu và được bầu] khi bản Hiến Pháp được ký vào năm 1787... rồi phụ nữ được quyền đi bầu năm 1920.  Tuy nhiên người Mỹ da đen chỉ được quyền bầu phiếu ở miền Nam nước Mỹ khi phong trào tranh đấu cho nhân quyền nổi giậy vào thập niên 1960 [đúng ra là từ năm 1963] (In the United States, for example, only white male property holders enjoyed the right to elect and be elected when the Constitution was signed in 1787... and women won the right to vote in 1920. Black Americans, however, did not enjoy full voting rights in the Southern United States until the civil rights movement of the 1960s.)

Chúng ta thấy rõ, từ 150 năm cho đến gần 200 năm sau bản tuyên ngôn, phụ nữ và người da đen mới được quyền bình đẳng với người đàn ông da trắng.  Quyền bỏ phiếu bầu là một quyền căn bản trong thể chế dân chủ để chọn lựa đại diện theo quy luật đa số thắng thiểu số.  Vậy trên thực tế, Mỹ đã không đếm xỉa gì đến sự bình đẳng trong sự sáng tạo và những quyền mà đấng Sáng Tạo đã ban cho loài người.  50 năm trước, vào năm 1955, theo luật của bang Alabama, người Mỹ da đen còn phải nhường chỗ cho người da trắng trên xe ô-tô buýt và chỉ được ngồi phía sau của xe [Trên mổi xe buýt đều có bảng đề: White Forward, Black Rear]. Nhưng một bà Mỹ da đen, Rosa Parks, ở Montgomery, bang Alabama, đã không chấp nhận sự kỳ thị này, đã ngồi ở một ghế trống ở phía trước và từ chối không nhường chỗ cho người da trắng.   Bà ta bị bắt, bị kết án là vi phạm luật, và bị phạt $10 [năm 1955], gây nên phong trào tẩy chay xe buýt trong 381 ngày, và sự kỳ thị người da đen trên xe buýt phải bị dẹp bỏ sau đó.  Vụ này đã gây cảm hứng cho Dr. Martin Luther King khởi sự cuộc tranh đấu cho nhân quyền trên đất Mỹ trong đầu thập niên 1960.  Hiện nay, trên nước Mỹ những vụ kỳ thị lẻ tẻ dân da màu, trong này có cả da vàng, vẫn tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi tuy luật cấm kỳ thị đã được ban hành. Như vậy, Việt Nam có cần phải bước theo lộ trình đi tới  “tự do nhân quyền chỉ có một” (Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Gia Kiểng) và “tự do dân chủ vô giá” (Hoàng Minh Chính) của Mỹ hay không? 

Thực ra là, con người bình đẳng vì nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ, cùng tiến hóa từ các sinh thể ban khai, chứ chẳng có Đấng Sáng Tạo nào sáng tạo ra cả. Nếu đã không có đấng sáng tạo nào sáng tạo ra con người, và con người là do sự tiến hóa từ các sinh thể ban khai mà ra, như ngày nay mọi người đều công nhận, trừ một số trong phe Thiết Kế Ngu Đần của Tin Lành Mỹ, thì làm gì có các quyền mà đấng sáng tạo ban cho con người.   Điều rõ ràng là những quyền căn bản của con người là do sự tiến hóa của nhân loại tùy theo sự phát triển của mỗi xã hội và để thích ứng với sự mở mang của mỗi xã hội.   Bởi vậy mà ngày nay trên thế giới vẫn còn những sắc dân sống theo chế độ bộ lạc v..v.. Nếu chúng ta muốn nói đến quyền của đấng sáng tạo ban cho loài người, thì theo Kinh Thánh, quyền duy nhất của con người là chỉ được thờ phụng Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, nếu không thì sẽ bị đầy hỏa ngục, bị thiêu đốt trong ngọn lửa vĩnh hằng, như ông con sinh ra từ sự lăng nhăng của Thiên Chúa với vợ người ta, Giê-su, đã dạy trong Tân ước. Do đó câu của Jefferson nói ở trên đã trở thành vô nghĩa, lỗi thời.  Hơn nữa, Việt Nam đã có ý thức dân chủ từ nhiều thế kỷ trước khi Hoa Kỳ lập quốc.  Hội Nghị Diên Hồng là một thí dụ.  Chế độ làng xã, chiếm 80% các xã hội dân sự trên đất nước, là một thí dụ khác.   Cho nên, Việt Nam không cần phải học dân chủ từ Mỹ.  Phạm Hồng Sơn không đọc kỹ tài liệu “Thế nào là dân chủ” của Mỹ, không biết gì về nước Mỹ, không thuộc lịch sử nước nhà, không nắm vững tổ chức xã hội Việt Nam, nền văn hóa Đông phương, định mang một tài liệu đã lỗi thời của Mỹ, chỉ có giá trị trên đầu môi chót lưỡi, cùng định mang nền văn hóa Tây phương, nhập cảng về áp đặt trên đất nước Việt Nam.  Cũng như Hoàng Minh Chính, việc làm của Phạm Hồng Sơn là việc làm vô trí của một số trí thức dỏm. 

Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu về dân chủ Mỹ.   Về nền dân chủ Hoa Kỳ, chúng ta có một cuốn sách cổ điển Dân Chủ Ở Mỹ (Democracy in America), xuất bản năm 1835, của Alexis de Tocqueville, một tác giả người Pháp viết về những nhận xét của ông ta về nước Mỹ sau vài năm tham quan nước Mỹ.   Đây là một cuốn sách có nhiều giá trị lịch sử và được người Mỹ rất ưa chuộng cho tới ngày nay vì phần lớn nó chỉ nói lên những gì người Mỹ nghĩ về nước Mỹ, về “Huyền thoại Mỹ như là một thị trấn trên một ngọn đồi, uẩn hàm Mỹ là gương mẫu đạo đức cho phần còn lại của thế giới, một thế giới cho rằng sẽ đặc biệt ngưỡng mộ nước Mỹ, vì Mỹ là một dân tộc được [Thiên Chúa, lẽ dĩ nhiên của Ki Tô Giáo] chọn.”  Alexis de Tocqueville đã chứng kiến những cảnh hãi hùng trong chính trị và xã hội nước Pháp vào đầu thế kỷ 19, sau cuộc Cách Mạng 1789 của Pháp.  Điều này ảnh hưởng rất nhiều trong cuộc nhận xét của ông về nước Mỹ và ông thấy những khía cạnh xã hội, tôn giáo trên nước Mỹ cởi mở [vì đa số người Mỹ theo Phản Thệ Giáo (Protestantism) mà các nhà truyền giáo gọi là đạo Tin Lành trong khi thực sự chỉ là Tin Dữ], và tiến bộ hơn nước Pháp nhiều.  Nhưng ông thuộc giai cấp quý tộc Pháp, nên chế độ nô lệ trong nền “dân chủ” của Mỹ thời bấy giờ không thành vấn đề đối với ông và không làm ông quan tâm.  Do đó, ông đã bỏ qua, không nhìn thấy những cảnh nghèo khổ và bị áp bức của những người Phi Châu được nhập cảng vào làm nô lệ cho nền “dân chủ” của Mỹ, và sự khao khát được giải phóng của họ.  Và vì vậy, ông ta đã tổng quát hóa nhiều vấn đề trên nước Mỹ mà đối với giới trí thức ngày nay, không có cách nào có thể biện minh được [indefensible generalizations].

Tuy nhiên, Alexis de Tocqueville cũng đưa ra một số nhận xét khá tinh tế về nước Mỹ.   Sau đây là vài thí dụ:

1.  Khi chúng ta đào sâu vào đặc tính quốc gia của người Mỹ, chúng ta thấy rằng họ chỉ tìm giá trị của mọi thứ trong thế giới này trong câu trả lời của câu hỏi: nó mang đến bao nhiêu tiền?

(As one digs deeper into the national character of the Americans, one sees that they have sought the value of everything in this world only in the answer to this single question: how much money will it bring in? )

2.  Tôi không biết đến một nước nào mà trong đó con người lại ít có đầu óc độc lập và sự tự do thật sự trong sự thảo luận như vậy như trong nước Mỹ.

(I know of no country in which there is so little independence of mind and real freedom of
discussion as in America.)

3. Ở Mỹ, khối đa số có nhiệm vụ cung cấp vô số những quan niệm lập sẵn để cho những cá nhân dùng, và như vậyđối với họ cất bỏ được gánh nặng sự cần thiết tự mình có những quan niệm của mình.

