TẢN MẠN & TẢN MẠN:
Lời Nói Đầu. Trước
đây, trên Trang Nhà Giao Điểm, tôi đã viết một số bài về những vấn
đề Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo. Nếu
muốn, quý độc giả có thể kiếm những bài như “VÀI NHẬN XÉT VỀ VẤN
ĐỀ TRANH ĐẤU CHO NHÂN QUYỀN & TỰ DO TÔN GIÁO Ở HẢI NGOẠI” và
““NHÂN QUYỀN“! CỦA AI & CHO AI?”
còn lưu trữ trên Trang Nhà Giao Điểm. Tôi
cũng đã viết về Dân Chủ qua bài “BI KỊCH PHẠM HỒNG SƠN”. Trong Phần III của loạt bài này, tôi xin viết
thêm một số ý kiến về những vấn đề trên xuyên qua những thông tin mới. Nếu có vài chỗ nhắc lại một vài tài
liệu trong các bài trước, xin quý độc giả thông cảm. * Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ là những
vấn đề sôi bỏng trong thời buổi ngày nay.
Nhất là khi chúng là những sản phẩm mà Mỹ muốn xuất cảng
và áp đặt trên toàn thế giới, ngoài Wal Mart, Starbuck, Coca Cola, McDonald,
và phim ảnh Holywood phần lớn là về tình dục và bạo lực (sex and
violence), và tất nhiên, theo sách lược đa chuẩn (multi-standard) cố hữu của
Mỹ. Vài người Việt Ngoài những trí thức dỏm với những
lý thuyết dỏm về Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ như trên, nhìn vào những
hành động cụ thể của một số người hăng say nhất ở hải ngoại
tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở trong nước, tôi có cảm tưởng
là, không phải là họ tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ, mà là chống
bất cứ cái gì của Việt Nam, nấp sau chiêu bài chống Cộng và chiêu bài
tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ, nhưng thực chất là nhân danh nước
Chúa chống nước Việt Nam. Đúng
vậy, bất cứ người nào, hay đoàn thể nào, từ Việt Nam ra ngoại quốc
[trừ mấy ông Giám mục, Linh mục Công Giáo tấp nập xuất ngoại để moi
tiền giáo dân], bất kể thuộc giới nào có đôi chút ảnh hưởng đến
quần chúng: tôn giáo khác Công giáo, văn nghệ sĩ, ca nhạc, thơ văn, kịch
nghệ v..v.. cũng đều bị chống. Nói
cách khác, không phải là họ chống Cộng Sản mà là chống toàn thể nước
Việt Nam, chống văn hóa Việt Nam, chống một cách hung hăng vô lối, chống
một cách cuồng tín, hạ cấp, và nhất là chống một cách phi Tự Do-Nhân
Quyền-Dân Chủ. [Xin đọc những bài “Khủng Bố Ca Sĩ”, “Xin Đừng Hăm Dọa
Chúng Tôi”, “Biểu Tình Lạc Mục Tiêu” v..v.. trên trang nhà Chuyển
Luân]. Tôi không thể không tự hỏi:
“Thật ra những người này có hiểu thế nào là Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ
hay không? Phải chăng họ đã bị điều
động bởi một thế lực đen đã nổi tiếng là phi dân tộc và đang tiếp
diễn màn phản dân tộc ở hải ngoại?” Ở
trong nước, họ thường đồng nhất hóa vài nhân vật trong tôn giáo là
chính tôn giáo: Nguyễn Văn Lý, Chân Tín v..v.. chính là Công Giáo, Nguyễn Hồng
Quang chính là Tin Lành, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ chính là Phật
Giáo v..v.., đồng nhất hóa chính trị của vài cá nhân như Phạm Hồng
Sơn, Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự v..v.. là chính trị của cả dân tộc,
và ở hải ngoại, đồng nhất hóa vài hành động ngu ngơ vô trí tuệ của
một số nhỏ cực đoan, cuồng tín, chính
là hành động của toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại, không cần
để ý đến sự chia rẽ sâu đậm giữa các tổ chức, hội đoàn ở hải
ngoại, và sự thờ ơ của tuyệt đại đa số người Việt di cư.. Thực chất sự tranh đấu cho Tự
Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở trong nước ra sao?
Điển hình là hai nhân vật Nguyễn Văn Lý, Phạm Hồng Sơn, cùng
những chính trị gia nửa mùa nấp bóng ngoại bang, hồ hởi, hãnh diện khi
được uống sâm banh trong Tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam nhân ngày lễ Độc
Lập của Mỹ. Những bộ mặt Lê
Chiêu Thống tân thời này làm sao có thể thuyết phục được người dân
Việt, vốn có lòng yêu nước cao độ, luôn luôn khinh ghét những người dựa
hơi ngoại bang? Có những người
cảm thấy mình rất là quan trọng khi được đến điều trần tại quốc
hội hay hạ viện Mỹ để “mách bu”, không biết rằng Mỹ đang sử dụng
mình như con tốt đen để đạt những mục tiêu riêng của Mỹ. Lại có những người luôn luôn đưa ra những
luận điệu tâng bốc quan thầy như hạ viện Mỹ đã làm luật Nhân Quyền
cho Việt Nam, hay quốc hội Mỹ đã làm luật về tự do tôn giáo để áp dụng
cho cả thế giới, hay Mỹ xếp Việt Nam vào một trong những nước đáng
quan tâm về tự do tôn giáo, làm như Mỹ đang là ông chủ của cả thế giới,
nắm vận mệnh của nước Việt Nam trong tay, nên có thể làm luật thay cho
Quốc Hội Việt Nam. Những người này
quên rằng Mỹ đã “không thắng” được ở Việt Nam và phải trở về
Mỹ “trong danh dự” với “hội chứng Việt Nam” còn kéo dài cho tới
ngày nay. Một trường hợp gần đây làm cho Mỹ
bẽ mặt vì thái độ trịch thượng của mình.
