Võ Miếu là một trong những thành tố
đã tạo ra diện mạo kiến trúc và sinh hoạt văn hóa của triều Nguyễn
(1802-1945) tại Kinh đô Huế. Nó chứa đựng một số vấn đề liên quan đến
lịch sử và văn hóa của một thời lịch sử đã qua, và ngay cả thời
nay nữa. Nhưng, trải qua gần 170 năm kể từ ngày xây dựng, với những đổi
thay của thời cuộc và những cơn bão táp của lịch sử, Võ Miếu hiện
nay cơ hồ trở thành phế tích.
Dưới đây, chúng tôi dựa vào các tư liệu có được trong tay và
trên thực địa để cố gắng tái hiện bộ mặt của Võ Miếu ngày xưa,
nêu lên các mặt giá trị của nó và đưa ra một vài kiến nghị nhằm bảo
tồn được chừng nào hay chừng nấy di tích lịch sử văn hóa này. I.
Vị trí và chức năng: Võ
Miếu đã được xây dựng ở ấp Nội Súng thuộc làng An Ninh huyện Hương
Trà (1), nay thuộc địa bàn của xã Hương Hồ (huyện Hương Trà), một xã
vùng ven Thành phố Huế, cách trung tâm Thành phố khoảng 4,5 km về phía
tây. Võ Miếu nằm giữa một loạt di tích lịch sử và văn hóa ở dải đất
chạy dọc theo bờ bắc sông Hương, gồm chùa Thiên Mụ, Võ Miếu, Văn Miếu,
Công Thần Miếu (ở vị trí trường Quốc Tử Giám cũ), Khải Thánh Từ.
Ngoài ra, giữa Võ Miếu và Văn Miếu còn có đình làng An Bình nữa. Võ Miếu
tọa lạc tại địa điểm cách chùa Thiên Mụ khoảng 300 m về phía tây. Tất
cả đều quay mặt về phía sông Hương ở hướng nam. Từ trung tâm Thành
phố, người ta có thể đi đến Võ Miếu bằng thuyền hoặc các loại xe
theo con đường tỉnh lộ 12 chạy từ Huế đến lăng Minh Mạng, vùng Bình
Điền, A Lưới.
Về chức năng của Võ Miếu, hơn hết có lẽ là nên nêu lại ý kiến
của triều đình nhà Nguyễn, được xem như là tác giả của công trình kiến
trúc này.
Trước khi xây dựng vào năm 1835, triều đình đã bàn bạc khá kĩ
lưỡng về một số vấn đề liên quan đến việc thiết lập Võ Miếu,
mà quan trọng nhất là ý nghĩa của nó. Bộ
Lễ “kiến nghị” đại khái như sau: “Đường lối trị nước, văn võ
đều trọng. Xét trong điển lệ quốc triều, trong Kinh và ngoài các tỉnh
đều có làm nhà Văn Miếu, xuân thu tế lễ, thực vì cho rằng đạo của
Thánh nhân bao hàm tất cả: có văn sự tất phải có vũ bị, đành rằng
đủ để khích lệ phong hóa và đào tạo nhân tài, song thiết tưởng lễ
nhạc nhà học chỉ riêng trọng văn hóa, còn vũ giáo chưa được tiêu biểu.
Vậy nghĩ nên lập Võ Miếu để cho những người theo việc cung đao biết
hướng trông mong, bắt chước, cũng là cái ý do nghĩa lý nảy ra lễ nghi”
(1).
Sau khi nghe Bộ Lễ tâu lên như thế, vua Minh Mạng tỏ thái độ đồng
tình ngay. Mở đầu bài dụ về việc thiết lập Võ Miếu, nhà vua viết rằng:
“Điều cốt yếu trị nước là cả văn lẫn võ, không thể riêng bỏ một
bên nào. Việc đặt ra Võ Miếu, là lẽ nên làm... Từ Đinh, Lê, Lý, Trần,
Lê đời nào cũng có người phò tá đời ấy, chẳng thiếu gì người tài
giỏi binh cơ tướng lược. Huống chi bản triều từ khai quốc đến trung
hưng, trong khoảng ấy những bầy tôi bày mưu giúp sức, công liệt rực rỡ,
không kém người xưa, đáng nên biểu dương để khuyến khích nhân tài”
(2). Như
vậy, vua tôi thời Minh Mạng đều nhất trí với nhau rằng cần phải lập
ra Võ Miếu để trước hết là xóa bỏ quan niệm trọng văn khinh võ, sau
đó là xiển dương những danh tướng lẫy lừng trong lịch sử, và đồng
thời, khuyến khích các tài năng về võ nghiệp trong “hiện tại” và “tương
lai”.