(In the United States, the majority undertakes to supply a multitude of ready-made opinions for the use of individuals, who are thus relieved from the necessity of forming opinions of their own.)
4.  Mặt ngoài của xã hội Mỹ là một lớp sơn phết dân chủ, nhưng đôi khi người ta có thể thấy màu sắc quý tộc cổ xưa để lộ ra.

(The surface of American society is covered with a layer of democratic paint, but from time to
time one can see the old aristocratic colours breaking through.)

Cornel West, Giáo sư về Tôn Giáo, đại học Princeton, có viết trong cuốn Những Vấn Đề Dân Chủ (Democracy Matters, Penguin Press, New York, 2004) như sau, trang 45:

Tocqueville sợ rằng Mỹ sẽ tạo nên một dạng mới của chế độ chuyên chế trên thế giới – một chế độ chuyên chế dân chủ.   Chế độ chuyên chế này sẽ phạm tội diệt chủng những thổ dân Mỹ và không thể tạo nên một nền dân chủ đa sắc dân vì sự áp dụng ý tưởng sâu đậm về quan niệm người da trắng siêu việt ở trong nước của khối đa số bạo ngược.

(Tocqueville feared that America would produce a new form of despotism in the world – a democratic despotism.  This despotism would be guilty of genocide against indigenous peoples and unable to create a multiracial democracy owing to the deep white supremacist practices of the country’s tyrannical majority)

Điều Tocqueville sợ đã trở thành sự thật nếu chúng ta xét đến lịch sử tiêu diệt thổ dân Mỹ, thái độ trịch thượng của Mỹ, bất chấp Liên Hiệp Quốc, đơn phương xâm chiếm Iraq.  Chúng ta cũng biết rằng Mỹ đã rút khỏi hiệp ước cùng thành lập Tòa Án Quốc Tế Xử Tội Phạm (International Criminal Court = ICC) mà Mỹ đã ký kết là thành viên trong thời của Bill Clinton năm 2000.  Tại sao?  Vì Mỹ e rằng chính quân nhân Mỹ cũng như các nhà ngoại giao Mỹ có thể bị đưa ra tòa án này để chất vấn về những trường hợp Mỹ phạm những tội ác chiến tranh và những tội ác chống nhân loại.” [Ehsan Ahari trong Asia Times: It opposed the Icc “fearing its soldiers and diplomats could be brought before the court which will hear cases of war crimes and crimes against humanity”]  Hồ sơ chiến tranh Việt Nam là một trong những trường hợp này.  Ngoài ra, Mỹ cũng từ chối không dự phần trong Hiệp Ước Cấm Mọi Thử Nghiệm Làm Nổ Hạt Nhân (Comprehensive Nuclear Test Ban Treaty), Hiệp Ước Cấm Sử Dụng Mìn, và Bản Dự Thảo ở Kyoto  về tình trạng nóng dần của trái đất (Global Warming) mà Mỹ là quốc gia góp phần nhiều nhất để tạo nên tình trạng này.  Vậy rõ ràng là, như Tocqueville đã tiên đoán, Mỹ đã trở thành một “democratic despotism”.

Đưa ra những tài liệu như trên không có nghĩa là tôi bài bác Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ hay phản đối đi đến Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở Việt Nam.  Điều tôi muốn nêu ra ở đây là chúng ta không thể chỉ nói suông về Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ là tự nhiên sẽ có Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ.  Mọi sự đều có một quá trình hình thành thích hợp của nó. Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ cũng vậy.  Tự do tới mức độ nào, Nhân quyền trong những phạm vi nào, và dân chủ như thế nào.   Đó là những vấn đề cần phải định nghĩa rõ ràng và phải phù hợp với tình trạng xã hội, trình độ dân trí v..v.. của người dân Việt Nam. 