Trong cuộc viếng thăm Trung Quốc, bộ trưởng quốc phòng Mỹ
Donald Rumsfeld “lên lớp” Trung Quốc là đã gia tăng ngân sách quốc phòng
lên tới 30 tỷ đôla, làm cho thế giới e ngại về sự bành trướng quân
sự của Trung Quốc. Trung Quốc cười
xòa và trả lời: “Tại sao Mỹ lại
cứ thích xía vào nội bộ của các nước khác.
Trung Quốc có 1.4 tỷ dân, với ngân sách quốc phòng là 30 tỷ,
trong khi Mỹ chỉ có 300 triệu dân mà ngân sách quốc phòng là 400 tỷ. Thế là thế nào??” Cho nên, những người cứ mang luật của
quốc hội hay hạ viện Mỹ ra để mà chống “Việt Cộng” là những người
đần, không hiểu gì về chính trị quốc tế.
Nếu luật của Mỹ và sự “đáng quan tâm” của Mỹ có một
giá trị gì, thì ngày nay trên thế giới đã không còn “Trung Cộng”, “Việt
Cộng”, “Cuba”, “Bắc Hàn”, “Iran”, “Syria”, “Sudan” và các nước
khác trong khối Hồi Giáo hay ở Phi Châu v..v.. Những hạng người như trên chỉ chứng tỏ
cho quần chúng biết rõ mình là những hạng người nào, và kiến thức của
họ ở mức độ nào. Họ đâu có biết rằng, phê bình đạo
luật về tự do tôn giáo của Hoa Kỳ, Giáo sư luật tại đại học Emory,
Abdullahi Ahmed An-Na'im nói: "Nhiều người
nhớ lại những lời hoa mỹ thiên Ki Tô trước đây và tin rằng Hoa Kỳ chỉ
quan tâm đến sự hỗ trợ các thừa sai Mỹ ở ngoại quốc."( Rồi một ông cụ nổi tiếng vì tranh
đấu cho Dân Chủ, được Nhà Nước cho phép đi Mỹ “chữa bệnh”, lý
do để xin được xuất ngoại, nhưng lại đến đại học Harvard xun xoe “báo
cáo” về lý thuyết Mác-Lê, nguyên văn: “Trước
hết tôi xin phép có lời trân trọng nhất vô cùng cảm ơn Ngài Giám đốc
rất tôn kính, ngài Lawrence H. Summers, đã
cho tôi hân hạnh lớn nhất được báo cáo hôm nay trước các Quý vị
tại trường Ðại học Harvard tiếng tăm nhất thế giới này. Chủ đề
tôi xin phép báo cáo là “Chủ nghĩa Marx và hệ lụy” được thu gọn
trong Tuyên Ngôn của Ðảng Cộng Sản..” Cụ
Hoàng Minh Chính ơi là cụ Hoàng Minh Chính! Cụ
làm như Mỹ không biết gì về chủ nghĩa Marx.
Chắc cụ Hoàng Minh Chính chưa đọc một cuốn sách nào trong rừng
sách của Mỹ viết về chủ nghĩa Marx, cho nên cụ “đánh trống qua cửa
nhà sấm”, đến báo cáo cho đại học Harvard về chủ nghĩa Marx, một đại
học nổi tiếng về những công cuộc nghiên cứu trong mọi bộ môn và có
một rừng sách về chủ nghĩa Marx trong thư viện của trường. Hơn nữa, cụ có biết rằng những câu có
tính cách xun xoe, khúm núm như “tôi xin phép có lời trân trọng nhất”
và “tôi
xin phép báo cáo” chưa từng
bao giờ thấy xuất hiện trong những cuộc nói chuyện hay thuyết trình ở các trường đại học Mỹ không? Một nhóm nào đó ở Harvard mời cụ đến,
nghĩa là muốn nghe cụ nói về vấn đề gì đó, thế mà cụ vẫn còn phải
“xin phép để báo cáo” cùng họ về
một chủ đề mà cụ có học cho đến chết cũng không hết những điều
họ đã biết về chủ nghĩa Marx. Kiểu
“lễ phép” này lạc hậu, lạc chỗ, không thích hợp trong môi trường
đại học, nhất là đại học Mỹ. Người
ta mời cụ đến với hi vọng được nghe những điều mới lạ, nhưng cụ
thử đọc lại những điều cụ nói xem có gì mới lạ, hay chẳng qua chỉ
là những luận điệu đã cũ mèm, lỗi thời từ lâu. Tại sao cụ lại đi
làm trò cười cho thiên hạ như vậy và để lòi sự hiểu biết vô cùng
giới hạn của mình ra. Rất có
thể cái nhóm nào đó ở Harvard đã tổ chức, gọi cụ đến để cho cụ
chống Cộng trong khuôn khổ một đại học nổi tiếng, làm cho cụ có vẻ
nổi tiếng và rồi chống Cộng hăng hơn theo đơn đặt hàng của họ. Còn nữa, trong hội nghị Họp Mặt
Dân Chủ 2005, cụ còn đoán mò: “Ðại Hội
X đảng CSVN trong năm tới 2006 chẳng hứa hẹn một điều gì sáng sủa.”