Những ý nghĩa và chức năng ấy còn được biểu hiện rõ hơn nữa
khi triều đình cho dựng ở đó 3 tấm bia Võ công vào cuối thời Minh Mạng
và những tấm bía Tiến sĩ Võ dưới thời Tự Đức mà hiện nay chúng ta
còn thấy tại chỗ. II.
Thời điểm xây dựng và diện mạo Võ Miếu ngày xưa: Sử sách cho thấy việc thiết lập
Võ Miếu là một trong những động thái văn hóa truyền thống của Đông
Phương. Ở Trung Hoa, vào thời nhà Đường (618-907), vua Huyền Tông với
niên hiệu Khai Nguyên (713-741) đã ra lệnh cho các địa phương trong nước
làm miếu để thờ một số đại danh tướng trong lịch sử. Còn ở Việt
Nam thì, theo Phan Huy Chú trong “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí”, đã
có Võ Miếu ở Kinh đô Thăng Long vào cuối thời nhà Lê (1427-1788) (3).
Tuy nhiên, qua sử sách cũng như trên thực tế, tính đến triều Tây
Sơn (1788-1802), hình ảnh Võ Miếu ở các kinh đô của các triều đại đã
trở thành hết sức mờ nhạt so với Văn Miếu, và cũng còn có thể nói
là truyền thống văn hóa ấy đã bị đứt đoạn.
Đứng trước tình trạng ấy, triều đình Minh Mạng đã tái tục
truyền thống bằng cách cho xây dựng Võ Miếu ở Kinh đô Huế. Sau khi quyết
định chọn vị trí ở phía bên trái Văn Miếu, triều đình đã cho bắt
đầu thi công xây dựng Võ Miếu từ tháng 9 năm Ất mùi (năm Minh Mạng thứ
16), tức là tháng 11-1835 (4). Sử sách không cho biết thời gian thi công kéo
dài bao lâu, nhưng với khối lượng và hạn mục công trình như được mô
tả trong các tài liệu thì việc xây cất có lẽ phải qua năm sau mới
xong.
Theo sự mô tả rất sơ lược trong các tư liệu thành văn chính thống
do triều Nguyễn để lại như "Đại Nam Thực Lục", "Khâm Định
Đại Nam Hội Điển Sự Lệ", "Đại Nam Nhất Thống Chí", thì
địa bàn xây dựng của cụm kiến trúc Võ Miếu chiếm một khu đất không
nhỏ, có lẽ mặt bằng có hình gần như vuông, mỗi bề khoảng 100 m và diện
tích chừng 1 ha.
Các sử sách ấy đều ghi nhận giống nhau rằng bên trong khuôn viên
Võ Miếu có 3 tòa nhà, gồm ngôi miếu chính và hai ngôi miếu phụ nằm ở
hai bên sân trước. Quay mặt về phía sông Hương, miếu chính là một tòa
nhà kép được xây theo kiểu đặc biệt của loại cung điện Huế dưới
triều đại nhà Nguyễn (1802-1945).