Làm người ai cũng khao khát có tự do, có những quyền căn bản của con người.   Nhưng con người không phải là một thực thể độc lập, riêng biệt, sống trên một ốc đảo, nên có thể làm bất cứ cái gì mình muốn.  Con người là một phần tử trong xã hội, do đó không thể có tự do tuyệt đối hay xử dụng nhân quyền tuyệt đối, mà những quyền này, sự tự do này, phải nằm trong khuôn khổ của luật pháp quốc gia và truyền thống xã hội quốc gia.   Như Giáo sư Chester E. Finn, Jr., đại học Vanderbilt đã nói trong một bài thuyết trình trước giới trí thức Nicaragua: “Con người có thể sinh ra với một sự khao khát về quyền tự do của mình, nhưng không sinh ra với một sự hiểu biết về những xếp đặt xã hội và chính trị có thể làm cho, qua thời gian, sự tự do này được thực hiện cho họ và cho con cái họ.. Những điều này họ phải học hỏi.” (People may be born with an appetite for personal freedom, but they are not born with knowledge about the social and political arrangements that make freedom possible over time for themselves and their children....Such things, they must be learned.)  Vậy muốn đi đến dân chủ, chúng ta cần phải học hỏi những điều kiện xã hội chính trị nào cần phải có để có thể đi tới tự do, dân chủ.

Mỗi quốc gia đều có một nền văn hóa đặc thù, cấu trúc xã hội riêng biệt, phù hợp với tâm lý quần chúng, lịch sử quốc gia.  Cho nên, chúng ta không thể mang những quan niệm về tự do, nhân quyền, và dân chủ của bất cứ quốc gia nào, nhất là của Mỹ, để  áp đặt trên đất nước Việt Nam.  Những quyền của con người, có thể thích hợp trong một quốc gia khác, nhưng có thể không thể thích hợp đối với Việt Nam.  Thật vậy, những quan niệm về Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở Tây Phương đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân.  Thí dụ về nước Mỹ, người dân Mỹ có những quyền tự do như quyền được mua súng, quyền bán những sản phẩm đồi trụy kích dâm, chiếu những phim ảnh thuộc loại XXX, quyền tù nhân được gọi điện thoại ra ngoài và do đó có thể tổ chức băng đảng đi phạm tội ác v..v.., do đó có thích hợp với Việt Nam không, và Việt Nam có nên nhập cảng  những quyền tự do của người dân Mỹ như trên không?   Chủ nghĩa cá nhân của Mỹ đã tạo nên một xã hội trong đó người dân luôn luôn bị ám ảnh bởi ba mục tiêu: tiếng tăm (nổi tiếng), tiền tài, và tình dục, và đây chính là những nguyên nhân đã làm cho nước Mỹ lên “tột đỉnh danh vọng”: chiếm giải quán quân về mọi tội ác trên thế giới theo thống kê của chính Mỹ.

Trong cuốn Asia Rising.., Jim Rohwer đã đưa ra một nhận xét khá đúng về sự khác biệt về quan niệm tự do của người Á Đông đối với Tâyphương:

Người Á Đông khao khát tự do nhưng chưa sẵn sàng để nuốt trọn chủ nghĩa cá nhân – và dân chủ là tín ngưỡng về chủ nghĩa cá nhân

( Jim Rohwer, Asia Rising: Why America Will Prosper as Asia’s Economies Boom, Simon & Schuster, N.Y., 1995, p. 333: Asians crave freedom but are not ready to swallow individualism whole – and democracy is an individualist creed.)

Bàn về tự do, dân chủ, và nhân quyền ở Á Châu, chúng ta không thể bỏ qua những nhận định xác đáng của Samuel P. Huntington, Giáo sư đại học Harvard, tác giả cuốn sách nổi tiếng The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order.  Giáo sư Huntington nhận định:

“Vì quyền lực Tây phương suy thoái, khả năng áp đặt những quan niệm về nhân quyền, tự do, và  dân chủ của Tây phương trên các nền văn minh khác cũng như sự hấp dẫn của những giá trị Tây phương cũng suy thoái theo.  Điều này đã xảy ra..” 

(Samuel P. Huntington, The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order, Simon & Schuster, NY, 1996, p. 92: As Western power declines, the ability of the West to impose Western concepts of human rights, liberalism, and democracy on other civilizations also declines and so does the attractiveness of those values to other civilizations.  It already has...)