khi Đại Hội chưa họp và chưa biết nội dung Đại Hội ra sao. Cũng trong cái gọi là hội nghị Họp Mặt
Dân Chủ 2005 này, hành động ngoạn mục nhất của cụ là lên tiếng ca tụng
quan thầy Mỹ như sau: Trong
lễ tuyên thệ nhậm chức kỳ hai, đầu năm 2005, Tổng Thống George W. Bush
đã long trọng tuyên bố: "Chính Sách của Hoa Kỳ là tìm kiếm và hỗ trợ
sự phát triển của các phong trào và thể chế dân chủ ở mọi quốc gia
và mọi nền văn hóa với mục tiêu cuối cùng là chấm dứt các chế độ
chuyên chế trên thế giới" Bush tuyên bố thì mặc Bush tuyên bố,
chẳng có mấy người để ý, vì Bush đã nổi tiếng là tuyên bố ẩu tả
từ lâu rồi, và cả thế giới đã biết tự do dân chủ chỉ là những
chiêu bài của Mỹ để xen vào nội bộ các nước, cụ không biết hay sao? Có phải là cụ cho rằng “miệng kẻ sang
có gang có thép”, nhưng Bush đâu có phải là kẻ sang gì, chỉ là với cương
vị Tổng thống của một cường quốc đang áp dụng chính sách “cường
quyền thắng công lý”, bị cả thế giới dè bỉu, và tờ Daily Mirror ở
bên Anh đã cho rằng 52% người dân Mỹ bầu cho Bush là những dân ngu
(stupid), chứ thực ra Bush có bao nhiêu trí tuệ với IQ bằng nửa Clinton. Đúng là cụ nói trong cơn mơ, vì
không hiểu sách lược đối ngoại của Mỹ ra sao qua những chiêu bài có
tính cách khoa trương là xuất cảng tự do và dân chủ. Cụ không biết rằng khi Bush bị phanh phui
là đã đưa ra những bằng chứng giả tạo về vũ khí giết người hàng
loạt của Iraq, và Iraq có dính líu trong vụ 9-11 ở New York, để được sự
ủng hộ của quần chúng, có cớ xâm chiếm (invasion and occupation) Iraq, thì
Bush mới đổi sang luận điệu là mang tự do dân chủ đến Iraq trong khi
trước đó Mỹ đã từng ủng hộ Saddam Hussein.
Cụ quên rằng Mỹ đã “
trút lên đầu dân tộc Việt Nam 7 triệu tấn bom, hơn gấp đôi tổng số
bom thả xuống Âu Châu và Á Châu trong đệ nhị thế chiến, tính trung
bình một quả bom nặng khoảng 230 ki-lô (500 lbs) cho mỗi đầu người Việt
Nam, trên đất nước Việt Nam có khoảng 20 triệu hố bom, thuốc độc khai
quang Agent Orange trải để phá hại cây cỏ, mùa màng trên một diện tích
bằng bang Massachusetts và ảnh hưởng độc địa của loại thuốc này còn
di hại đến ngày nay. CIA ở Việt Nam, trong chiến dịch Phụng Hoàng đã
bí mật giết không xét xử ít nhất là 20000 dân ở nam Việt Nam nghi là Cộng
Sản nằm vùng…(Howard Zinn, A People’s History of the US, 1492-Present,
HarperCollins Publishers, New York, 1999, p. 478: By
the end of the Vietnam war, 7 million tons of bombs had been dropped on Vietnam, more than
twice the total bombs dropped on Europe and Asia in World War II – almost one 500-pound
bomb for every human being in Vietnam. It was
estimated that there were 20 million bomb craters in the country. In addition, poisonous sprays were dropped by
planes to destroy trees and any kind of growth – an area the size of the state of Về Linh mục Nguyễn Văn Lý, tôi nghĩ
rằng, ông ta cũng như các tín đồ Công Giáo Việt Nam, từ Hồng Y trở xuống,
đều không có tư cách nói về Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ, khoan nói đến
chuyện đòi hỏi. Tại sao? Vì họ đang sống như những con chiên, bị
Giáo hội Công Giáo kiểm soát từ ngày sinh ra cho đến ngày chết qua những
nghi thức tôn giáo thuộc loại vô lý và mê tín nhất. Nói khác đi, họ đang sống trong sự lệ
thuộc một định chế thế tục nấp sau bộ mặt tôn giáo, một định chế
tôn giáo phi tự do dân chủ nhất hoàn cầu và không hề có ý niệm gì về
nhân quyền trong suốt 2000 năm lịch sử. Những người mà thực chất
không có quyền tự do suy nghĩ, không có quyền tự do phát biểu ý kiến, răm
rắp tuân lệnh từ Vatican đưa xuống, có những lệnh đối ngược với
quyền lợi quốc gia Việt Nam như lịch sử đã chứng minh, hãy tự vắt
tay lên trán tự hỏi xem mình có đủ tư cách để lên tiếng tranh đấu
cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở trong nước hay không? Tôi không có viết sai sự thực đâu. Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn “Tương Lai Của Tự Do: Dân Chủ Phi Tự Do ở Trong Nước [Mỹ] và
ở Hải Ngoại” (The Future of Freedom: Illiberal Democracy at Home and Abroad,
W.W. Norton & Co., New York, 2003) của Fareed Zakaria, Ph.D. Harvard, chủ biên tờ
Newsweek quốc tế, nhà phân tích chính trị cho đài ABC, viết về Nghịch Lý Của Công Giáo (The Paradox of
Catholicism), trang 33: Văn
hóa (của đế quốc) La Mã trở thành văn hóa Công Giáo. Cho tới ngày nay, những ý tưởng và cấu trúc của Giáo hội Công
Giáo – với tính cách phổ quát của nó, hệ thống giáo quyền của nó,