Loại nhà xây theo kiểu này được gọi là “trùng lương trùng thiềm”
hoặc “trùng thiềm điệp ốc”, thường gọi một cách nôm na là nhà
kép, gồm hai bộ mái với hai bộ vì kèo khác nhau, nối kết lại với nhau
bằng một bộ vì kèo thứ ba nằm ở giữa, gọi là trần thừa lưu hoặc
trần vỏ cua, tạo thành một không gian nội thất chung, rộng rãi và thâm
nghiêm. Ởí tòa kép ấy, sử sách nhà Nguyễn gọi nhà sau là “chính doanh”
(nhà chính) và nhà trước là “tiền doanh” (5). Về số “gian” ở mỗi
“doanh” thì tùy theo tính chất và yêu cầu của từng công trình mà nhiều
hay ít, nhưng bao giờ cũng là số lẻ: 3 gian, 5 gian, 13 gian, v.v... Còn hai
chái hai bên mỗi doanh thì có thể là chái đơn, chái kép hoặc không có
chái.
Trong trường hợp Võ Miếu, các tư liệu đều cho biết chính doanh
có 3 gian 2 chái, tiền doanh có 5 gian.
Còn hai ngôi miếu phụ ở hai bên sân trước miếu chính thì kết cấu
kiến trúc đơn giản hơn nhiều. Mỗi ngôi chỉ có 5 gian, không chái. Tất
nhiên, theo thông lệ, hai ngôi nhà này đều quay mặt vào giữa sân và đối
diện nhau. Hai ngôi nhà này được “Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ”
(6) và “Đại Nam Thực Lục” (4) gọi là Tả Tòng Tự và Hữu Tòng Tự,
còn “Đại Nam Nhất Thống Chí” thời Tự Đức (7) và thời Duy Tân (5)
thì gọi là Tả Hữu Lưỡng Vu, hoặc Tả Vu và Hữu Vu (8).
Bấy giờ (năm 1835), triều đình còn cho xây một vòng tường thành bằng
gạch để bao bọc chung quanh khu vực Võ Miếu. Ở chính giữa của mặt tường
thành phía trước, trổ cửa Tam quan hai tầng (tương tự như của Tam quan
ở Văn Miếu bên cạnh hoặc một số di tích khác tại Huế). Ở mỗi mặt
tường thành hai bên, trổ một cửa đơn giản (cửa xây). Tất nhiên hai cửa
phụ này nằm đối xứng nhau; được “Đại Nam Thực Lục” gọi là “cửa
tò vò” (4), còn “Đại Nam Nhất Thống Chí” thời Tự Đức thì gọi
là “cửa nách” (7). Ở phía ngoài vòng tường thành ấy còn xây một
ngôi nhà 3 gian, gọi là “Tể Sinh Sở” (5), tức là nơi mổ súïc vật để
cúng tế trong miếu. Theo Thái Văn Kiểm trong sách “Cố đô Huế”, ngôi
nhà Tể Sinh này nằm ở ngoài mặt trước của vòng tường thành ấy (9).
Ngày xưa, ở khắp bên trong lẫn bên ngoài khuôn viên Võ Miếu, nhất
là ở hai bên con đường chạy ngang qua trước mặt khu vực này, triều đình
nhà Nguyễn đã cho trồng rất nhiều cây bàng, một loại cây có dáng vẻ
chắc khỏe, nhiều cành lá, sum suê, ngọn lá to lớn và dày dặn, tạo ra
nhiều bóng mát. Bởi thế, từ xưa, ca dao địa phương có câu:
Văn Thánh trồng thông, Võ Thánh trồng
bàng. Ngó vô Xã Tắc hai
hàng mù u.
Như vậy, khi khu vực Võ Miếu vừa xây dựng xong vào năm 1836, ở đây
có ít nhất là 8 công trình kiến trúc lớn nhỏ khác nhau:
- 4 tòa nhà bằng gỗ gồm Miếu chính, Tả Vu, Hữu Vu, nhà Tể Sinh.
- Cửa Tam quan bằng gỗ với hai tầng mái lợp ngói.
- Vòng tường thành và 2 cửa nách (dịch môn) xây bằng gạch.