Việt Nam là nước tiền phong trong công cuộc giải thể chế độ thực dân Tây phương trên thế giới.  Chế độ thực dân chấm dứt cộng với sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam, quyền lực Tây phương và Mỹ không còn như trước.  Cho nên ngày nay, Tây phương và Mỹ không còn khả năng áp đặt những quan niệm về Tự Do -Nhân Quyền - Dân Chủ và những cái gọi là “giá trị Tây phương” [Western values] lên các quốc gia Á Châu nữa.

Sự khác biệt về quan niệm tự do dân chủ giữa Đông và Tây là điều tất nhiên vì bản chất hai nền văn hóa khác nhau.  Đối với Á Đông, nền văn hóa Tây phương được coi là đồi trụy.   Tôn giáo thì hạ thấp con người xuống hàng súc vật (con chiên), kỹ thuật thì để đi cướp nước và thu vét tài nguyên như trong thời thực dân, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa vật chất đã biến con người thành những con thiêu thân vào những cách làm giàu, nhiều khi bất chính, tình dục và bạo lực (Wealth, Sex and Violence).  Nội dung những phim ảnh Holywood và các “show” trên TV là những bằng chứng rõ rệt nhất.   Người ta chỉ nhìn thấy cảnh giàu có vật chất ở Mỹ mà không buồn để ý đến câu hỏi: Tại sao Mỹ là nước văn minh nhất, tự do dân chủ nhất, mà lại có nhiều tội phạm và tệ đoan xã hội nhất trên hoàn cầu?  Tại sao hơn 50% cặp vợ chồng được Chúa kết hợp qua bí tích hôn phối lại đi đến ly dị?  Tại sao riêng trên nước Mỹ lại có mấy ngàn linh mục can tội loạn dâm với trẻ con và nữ tín đồ và Giáo hội Công Giáo đã phải bỏ ra cả tỷ đô-la để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của những “Cha cũng như Chúa”?   Và còn nhiều thống kê khác nữa về đủ mọi thứ tội ác.  Vậy thực chất nền văn minh Tây phương, thường được nhận là nền văn minh Ki Tô Giáo (Christian civilization), là như thế nào?

Riêng về vấn đề dân chủ,  Jim Rohwer, tác giả cuốn Asia Rising, đã đưa ra nhận xét sau:

 “Sau khi sống vài năm ở Á Châu tôi thấy rằng cái hố ngăn cách lớn nhất giữa giới trí thức Tây Phương và Á Châu là về vấn đề dân chủ. Ở Tây phương, dân chủ được coi như là chế độ chính quyền duy nhất mà một quốc gia văn minh phải theo...  Trái lại, nhiều tư tưởng gia sống ở Á Châu cũng xét đến ý tưởng dân chủ nhưng lý luận mạnh mẽ là, một loại chủ thuyết độc đoán nào đó thì tốt hơn là dân chủ tự do và vô trách nhiệm. Điều này thật là dễ hiểu. Ở Á Châu ngày nay, chính phủ độc đoán thường không đưa đến sự gian khổ và chiến tranh mà là hòa bình, thịnh vượng, và bình đẳng.”

(Jim Rohwer, Ibid., pp. 322-323: I realized after living in Asia for a few years that probably the world’s biggest intellectual gulf among highly educated people lay between Westerners and Asians on the subject of democracy.  In the West democracy is generally thought to be the only form of government by which a civilized society should consider running itself....By contrast, many thoughtful people living in Asia are open to the idea, and sometimes argue it vigorously, that a certain kind of authoritarianism is better than a freewheeling democracy.  This is understandable.  In modern Asia, authoritarian government has often brought not hardship and war but instead peace, prosperity, and equality.)

Giáo sư Huntington (Ibid., trang 93) là người nghiên cứu kỹ về Á Châu hơn ai hết, đã viết:

Trong vài thế kỷ, Đông phương ngưỡng mộ sự phát triển kinh tế, kỹ thuật, thế lực quân sự và chính trị Tây phương.  Nhưng trong những thập niên cuối thế kỷ 20, Đông phương đã tìm ra phương sách phát triển kinh tế và kỹ thuật của chính mình mà không cần phải nhập cảng văn hóa Tây phương.  Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Mã Lai Á, Tân Gia Ba, Nam Dương (những nước ở Đông Á và Đông Nam Á trừ Phi Luật Tân) đều cho rằng nguyên nhân sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế của họ là ở nền văn hóa của họ chứ không phải là nền văn hóa Tây phương.  Họ thành công là vị họ khác với Tây phương...Những giá trị Tây phương đã bị loại bỏ theo nhiều cách, nhưng không kém cương quyết ở Mã Lai, Nam Dương, Tân Gia Ba, Trung Quốc, và Nhật Bản