những luật lệ của nó – đều dập theo khuôn của đế quốc La mã. Là một
định chế, nó không đứng về phía Tự Do của tư duy, hoặc ngay cả cho tới
gần đây, chấp nhận sự khác biệt của các niềm tin. Thật ra, trong thời Trung Cổ, khi quyền lực
của nó lên cao, nó trở thành càng ngày càng bất khoan dung và đàn áp, nhấn
mạnh trên những tín lý và sự tùng phục tuyệt đối (của tín đồ),
và sử dụng những phương cách tàn nhẫn để
nghiền nát mọi chống đối. Cho tới ngày nay, cấu trúc của nó vẫn
là một hệ thống giáo quyền và chuyên quyền độc đoán. (The culture of Nhận định của Fareed Zakaria cũng giống
như nhận định của triết gia người Anh, Thomas Hobbes, về Giáo hội Công
Giáo La Mã, là: “Hồn ma của đế quốc
La Mã đã chết, đội vương miện ngồi trên nấm mồ của mình” (The
Roman Catholic Church is the ghost of the deceased Roman Empire sitting crowned upon its
grave). Vậy Linh Mục Lý cũng như những người
Công Giáo tranh đấu cho Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở Việt Nam có dám phủ
nhận sự kiện trên không, có dám phủ nhận là mình đang ở trong một định
chế như trên không, có dám khẳng định là Giáo hội Công Giáo Việt Nam
có quyền tư duy độc lập đối với Vatican, không tuyệt đối phục tùng
Vatican hay không, không theo những tín lý thuộc loại hoang đường mê tín của
Vatican không? Nếu không dám thì sự
tranh đấu cho tự do tôn giáo của Linh mục Lý et al.. là tranh đấu cho người
Công Giáo được quyền làm nô lệ, tuyệt đối phục tùng Để có đủ tư cách tranh đấu cho Tự
Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt
Nam phải tuyên bố dứt khoát độc lập với Vatican. Người Việt Với bản chất nô lệ như trên thế
mà gần đây, mấy ông linh mục Têphanô
Chân Tín, Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tađêô Nguyễn Văn Lý, Phêrô Phan Văn Lợi,
những người đang sống dưới một chế độ giáo quyền phi dân chủ, lại
dám tự nhận là đại diện cho một số nhà Dân Chủ Việt Nam, viết thư:
Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam
trong và ngoài nước, và đòi Nhà Nước Việt Nam, nguyên văn: Chúng
tôi yêu cầu Nhà nước Việt Nam phải tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội
năm 2007 theo nguyên tắc Đa đảng, Tự do Ứng cử, Tự do Bầu cử như tại
các Nước văn minh, có Quốc tế giám sát
công khai minh bạch. Như vậy là yêu cầu Nhà Nước hay bắt
Nhà Nước “phải” ...? Sống trong định
chế Công Giáo lâu rồi, làm nô lệ Vatican quen rồi, nên nay mấy ông cũng
đòi phải có quốc tế giám sát cuộc bầu cử Quốc Hội Việt Nam? Chủ quyền của nước Việt Đa đảng là bao nhiêu đảng? Định nghĩa của đảng ra sao? Ai có quyền
và phải hội đủ những điều kiện nào để có thể lập đảng? Mấy “nhà dân chủ” trong nước họp
nhau lại có thành một đảng không? Công Giáo có phải là một đảng không? Mafia đen có phải là một đảng không? Tự do ứng cử là tự do như thế nào? Các nước văn minh là những nước nào,
và văn minh như thế nào. Mỹ có phải
không? Mỹ có bao nhiêu đảng? Cho các ông biết, chỉ có một: đảng tài
phiệt dưới hai tên: Cộng Hòa và Dân Chủ.
Các ông nên kiếm những cuốn Imperial
America: The Bush Assault On The World Order của John Newhouse, Alfred A. Knoff, New
York, 2003, và cuốn Selling Out: How Big
Corporate Money Buys Elections, Rams Through Legislation, and Betray Our Democracy của
Mark Green, ReganBooks, New York, 2002, để mở mắt ra và nhìn vào cái nước Mỹ
“văn minh” nhất của các ông. Nhưng
trước hết, các ông hãy viết thư đòi Vatican “phải” dân chủ
hóa chế độ giáo quyền, “phải” từ bỏ quyền bổ nhiệm các chức
sắc Công Giáo địa phương, “phải” để cho các giáo hội
địa phương được quyền bầu lấy các Hồng Y, Giám Mục v..v.. một cách
độc lập, công khai theo nguyên tắc tự do ứng cử, và có Quốc tế giám sát công khai minh bạch. Hoặc là các ông tuyên bố ly khai ra khỏi
Công Giáo, tự đập tan những xiềng xích đang trói buộc mình, dù là xiềng
xích tâm linh, sau đó hãy nói đến chuyện bầu bán tự do dân chủ ở Việt
Còn Phạm Hồng Sơn? Ông ta dịch bài “Thế nào là dân chủ” của Tòa Đại Sứ
Mỹ ở Việt Nam để phổ biến cùng khắp rồi cùng với Nguyễn Gia Kiểng
ở ngoại quốc, cho rằng đó là khuôn vàng thước ngọc về dân chủ, tự do dân chủ chỉ có một, một khuôn
mẫu tự do dân chủ của Mỹ, không biết rằng bài “Thế nào là dân chủ” chỉ là một
tài liệu tuyên truyền khoa trương, chỉ có giá trị trên mặt lý thuyết,
chứ không phản ánh những sự thực về dân chủ ngay trên đất Mỹ và
các thể chế dân chủ khác nhau trên thế giới.