Đến năm Minh Mạng thứ 20, tức là năm 1839, triều đình cho dựng
ở khoảng sân trước Miếu chính 3 tấm bia Võ Công, được gọi bằng 3 tên
khác nhau là “Võ Công bi ký” (đặt ở giữa), “Võ Công tả bi “ (đặt
ở bên trái, theo hướng từ trong Miếu chính nhìn ra) và “Võ Công hữu bi”
(đặt ở bên phải, đối xứng với tấm thứ hai vừa nói). Ba tấm bia đá
với kích cỡ khá lớn này đã được khắc dựng nhằm đề cao công trạng
hiển hách của 10 vị danh tướng đã từng đóng góp nhiều công lao nhất
trong quá trình phục vụ triều Nguyễn từ thời Gia Long (1802-1819) đến thời
Minh Mạng (1820-1840) và nêu gương sáng của họ để khuyến khích những người
theo đòi võ nghiệp hậu thế noi theo.
Sau đó, vào thời Tự Đức (1848-1883), triều đình còn cho dựng thêm
ở trên sân trước Miếu chính một số tấm bia Tiến sĩ Võ. Các tư liệu
thành văn không cho biết rõ số bia loại này đã được khắc dựng là bao
nhiêu tấm. Hiện nay, trên thực địa, chúng tôi thấy chỉ có 2 tấm.
Tấm thứ nhất được khắc dựng vào năm Tự Đức thứ 18, tức là
năm 1865, ghi tên 2 vị Tiến sĩ Võ vừa thi đậu năm ấy (khoa Ất sửu).
Tấm thứ hai không đề năm khắc dựng. Bia này ghi chung kết quả của
hai khoa thi Tiến sĩ Võ: khoa Mậu thìn (1868) và ân khoa Kỷ tị (1869). Khoa
1868 có 5 người đậu và khoa 1869 có 3 người đậu.
Ngoài ra, một trong những ý nghĩa mà triều đình Minh Mạng đặt ra
khi cho thiết lập Võ Miếu là dùng để thờ một số danh tướng mà họ
cho là đã lập được những võ công hiển hách nhất trong lịch sử Trung
Hoa và Việt Nam như trên đã nói. Sau khi cân nhắc và chọn lọc hết sức
kỹ lưỡng, triều đình đã quyết định đưa danh tính 18 nhân vật sau đây,
gồm 12 danh tướng Trung Hoa và 6 nhân vật Việt Nam, vào thờ ở đó (9).
Tại Miếu chính, ở 3 gian thiết trí 3 án để thờ 12 nhân vật Trung
Hoa, được xếp đặt theo thứ tự:
-Ở án chính trung, thờ Khương Tử Nha thời nhà
-Ở án phía đông, thờ 6 vị: Quản Trọng nước Tề, Tôn Võ Tử nước
Ngô, Hàn Tín nhà Hán, Lý Tĩnh nhà Đường, Lý Thanh nhà Đường, Từ Đạt
nhà Minh.
-Ở án phía tây, thờ 5 vị: Điền Nhượng Thư nước Tề, Trương
Lương nhà Hán, Gia Cát Lượng nhà Hán, Quách Tử Nghi nhà Đường, Nhạc
Phi nhà Tống.
Tại hai nhà Tả Vu và Hữu Vu, thờ 6 nhân vật Việt
-Ở Tả Vu, thờ 3 vị: Trần Quốc Tuấn (1226-1300) nhà Trần, Nguyễn
Hữu Tiến (1602-1665) thời các chúa Nguyễn, Tôn Thất Hội (1757-1789) thời
Nguyễn Ánh.
-Ở Hữu Vu, thờ 3 vị: Lê Khôi (?-1446) nhà Lê, Nguyễn Hữu Dật
(1603-1681) thời các chúa Nguyễn, Nguyễn Văn Trương (1740-1810) thời Nguyễn
Ánh- Gia Long.
Mỗi nhân vật được biểu tượng bằng một cái bài vị bằng gỗ
sơn thếp, trên đó ghi dòng chữ cho biết triều đại, chức tước, thụy
hiệu, họ tên và cuối cùng là hai chữ chi vị, chẳng hạn như:
-Bài vị thờ Gia Cát Lượng đề: Hán
Thừa tướng Gia Cát Lượng chi vị.
-Bài vị thờ Nguyễn Hữu Dật đề: Bản
triều Khai quốc Công thần Thái phó Tĩnh Quốc công Nguyễn Hữu Dật chi vị.