(East Asians attribute their dramatic economic development not to their import of Western culture but rather to their adherence to their own culture.  They are succeeding, they argue, because they are different from the West... Western values are rejected in different ways, but no less firmly, in Malaysia, Indonesia, Singapore, China, and Japan). Với sự vươn lên của Á Đông, thời đại mà “Hoa Kỳ hắt hơi, Á Đông bị cảm” đã qua (The days when the US sneezed and Asia caught cold are over), và theo một lãnh tụ Á Đông thì ngày nay “ngay cả một cơn sốt nặng ở Mỹ cũng không làm cho Á Châu ho” (even a higher fever in America will not make Asia cough).

Những yếu tố nào đã khiến cho những nước như Tân Gia Ba (Singapore), Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản và cả Trung Quốc tiến mạnh trong chương trình hiện đại hóa.   Có ba yếu tố  chính: tinh thần quốc gia, văn hóa dân tộc, và những giá trị được mệnh danh là “giá trị Á Đông” (Asian values), đặt quyền lợi của tập thể lên trên quyền lợi cá nhân.  Chúng ta đã biết, Thủ Tướng Lý Quang Diệu đã thành công ở Tân Gia Ba như thế nào?  Khi được hỏi về “dân chủ”, ông ta đã trả lời: “Dân Chủ?  Tốt đấy, nhưng đùng có đi quá độ” (Democracy?  It’s good, but don’t overdo it).  Tại sao Lý Quang Diệu lại thành công ở Tân Gia Ba?  Ông ta hiện đại hóa kinh tế, hiện đại hóa xã hội, hiện đại hóa nền giáo dục, người dân được tiếp xúc với những thông tin cập nhật trên thế giới, nhưng vẫn giữ độc quyền chính trị, không cho phép đối lập, hạn chế quyền tự do báo chí, cấm nhập cảng một số báo chí ngoại quốc, cấm cả người dân nhai kẹo cao su nơi công cộng v..v…  Nói tóm lại, Tân Gia Ba (Singapore) không phải là một nước dân chủ nhưng lợi tức trên đầu người rất cao, vào khoảng $26000/năm.

Những người chống Việt Nam thường mang mấy nước như Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản ra so sánh mà không hề để ý đến hoàn cảnh xã hội chính trị của các quốc gia trên.  Họ quên rằng, Nam Hàn, Đài Loan, và Mã Lai đều bị cai trị bởi những chế độ độc tài quân phiệt hay độc đảng trong nhiều thập niên, từ 1950 đến 1980.   Tất cả đều đi theo một mô thức:   Độc quyền mở mang kinh tế thị trường, rồi kinh tế được giải phóng dần dần, nghĩa là không hoàn toàn nằm trong tay chính quyền, chính quyền kiểm soát nhưng không quản trị, vai trò của tư nhân trong kinh tế ngày càng gia tăng, giáo dục mở mang, trình độ dân trí gia tăng, lợi tức trên đầu người tăng, tổng sản lượng quốc gia tăng, giới trung lưu càng ngày càng có nhiều, khả năng chuyên môn phát triển tiến bộ v..v.., cộng với sự thành hình một hệ thống luật pháp nghiêm minh, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, rồi từ đó, vài chục năm sau mới đi đến dân chủ.  Một yếu tố then chốt trong lộ trình đi đến dân chủ trên là các nước trên không có chiến tranh, không có thù hận, không có các chống phá từ bên ngoài, và được Mỹ tiếp tay hỗ trợ vì quyền lợi kinh tế, chính trị và quân sự của Mỹ. 