Thật vậy, Jim Lobe đã viết trên trang nhà Asia Times một bài với
đầu đề: Dân Chủ: Một Công Cụ Trong Trong
những luận điệu lừa bịp mà những người Mỹ tân bảo thủ phạm phải
trong nỗ lực đưa Hoa Kỳ vào cuộc chiến ở Iraq, luận điệu bền bỉ nhất
là khái niệm về sự tận tụy của Mỹ trong sự phổ biến dân chủ theo
chủ trương của Tổng Thống Wilson. Là
người đã theo dõi phong trào tân bảo thủ trong 30 năm qua, tôi thấy khó
mà có thể chấp nhận được khái niệm này. Sự
nghi ngờ của tôi không chỉ căn cứ trên chính sách chọn lựa hiển nhiên
của Mỹ. Chúng ta chỉ cần nhìn vào sự
ủng hộ của Mỹ đối với những chế độ độc tài ở Uzbekistan,
Pakistan, Tunisia, và Jordan - đối chiếu với sự hăm hở xâm lăng Iraq của
Mỹ nhân danh mang đến đó chế độ dân chủ - là có thể thấy những sự
bất phù hợp rất hiển nhiên. (Of the delusions that US neo-conservatives
perpetrated in their drive to take the My skepticism is based not only on their
obvious selectivity. After all, one has only to look at their support for authoritarian
regimes in Trong bài này, tác giả đã đưa ra nhiều
tài liệu về sách lược đa chuẩn (multi-standard) của Mỹ trên thế giới
dưới chiêu bài dân chủ để xen vào nội bộ một số nước, mua chuộc một
số chính khách tay sai ngu ngơ để gây ảnh hưởng và đạt được mục đích
thủ lợi của Mỹ. Đây là điều mà
Mỹ đang nỗ lực thực hiện ở Việt Tuy nhiên, chúng ta cũng thử tìm hiểu
chút ít về tài liệu “Thế nào là dân
chủ” (What is democracy) của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mà Phạm Hồng Sơn
đã dịch và phổ biến. Trong tài liệu
này có nhắc đến lời của Tổng Thống Thomas Jefferson trong bản tuyên
ngôn độc lập năm 1776: “Chúng ta coi những sự thực này như là hiển
nhiên, rằng mọi người được sáng tạo ra bình đẳng, rằng họ được
đấng sáng tạo ban cho một số quyền không thể bị tước bỏ, trong đó
là quyền sống, tự do và theo đuổi hạnh phúc.” (We hold these truths to
be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator
with certain inalienable rights, that among these are life, liberty and the pursuit of
happiness.) Nói thì như vậy, nhưng chúng
ta không nên quên rằng sau khi Thomas Jefferson nói như trên thì chế độ nô
lệ càng ngày càng phát triển trên đất Mỹ.
Các Tổng Thống và giai cấp quý tộc hay địa chủ Mỹ đều có
nô lệ trong nhà, trong các nông trại, trong các trại trồng bông v..v.. Còn nữa, trong một đoạn khác của bản văn
“Thế nào là dân chủ” chúng ta có thể
đọc: “Trong nước Mỹ, chỉ có người da
trắng có tài sản mới có quyền chọn và được chọn [nghĩa là bầu
và được bầu] khi bản Hiến Pháp được
ký vào năm 1787... rồi phụ nữ được quyền đi bầu năm 1920. Tuy
nhiên người Mỹ da đen chỉ được quyền bầu phiếu ở miền Nam nước Mỹ
khi phong trào tranh đấu cho nhân quyền nổi giậy vào thập niên 1960 [đúng ra là từ năm 1963]” (In the United States, for example, only white
male property holders enjoyed the right to elect and be elected when the Constitution was
signed in 1787... and women won the right to vote in 1920. Black Americans, however, did
not enjoy full voting rights in the Chúng ta thấy rõ, từ 150 năm cho đến
gần 200 năm sau bản tuyên ngôn, phụ nữ và người da đen mới được quyền
bình đẳng với người đàn ông da trắng. Quyền
bỏ phiếu bầu là một quyền căn bản trong thể chế dân chủ để chọn
lựa đại diện theo quy luật đa số thắng thiểu số. Vậy trên thực tế, Mỹ đã không đếm xỉa
gì đến sự bình đẳng trong sự sáng tạo và những quyền mà đấng Sáng
Tạo đã ban cho loài người. 50 năm
trước, vào năm 1955, theo luật của bang Thực ra là, con người bình đẳng vì
nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ, cùng tiến hóa từ các sinh thể ban
khai, chứ chẳng có Đấng Sáng Tạo nào sáng tạo ra cả. Nếu đã không
có đấng sáng tạo nào sáng tạo ra con người, và con người là do sự tiến
hóa từ các sinh thể ban khai mà ra, như ngày nay mọi người đều công nhận,
trừ một số trong phe Thiết Kế Ngu Đần của Tin Lành Mỹ, thì làm gì có
các quyền mà đấng sáng tạo ban cho con người.
Điều rõ ràng là những quyền căn bản của con người là do sự
tiến hóa của nhân loại tùy theo sự phát triển của mỗi xã hội và để
thích ứng với sự mở mang của mỗi xã hội.