Tất nhiên, những bài vị này đều được đặt trong các khám thờ
một cách trang trọng.
Về việc bảo vệ và chăm sóc hàng ngày ở Võ Miếu, sau khi xây dựng
xong, vua Minh Mạng “cho mộ lấy 20 người dân ngoại tịch ở gần miếu,
sung làm thủ hộ” (10), tức là “làm phu quét dọn ở miếu”.
Về việc cúng tế và các lễ phẩm, triều đình bấy giờ qui định
rằng “hàng năm về tháng trọng xuân (tháng hai), trọng thu (tháng tám) sau
khi tế Văn Miếu 1 ngày, lấy ngày "kỷ" để tế; lễ ở án chính
thì dùng tam sinh (trâu, dê, lợn), xôi và 3 mâm quả phẩm; án phối hưởng
ở hàng phía đông, phía tây thì mỗi án 1 con lợn, 1 mâm xôi và 4 mâm quả
phẩm; án thờ phụ ở 2 bên tả hữu (Tả Vu, Hữu Vu) cũng như thế; án
chính thì lấy một viên đại thần ban vũ khâm mạng làm lễ, hàng phía đông
phía tây thì lấy 2 viên quản vệ, chái bên tả bên hữu (Tả Vu, Hữu Vu)
thì lấy hai viên cai đội, đều làm lễ phân hiến” (11). III.
Quá trình xuống cấp và hiện trạng của Võ Miếu: Qua
những nét phác họa như trên về diện mạo kiến trúc và sinh hoạt lễ
nghi ở Võ Miếu ngày xưa, chúng ta thấy triều đình nhà Nguyễn, nhất là
thời Minh Mạng, đã xem Võ Miếu là một thực thể văn hóa quan trọng bên
cạnh Văn Miếu ở Kinh đô Huế. Tuy nhiên, kể từ khi triều Nguyễn cáo
chung (1945), Võ Miếu đã liên tục bị chiếm dụng và có khi bị đối xử
một cách thô bạo. Do đó, đến ngày nay, nhìn chung, hầu như nó đã trở
thành một phế tích.
Theo một số vị có tuổi ở địa phương cho biết thì ngay sau khi người
Pháp trở lại tái chiếm Huế vào tháng 2-1947, khu vực Võ Miếu (cũng như
Văn Miếu) đã bị lực lượng thực dân dùng làm nơi đóng quân. Bấy giờ,
một số đồ tự khí, như các bài vị chẳng hạn, được chuyển về gửi
tạm ở chùa Thiên Mụ.
Từ năm 1955 đến năm 1975, chính quyền Sài Gòn tiếp tục dùng khu vực
cổ tích ấy (và khu vực Văn Miếu) làm Trung tâm Huấn luyện Tân binh của
Sư đoàn 1 Bộ binh.
Từ năm 1975 trở đi, khu vực Võ Miếu được cấp cho Hội Phụ nữ
Bình Trị Thiên, nay là Hội Phụ nữ tỉnh Thừa Thiên Huế, dùng làm trường
lớp đào tạo nghiệp vụ cho nữ giới tỉnh sở tại.
Vào thời điểm đó, các công trình kiến trúc ở Võ Miếu đã trở
nên hoang tàn, chỉ có những tấm bia đá to lớn nặng nề là người ta không
đem đi nơi khác được, nhưng cũng đã bị xô sấp dập ngữa. Những cây
bàng ngày xưa cũng biến mất, nhường chỗ cho cây hoang cỏ dại. Trong
khuôn viên ấy, Hội Phụ nữ đã cho xây mới một loạt nhà cửa, phòng
ốc để làm trường lớp. Đến nay, những công trình xây dựng tạm bợ
này cũng đã dột nát. Trong một đợt đi khảo sát thực địa vào đầu mùa
hè năm 1997, chúng tôi nghe bà Chủ tịch Hội Phụ nữ Thừa Thiên Huế nói
đang có ý định tu bổ lại những nhà cửa phòng ốc ở đó để tiếp tục
mở các lớp đào tạo nghiệp vụ cho phụ nữ địa phương.