Trái lại, Việt Nam thì hoàn toàn kiệt quệ sau cuộc chiến, bị Mỹ ép, cấm vận trong 19 năm, sự thù hận được nuôi dưỡng và kéo dài triền miên ở hải ngoại, và những thế lực đen ở hải ngoại luôn luôn tìm cách chống đối, yêu cầu Mỹ đừng bỏ cấm vận, hô hào dân di cư đừng trở về Việt Nam, đừng gửi tiền về Việt Nam.  Những hành động phi dân tộc, phản dân tộc này đã không hề mang lại một kết quả nào.  Mỹ muốn bỏ cấm vận khi thấy không còn cần thiết thì cứ bỏ, người Việt di cư muốn về thăm quê hương thì cứ về, muốn gửi tiền về Việt Nam thì cứ tự do gửi.  Tại sao?  Vì đâu có phải là tất cả những người Việt di cư đều thuộc lớp người cuồng tín đi buôn thù hận, nhất lại là sự thù hận một chiều.

Giáo sư Cornel West (Ibid., trang 203) viết:

“Dân chủ không đơn giản chỉ là một hệ thống bầu cử đa nguyên đa đảng mà trong đó người dân được quyền bỏ phiếu và những viên chức được bầu phải tranh cử để được quần chúng ủng hộ (hay tìm cách vận động quần chúng bầu cho họ, hay gian lận hệ thống bầu cử để giới hạn sự tranh cử, như là trường hợp thường xảy ra ở Mỹ ngày nay)… Một nền dân chủ thực sự, mạnh,  phải được xây dựng từ ý niệm về dân chủ cá nhân, dân chủ cộng đồng, và dân chủ xã hội.”

(Democracy is not simply a matter of an electoral system in which citizens get the right to vote and elected officials must compete for the public’s favor (or find ways to manipulate the public into favoring them, or rig the electoral system to limit competition, as is too often the case today in America)…Genuine, robust democracy must be brought to life through democratic individuality, democratic community, and democratic society.)

Giáo sư West viết không sai.  Điều hiển nhiên nhất mà chúng ta có kinh nghiệm là những cuộc bầu cử dân chủ, đa nguyên đa đảng ở miền Nam trước đây dưới những triều Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu.  Ai nói là trong những cuộc bầu cử này không có gian lận, không có xếp sắp từ trước, và không có giới hạn sự tranh cử để loại trừ những ứng cử viên đối lập nhưng bị cho là không hợp lệ v..v.. thì xin lên tiếng.  

Fareed Zakaria cũng viết (Ibid., p. 18):

“Ở một vài nơi như ở Trung Á, những cuộc bầu cử đã dọn đường cho những chế độ độc tài.  Thí dụ, cả Nam Tư (Yugoslavia) và Nam Dương (Indonesia) đã thoải mái và thế tục hơn rất nhiều khi được cai trị bởi những nhà độc tài (Tito và Suharto) hơn là dưới các chế độ dân chủ ngày nay.  Những quốc gia mới thành dân chủ thường là những chế độ dân chủ giả bộ, đưa đến những sự vỡ mộng, hỗn loạn, bạo lực, và dạng thức mới của chuyên chế.  Hãy nhìn vào IranVenezuela.”

(In some places, such as in Central Asia, elections have paved the way for dictatorships.  Both Yugoslavia and Indonesia, for example, were far more tolerant and secular when they were rules by strongmen (Tito and Suharto) than they are now as democracies… Newly democratic countries too often become sham democracies, which produce disenchantements, disarray, violence, and new form of tyrrany.  Look at Iran and Venezuela.)

Đưa ra những tài liệu như trên không có nghĩa là tôi cho rằng Việt Nam không nên đi đến dân chủ.  Trái lại, dân chủ là mục tiêu mà Việt Nam cần phải đạt tới, càng sớm càng tốt.  Nhưng đạt tới như thế nào, đó là cả một vấn đề.  Con đường chuyển từ độc tài đến dân chủ thực sự, phù hợp với tình trạng xã hội, trình độ dân trí v..v.. không phải là đơn giản.  Fareed Zakaria đã đưa ra hai con đường điển hình khác nhau: của Nga  và của Trung Quốc.  Zakaria viết,   (Ibid., p. 91):

“Sau Cộng Sản, Nga tiến nhanh tới bầu cử tự do và công bằng với hi vọng là nó sẽ tạo nên kiểu dân chủ tự do của Tây phương.  Nga cũng phát động một sự cải cách kinh tế, vào đầu thập niên 1990, với hi vọng là nó sẽ tạo nên nền tư bản kiểu Tây phương, nhưng hầu hết đều không có kết quả.  Nói một cách thật đơn giản thì Trung quốc đổi mới kinh tế trước chính trị, và Nga thì làm ngược lại.