Bởi vậy mà ngày nay trên thế giới vẫn còn những sắc dân sống
theo chế độ bộ lạc v..v.. Nếu chúng ta muốn nói đến quyền của đấng
sáng tạo ban cho loài người, thì theo Kinh Thánh, quyền duy nhất của con người
là chỉ được thờ phụng Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, nếu không thì sẽ bị
đầy hỏa ngục, bị thiêu đốt trong ngọn lửa vĩnh hằng, như ông con
sinh ra từ sự lăng nhăng của Thiên Chúa với vợ người ta, Giê-su, đã dạy
trong Tân ước. Do đó câu của Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu về
dân chủ Mỹ. Về nền dân chủ
Hoa Kỳ, chúng ta có một cuốn sách cổ điển Dân Chủ Ở Mỹ (Democracy in Tuy nhiên, Alexis de Tocqueville cũng đưa
ra một số nhận xét khá tinh tế về nước Mỹ.
Sau đây là vài thí dụ: 1. Khi chúng ta đào sâu vào đặc tính quốc gia của
người Mỹ, chúng ta thấy rằng họ chỉ tìm giá trị của mọi thứ trong
thế giới này trong câu trả lời của câu hỏi: nó mang đến bao nhiêu tiền? (As one digs deeper into the national
character of the Americans, one sees that they have sought the value of everything in this
world only in the answer to this single question: how much money will it bring in? ) 2. Tôi không biết đến một nước nào mà trong
đó con người lại ít có đầu óc độc
lập và sự tự do thật sự trong sự thảo luận như vậy như trong nước
Mỹ. (I know of no country in which there is so
little independence of mind and real freedom of 3. Ở
Mỹ, khối đa số có nhiệm vụ cung cấp vô số những quan niệm lập sẵn
để cho những cá nhân dùng, và như vậyđối với họ cất bỏ được gánh
nặng sự cần thiết tự mình có những quan niệm của mình. (In the (The surface of American society is covered
with a layer of democratic paint, but from time to Cornel West, Giáo sư về Tôn Giáo, đại
học Princeton, có viết trong cuốn Những Vấn
Đề Dân Chủ (Democracy Matters, Penguin Press, New York, 2004) như sau, trang
45: Tocqueville
sợ rằng Mỹ sẽ tạo nên một dạng mới của chế độ chuyên chế trên
thế giới – một chế độ chuyên chế dân chủ.
Chế độ chuyên chế này sẽ phạm tội diệt chủng những thổ
dân Mỹ và không thể tạo nên một nền dân chủ đa sắc dân vì sự áp dụng
ý tưởng sâu đậm về quan niệm người da trắng siêu việt ở trong nước
của khối đa số bạo ngược. (Tocqueville feared that Điều Tocqueville sợ đã trở thành sự
thật nếu chúng ta xét đến lịch sử tiêu diệt thổ dân Mỹ, thái độ
trịch thượng của Mỹ, bất chấp Liên Hiệp Quốc, đơn phương xâm chiếm
Iraq. Chúng ta cũng biết rằng Mỹ đã
rút khỏi hiệp ước cùng thành lập Tòa Án Quốc Tế Xử Tội Phạm
(International Criminal Court = ICC) mà Mỹ đã ký kết là thành viên trong thời
của Bill Clinton năm 2000. Tại sao? Vì Mỹ e rằng chính quân nhân Mỹ cũng
như các nhà ngoại giao Mỹ có thể bị đưa ra tòa án này để chất vấn
về những trường hợp Mỹ phạm những tội ác chiến tranh và những tội
ác chống nhân loại.” [Ehsan Ahari trong Asia Times: It opposed the Icc “fearing
its soldiers and diplomats could be brought before the court which will hear cases of war
crimes and crimes against humanity”] Hồ sơ
chiến tranh Việt Đưa ra những tài liệu như trên
không có nghĩa là tôi bài bác Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ hay phản đối
đi đến Tự Do-Nhân Quyền-Dân Chủ ở Việt Làm người ai cũng khao khát có tự
do, có những quyền căn bản của con người.
Nhưng con người không phải là một thực thể độc lập, riêng
biệt, sống trên một ốc đảo, nên có thể làm bất cứ cái gì mình muốn. Con người là một phần tử trong xã hội,
do đó không thể có tự do tuyệt đối hay xử dụng nhân quyền tuyệt đối,
mà những quyền này, sự tự do này, phải nằm trong khuôn khổ của luật
pháp quốc gia và truyền thống xã hội quốc gia.