Trong khuôn viên Võ Miếu, hiện có khoảng 10 ngôi nhà nhưng chỉ có một
hộ thuộc Hội Phụ nữ đang thường trú.
Vào những tháng đầu năm 1997, với sự tài trợ của một tổ chức
thiện nguyện thuộc Vương quốc Bỉ, Hội Phụ nữ cũng đã cho xây dựng
tại đây một dàn máy lọc nước sạch để cho cư dân ở quanh khu vực
ấy sử dụng.
Mặt khác, về các chứng tích còn lại của Võ Miếu ngày xưa, chúng
ta có thể tìm thấy một số bộ phận kiến trúc và hiện vật hiếm hoi
và đáng quan tâm bảo quản sau đây: hai đoạn tường thành, một số viên
đá tảng, 3 tấm bia Võ Công, 2 tấm bia Tiến sĩ Võ, 10 cái bài vị.
-Tường thành, đá tảng: Ở mặt trước và mặt bên trái của khuôn
viên, hiện còn lại 2 đoạn tường thành, mỗi đoạn dài vài chục mét,
được xây bằng gạch vồ nhưng với vữa xi-măng. Ởí đó có trổ nhiều
lỗ châu mai. Như vậy, chúng đã được xây lại dưới thời Pháp chiếm
đóng (1947-1954) hoặc dưới chế độ cũ (1955-1975). Rải rác trong mặt bằng
của khuôn viên ấy, còn thấy được khoảng một chục viên đá tảng lớn
nhỏ khác nhau.
-3 tấm bia Võ Công: Không có tư liệu nào cho biết 3 tấm bia này đã
bị xiêu đổ từ khi nào. Vào năm 1990, nhân dịp lễ kỉ niệm 190 năm ngày
sinh của Nguyễn Tri Phương (1800-1990), có một nhóm người nghĩ rằng thế
nào tên tuổi của vị danh tướng này cũng được khắc ghi ở bia Võ Công
triều Nguyễn. Do đó, họ đã tìm cách vận động một cơ quan nhà nước
cho dựng 3 tấm bia dậy để nhờ người đọc. Nhưng sự thật cho thấy và
sử sách cho biết tên tuổi Nguyễn Tri
Phương không có trên đó, lý do rất dễ hiểu: bia được khắc dựng vào
thời Minh Mạng (như đã nói trên), trong khi đó thì mãi đến thời Thiệu
Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883), Nguyễn Tri Phương mới trở thành một
danh tướng của Việt Nam.
Dù sao, ba tấm bia này, cũng như hai tấm bia Tiến sĩ Võ, đều được
dựng trên bệ đá hình khối chữ nhật được trang trí kiểu sập gụ trổ
chân quì, chứ không phải trên lưng rùa như 32 tấm bia Tiến sĩ ở Văn Miếu
bên cạnh. Tất cả các tấm bia đều được khắc một mặt (12).
1/Tấm thứ nhất (ở giữa) nhan đề là “Võ Công bi ký”. Kích thước
bệ bia: 1,15m x 63cm x 20cm.
Bia cao 1,60m, rộng 74cm, dày 23cm. Phần trang trí chung quanh chạm hoa
cúc có mây quyện, các hoa nhỏ nối liền với nhau bằng những đường gấp
khúc. Lòng bia khắc 14 dòng chữ Hán chân phương, gồm 309 chữ.
Có thể xem nội dung ở đây là bài tựa chung cho cả ba tấm bia Võ
Công. Những thông tin chủ yếu chứa đựng trong đó là:
-Vua Minh Mạng xuống dụ tuyển chọn những danh tướng đã lập được
những võ công rực rỡ nhất dưới thời hai vua đầu triều Nguyễn, cho khắc
vào bia đá để làm sáng tỏ công lao của họ và để khuyến khích võ
nghiệp muôn đời mai sau.
-Danh sách do Bộ Binh đề nghị, rồi triều đình thảo luận, cuối
cùng tuyển chọn được 10 người xứng đáng nhất. Người đầu tiên là
Trương Minh Giảng và người thứ 10 là ... (bị đục tên dưới thời Tự
Đức).