Ngày nay, Nga là một nước tự do hơn Trung Quốc.  Nga tôn trọng quyền cá nhân và tự do báo chí hơn, và ngay cả nền kinh tế của Nga, theo lý thuyết, cũng được mở cho cạnh tranh và đầu tư của nước ngoài.  Trung Quốc vẫn là một quốc gia khép kín cai trị bởi đảng Cộng Sản, nhưng Trung Quốc đang tích cực cho tự do ở nhiều mặt, phần chính là về kinh tế và quyền hợp pháp.  Đường lối nào sau cùng sẽ chứng tỏ là con đường ổn định hơn để đi tới dân chủ?  Nếu sự phát triển kinh tế và một lớp trung lưu là những chìa khóa để duy trì nền dân chủ thì Trung quốc đang đi đúng đường.  Nền kinh tế của Trung quốc đã gia tăng mạnh mẽ trong vòng 25 năm qua, ngược lại, tổng sản lượng quốc gia của Nga, đã giảm 40% kể từ 1991. 2 bài học chính về dân chủ: nhấn mạnh sự phát triển thực sự về kinh tế và xây dựng những định chế chính trị hữu hiệu.  Moscow đã thất bại trong cả hai.” [Cũng vì đi sai đường, không có kết quả, nên gần đây, tổng thống Nga Putin có khuynh hướng trở lại độc tài và đã thi hành vài biện pháp độc tài]

(After Communism, Russia moved rapidly to free and fair elections in the hope that they would produce Western-style liberal democracy.  It also initiated a burst of economic reforms, in the early 1990s, in the hope that this would produce Western-style capitalism, but most didn’t work.   To oversimplify, China is reforming its economics before its politics, whereas Russia did the reverse.

Today, Russia is a freer country than China.  It has greater respect for individual rights and press freedoms, and even its economy is in theory more open to competition and foreign investment.  China remains a closed society run by the Communist Party, but it is being steadily liberalized along several fronts, chiefly economic and legal.  Which will ultimately prove to have taken a more stable route to liberal democracy?  If economic development and a middle class are keys to sustaining democracy, China is moving in the right direction.  Its economy has grown dramatically over the last 25 years, Russis’s GNP, by contrast, has shrunk almost 40% since 1991.  2 key lessons: emphasize genuine economic development and build effective political institutions.   Moscow failed in both counts.)

 Việt Nam đang đi theo con đường nào?  Tôi không đủ thông tin để biết rõ, có vẻ như đang đi đúng đường nhưng chậm chạp.   Tôi tin rằng, nếu Việt Nam đi đến dân chủ một cách khôn ngoan và cẩn trọng, thì chính quyền có thể có cơ hội giữ vũng quyền lực và nền tảng chính trị của mình.  Vấn đề là ở chỗ thế nào là khôn ngoan và cẩn trọng.  Như là một quy luật, trước hết, chính quyền phải kiểm soát được người dân nhưng cùng lúc phải mở mang dân trí, giáo dục người dân về ý thức dân chủ trong trách nhiệm, rồi chính quyền phải kiểm soát được chính mình, nghĩa là không để cho tham nhũng, hối mại quyền thế, bao che lẫn nhau, bao cấp v..v.. được lan tràn trong chính quyền đến độ không kiểm soát được.  Tự kiểm soát và kiểm soát được người dân chính là hai yếu tố đưa đến một chính quyền hợp pháp, sự ổn định và thịnh vượng trong xã hội, và rồi dân chủ thực sự sẽ thành hình.  Nhưng còn một yếu tố khác không kém phần quan trọng.  Đó là, một khi nền kinh tế được hiện đại hóa theo đường lối tư bản, và từ đó đưa đến một giai cấp tiểu tư sản, thì hệ thống chính trị cũng phải thay đổi sao cho phù hợp với những sự thay đổi trong xã hội này.  Một hệ thống chính trị không thích hợp với tình trạng mới thì không tránh được sự tự đào thải và kéo theo sự đào thải của hệ thống quyền lực đã từng được duy trì bởi hệ thống chính trị này.

© Copyright 2005 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com