Như Giáo sư Chester E. Finn, Jr., đại học Vanderbilt đã nói trong
một bài thuyết trình trước giới trí thức Nicaragua: “Con người có thể sinh ra với một sự khao
khát về quyền tự do của mình, nhưng không sinh ra với một sự hiểu biết
về những xếp đặt xã hội và chính trị có thể làm cho, qua thời gian,
sự tự do này được thực hiện cho họ và cho con cái họ.. Những điều
này họ phải học hỏi.” (People may be born with an appetite for personal
freedom, but they are not born with knowledge about the social and political arrangements
that make freedom possible over time for themselves and their children....Such things,
they must be learned.) Vậy muốn đi đến
dân chủ, chúng ta cần phải học hỏi những điều kiện xã hội chính trị
nào cần phải có để có thể đi tới tự do, dân chủ. Mỗi quốc gia đều có một nền văn
hóa đặc thù, cấu trúc xã hội riêng biệt, phù hợp với tâm lý quần
chúng, lịch sử quốc gia. Cho nên,
chúng ta không thể mang những quan niệm về tự do, nhân quyền, và dân chủ
của bất cứ quốc gia nào, nhất là của Mỹ, để áp đặt trên đất nước Việt Nam. Những quyền của con người, có thể
thích hợp trong một quốc gia khác, nhưng có thể không thể thích hợp đối
với Việt Trong cuốn Người Á Đông
khao khát tự do nhưng chưa sẵn sàng để nuốt trọn chủ nghĩa cá nhân –
và dân chủ là tín ngưỡng về chủ nghĩa cá nhân ( Jim Rohwer, Asia Rising: Why America Will Prosper as Asia’s
Economies Boom, Simon & Schuster, N.Y., 1995, p. 333: Asians crave freedom but are
not ready to swallow individualism whole – and democracy is an individualist creed.) Bàn về tự do, dân chủ, và nhân quyền
ở Á Châu, chúng ta không thể bỏ qua những nhận định xác đáng của
Samuel P. Huntington, Giáo sư đại học Harvard, tác giả cuốn sách nổi tiếng
The Clash of Civilizations and the Remaking of World
Order. Giáo sư “Vì quyền lực
Tây phương suy thoái, khả năng áp đặt những quan niệm về nhân quyền, tự
do, và dân chủ của Tây phương trên
các nền văn minh khác cũng như sự hấp dẫn của những giá trị Tây phương
cũng suy thoái theo. Điều này đã xảy
ra..” (Samuel P. Huntington, The Clash of Civilizations and the Remaking of World
Order, Việt Sự khác biệt về quan niệm tự do
dân chủ giữa Đông và Tây là điều tất nhiên vì bản chất hai nền văn
hóa khác nhau. Đối với Á Đông, nền
văn hóa Tây phương được coi là đồi trụy.
Tôn giáo thì hạ thấp con người xuống hàng súc vật (con
chiên), kỹ thuật thì để đi cướp nước và thu vét tài nguyên như trong
thời thực dân, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa vật chất đã biến con
người thành những con thiêu thân vào những cách làm giàu, nhiều khi bất
chính, tình dục và bạo lực (Wealth, Sex and Violence). Nội dung những phim ảnh Holywood và các “show”
trên TV là những bằng chứng rõ rệt nhất.
Người ta chỉ nhìn thấy cảnh giàu có vật chất ở Mỹ mà
không buồn để ý đến câu hỏi: Tại sao Mỹ là nước văn minh nhất, tự
do dân chủ nhất, mà lại có nhiều tội phạm và tệ đoan xã hội nhất
trên hoàn cầu? Tại sao hơn 50% cặp vợ
chồng được Chúa kết hợp qua bí tích hôn phối lại đi đến ly dị? Tại sao riêng trên nước Mỹ lại có mấy
ngàn linh mục can tội loạn dâm với trẻ con và nữ tín đồ và Giáo hội
Công Giáo đã phải bỏ ra cả tỷ đô-la để bồi thường cho các nạn
nhân tình dục của những “Cha cũng như Chúa”?
Và còn nhiều thống kê khác nữa về đủ mọi thứ tội ác. Vậy thực chất nền văn minh Tây phương,
thường được nhận là nền văn minh Ki Tô Giáo (Christian civilization), là
như thế nào? Riêng về vấn đề dân chủ, Jim Rohwer, tác giả cuốn Asia Rising, đã đưa ra nhận xét sau: “Sau
khi sống vài năm ở Á Châu tôi thấy rằng cái hố ngăn cách lớn nhất giữa
giới trí thức Tây Phương và Á Châu là về vấn đề dân chủ. Ở Tây phương,
dân chủ được coi như là chế độ chính quyền duy nhất mà một quốc
gia văn minh phải theo... Trái lại, nhiều
tư tưởng gia sống ở Á Châu cũng xét đến ý tưởng dân chủ nhưng lý
luận mạnh mẽ là, một loại chủ thuyết độc đoán nào đó thì tốt hơn
là dân chủ tự do và vô trách nhiệm. Điều này thật là dễ hiểu. Ở Á
Châu ngày nay, chính phủ độc đoán thường không đưa đến sự gian khổ
và chiến tranh mà là hòa bình, thịnh vượng, và bình đẳng.” (Jim Rohwer, Ibid., pp. 322-323: I realized
after living in Giáo sư Huntington (Ibid., trang 93) là người
nghiên cứu kỹ về Á Châu hơn ai hết, đã viết: Trong vài thế kỷ, Đông phương
ngưỡng mộ sự phát triển kinh tế, kỹ thuật, thế lực quân sự và
chính trị Tây phương. Nhưng trong những
thập niên cuối thế kỷ 20, Đông phương đã tìm ra phương sách phát triển
kinh tế và kỹ thuật của chính mình mà không cần phải nhập cảng văn hóa
Tây phương. Trung Quốc, Nhật Bản, Nam
Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Mã Lai Á, Tân Gia Ba, Nam Dương (những nước ở
Đông Á và Đông Nam Á trừ Phi Luật Tân) đều cho rằng nguyên nhân sự phát triển
nhanh chóng nền kinh tế của họ là ở nền văn hóa của họ chứ không phải
là nền văn hóa Tây phương. Họ thành
công là vị họ khác với Tây phương...Những giá trị Tây phương đã bị
loại bỏ theo nhiều cách, nhưng không kém cương quyết ở Mã Lai, Nam Dương,
Tân Gia Ba, Trung Quốc, và Nhật Bản (East Asians attribute their dramatic
economic development not to their import of Western culture but rather to their adherence
to their own culture. They are succeeding,
they argue, because they are different from the West... Western values are rejected in
different ways, but no less firmly, in Những yếu tố nào đã khiến cho những
nước như Tân Gia Ba (Singapore), Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản và cả Trung Quốc
tiến mạnh trong chương trình hiện đại hóa.