-Nội dung văn bia được đại thần Đặng Văn Hòa biên soạn vào
ngày mồng 2 tháng 11 năm Minh Mạng thứ 20 (tức là ngày 7-12-1830).
2/Tấm thứ hai (ở bên trái) nhan đề là “Võ Công tả bi”. Kích thước
bệ bia:1,16m x 63cm x 25cm.
Bia cao 1,59m, rộng 74cm, dày 23,5cm. Chung quanh trang trí hình ảnh hoa lá
và hoa văn cách điệu. Lòng bia khắc 20 dòng chữ Hán chân phương, gồm 608
chữ.
Nội dung ghi khắc họ tên, quê quán, chức tước và công trạng của
5 danh tướng:
-Trương Minh Giảng, người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định.
-Phạm Hữu Tâm, người huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
-Tạ Quang Cự, người huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.
-Phan Thanh Thúy, người huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị.
-Mai Công Ngôn, người huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
3/Tấm thứ ba (ở bên phải) nhan đề là “Võ Công hữu bi”. Khích
thước bệ bia 1,15m x 61cm x 23cm.
Bia cao 1,59m, rộng 73cm, dày 23,5cm. Chung quanh trang trí hình ảnh hoa lá
và đướng nét hoa văn cách điệu.
Lòng bia khắc 17 dòng chữ Hán chân phương gồm 465 chữ (trừ phần
chữ bị đục, mài).
Nội dung khắc ghi họ tên, quê quán, chức tước và công trạng của
5 danh tướng:
-Nguyễn Xuân, người huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoa.
-Phạm Văn Điển, người huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.
-Lê Văn Đức, người huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long.
-Trần Văn Trí, người huyện Tân Long, tỉnh Gia ĐỊnh.
-Người cuối cùng bị xóa tên.
Ở dòng cuối của 2 tấm bia “Võ Công tả bi”, và “Võ Công hữu
bi” đều ghi cùng một thời điểm như tấm “Võ Công bi ký”: “Minh Mạng
nhị thập niên thập nhất nguyệt sơ nhị nhật” (tức là ngày 7-12-1839),
nhưng lại kết thúc bằng ba chữ “phụng sắc kiến” thay bằng 2 chữ
“phụng soạn” ở tấm bia thứ nhất (?) (13).
Một nghi vấn đáng nêu ra ở đây để tìm cách giải đáp: nhân vật
cuối cùng bị đục tên là ai? Tại sao? Bị đục tên vào thời điểm nào?
Cách đây vài năm, một chuyên viên Hán nôm về thơ văn triều Nguyễn
thế kỷ thứ XIX là Nguyễn Văn Huyền, khi dịch thuật nội dung 3 tấm bia
Võ Công ấy, đã chú thích rằng bia bỏ trống một đoạn ngắn. Có lẽ
lúc đầu định chọn mười người, song không rõ vì sao không chọn được
đủ mà chỉ lấy chín, vì thế bỏ trống” (14).
Thật ra, không phải “bỏ trống”, mà bị xóa tên.
Sử sách triều Nguyễn có ghi chép về cả công trạng lẫn tội trạng
của người thứ 10 ấy: Tôn Thất Bật.
Sách “Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ” cho biết rằng vào
năm 1837, sau khi được vua Minh Mạng giao công việc “bàn lập bia Võ công
của công thần”, Bộ Binh đã dâng lên một danh sách gồm 20 người.
Nhưng nhà vua quyết định chọn 1/2 trong số đó, vì xét thấy “mười viên
ấy đều có võ công đáng ghi..., đều cho khắc vào đá rắn..., bày đặt
ở 2 bên tả hữu trước sân Võ miếu, về bên tả thì lấy Trương Minh Giảng,
Phạm Hữu Tâm... cọng 5 viên khắc làm một bia. Bên hữu thì lấy Nguyễn
Xuân, Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức, Trần Văn Trí, Tôn Thất Bật, cộng 5
viên khắc làm 1 bia, đều ghi rõ quan hàm, họ tên và sự trạng” (15).