Có ba yếu tố chính: tinh
thần quốc gia, văn hóa dân tộc, và những giá trị được mệnh danh là
“giá trị Á Đông” (Asian values), đặt quyền lợi của tập thể lên
trên quyền lợi cá nhân. Chúng ta đã
biết, Thủ Tướng Lý Quang Diệu đã thành công ở Tân Gia Ba như thế nào? Khi được hỏi về “dân chủ”, ông ta
đã trả lời: “Dân Chủ? Tốt đấy,
nhưng đùng có đi quá độ” (Democracy? It’s
good, but don’t overdo it). Tại sao Lý
Quang Diệu lại thành công ở Tân Gia Ba? Ông
ta hiện đại hóa kinh tế, hiện đại hóa xã hội, hiện đại hóa nền
giáo dục, người dân được tiếp xúc với những thông tin cập nhật
trên thế giới, nhưng vẫn giữ độc quyền chính trị, không cho phép đối
lập, hạn chế quyền tự do báo chí, cấm nhập cảng một số báo chí ngoại
quốc, cấm cả người dân nhai kẹo cao su nơi công cộng v..v… Nói tóm lại, Tân Gia Ba ( Những người chống Việt Trái lại, Việt Nam thì hoàn toàn kiệt
quệ sau cuộc chiến, bị Mỹ ép, cấm vận trong 19 năm, sự thù hận được
nuôi dưỡng và kéo dài triền miên ở hải ngoại, và những thế lực đen
ở hải ngoại luôn luôn tìm cách chống đối, yêu cầu Mỹ đừng bỏ cấm
vận, hô hào dân di cư đừng trở về Việt Nam, đừng gửi tiền về Việt
Nam. Những hành động phi dân tộc, phản
dân tộc này đã không hề mang lại một kết quả nào. Mỹ muốn bỏ cấm vận khi thấy không còn
cần thiết thì cứ bỏ, người Việt di cư muốn về thăm quê hương thì cứ
về, muốn gửi tiền về Việt Nam thì cứ tự do gửi. Tại sao? Vì
đâu có phải là tất cả những người Việt di cư đều thuộc lớp người
cuồng tín đi buôn thù hận, nhất lại là sự thù hận một chiều. Giáo sư Cornel West (Ibid., trang 203) viết:
“Dân chủ
không đơn giản chỉ là một hệ thống bầu cử đa nguyên đa đảng mà
trong đó người dân được quyền bỏ phiếu và những viên chức được bầu
phải tranh cử để được quần chúng ủng hộ (hay tìm cách vận động quần
chúng bầu cho họ, hay gian lận hệ thống bầu cử để giới hạn sự
tranh cử, như là trường hợp thường xảy ra ở Mỹ ngày nay)… Một nền
dân chủ thực sự, mạnh, phải được
xây dựng từ ý niệm về dân chủ cá nhân, dân chủ cộng đồng, và dân
chủ xã hội.” (Democracy is not
simply a matter of an electoral system in which citizens get the right to vote and elected
officials must compete for the public’s favor (or find ways to manipulate the public
into favoring them, or rig the electoral system to limit competition, as is too often the
case today in America)…Genuine, robust democracy must be brought to life through
democratic individuality, democratic community, and democratic society.) Giáo sư West viết
không sai. Điều hiển nhiên nhất mà
chúng ta có kinh nghiệm là những cuộc bầu cử dân chủ, đa nguyên đa đảng
ở miền Fareed Zakaria cũng
viết (Ibid., p. 18): “Ở một vài
nơi như ở Trung Á, những cuộc bầu cử đã dọn đường cho những chế
độ độc tài. Thí dụ, cả (In some places,
such as in Đưa ra những
tài liệu như trên không có nghĩa là tôi cho rằng Việt “Sau Cộng Sản,
Nga tiến nhanh tới bầu cử tự do và công bằng với hi vọng là nó sẽ tạo
nên kiểu dân chủ tự do của Tây phương. Nga
cũng phát động một sự cải cách kinh tế, vào đầu thập niên 1990, với
hi vọng là nó sẽ tạo nên nền tư bản kiểu Tây phương, nhưng hầu hết
đều không có kết quả. Nói một
cách thật đơn giản thì Trung quốc đổi mới kinh tế trước chính trị,
và Nga thì làm ngược lại. Ngày nay, Nga
là một nước tự do hơn Trung Quốc. Nga
tôn trọng quyền cá nhân và tự do báo chí hơn, và ngay cả nền kinh tế của
Nga, theo lý thuyết, cũng được mở cho cạnh tranh và đầu tư của nước
ngoài. Trung Quốc vẫn là một quốc
gia khép kín cai trị bởi đảng Cộng Sản, nhưng Trung Quốc đang tích cực
cho tự do ở nhiều mặt, phần chính là về kinh tế và quyền hợp pháp. Đường lối nào sau cùng sẽ chứng tỏ
là con đường ổn định hơn để đi tới dân chủ? Nếu sự phát triển kinh tế và một lớp
trung lưu là những chìa khóa để duy trì nền dân chủ thì Trung quốc đang
đi đúng đường. Nền kinh tế của
Trung quốc đã gia tăng mạnh mẽ trong vòng 25 năm qua, ngược lại, tổng sản
lượng quốc gia của Nga, đã giảm 40% kể từ 1991. 2 bài học chính về
dân chủ: nhấn mạnh sự phát triển thực sự về kinh tế và xây dựng những
định chế chính trị hữu hiệu. (After Communism,
Today, Việt © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com