Riêng về vị võ tướng thứ 10 ấy, nhà vua đã nhận định như sau:
“Chưởng vệ, Thự Hà Ninh đề đốc, quyền hộ Ninh Thái tổng đốc
quan phòng, Võ Khê nam là Tôn Thất Bật, năm Minh Mạng thứ 15 (1834) do chức
phó Vệ úy Tiền bảo nhị, đem biền binh tỉnh Sơn [sic] tiến đánh thổ
phỉ. Từ khi nhân bọn đầu sỏ giặc trốn tránh ở các hạt Bắc Kỳ kết
đảng với tên giặc [Nông Văn] Vân, viên ấy liền cùng với thự Lãnh
binh Hà Nội là Võ Đình Quang chia đường tiến đánh, bắt chém bè lũ giặc,
và thu được khí giới rất nhiều, bọn giặc phải nín thở” (16). Như vậy, “quan hàm, họ tên và sự
trạng” của Tôn Thất Bật đã từng được khắc vào tấm bia “Võ Công
hữu bi”. Đó là sự thật. Hơn nữa, ngày nay, nếu khảo sát kỹ tấm bia
đá ấy, chúng ta sẽ thấy ở những dòng chữ cuối dành để khắc về Tôn
Thất Bật ngày xưa, đã trở thành một khoảng trống, vì đã bị mài một
lớp mỏng rất “khéo tay”, thật khó nhận ra. Ỏí tấm bia đá thứ nhất
(Võ Công bi ký), ba chữ Tôn Thất Bật nằm giữa nhóm từ “Thủ Trương
Minh Giảng chí Tôn Thất Bật đẳng thập nhân” (Trước hết là Trương
Minh Giảng, đến Tôn Thất Bật, cả thảy 10 người) cũng đã bị mài bỏ
một cách khéo léo, hầu như chẳng để lại dấu vết gì. Phải tinh mắt
lắm mới nhận ra một lớp đá rất mỏng đã bị mài đi ở diện tích
bé nhỏ ấy (16 bis). Dưới thời Minh Mạng, Tôn Thất Bật
đã được vinh danh như trên đã thấy, nhưng đến thời Tự Đức thì ông
lại bị triều đình buộc tội “dự mưu” phản nghịch. Câu chuyện về ông có một cái gì đó
uẩn khúc, khó hiểu, vì mãi đến đầu thời Tự Đức, ông vẫn được
nhà vua trọng dụng. Vào tháng 4-1851, với chức vụ Tổng
đốc Nam-Ngãi, khi về Kinh dự lễ Tế Nam Giao và lễ Thanh Minh, Tôn Thất Bật
đã từng được vua Tự Đức tiếp kiến và ân cần dặn dò về những
điều liên quan đến việc trị an tại địa phương ông nhậm chức (17). Khi ông chết vì bệnh vào tháng
10-1852, vua Tự Đức vẫn “cho Bật là người bầy tôi cũ có công, chuẩn
cho chiếu phẩm cấp tiền tuất; lại cấp thêm: gấm (3 tấm) sa (2 tấm) lụa
(5 tấm) vải (10 tấm) tiền (800 quan). Đến ngày an táng sai quan đến tế 1
tuần, để tỏ ra hậu đãi với người thân quyến” (18). Nhưng, đến khoảng tháng 2-1854, nghĩa
là sau khi mồ yên mả đẹp gần 1 năm rưỡi, thì ông bị truy tội. Sử
triều Nguyễn ghi rằng bấy giờ (1854), “An phong công là Hồng Bảo mưu khởi
nghịch, rồi tự thắt cổ ở nơi giam; con trai con gái Hồng Bảo và người
dự mưu là viên đã chết là Tôn Thất Bật, đều bị tước bỏ tên trong
sổ Tôn nhân; ... Vua ra lệnh bắt đổi Bảo là họ Đinh và Bật đổi là
họ Phan (đều là theo họ của mẹ)”. Ngoài ra, “các phạm nhân đều bị
tịch thu gia sản và bắt cả thân thuộc” (19). Chắc hẳn tên họ của Tôn Thất Bật
trên bia Võ Công đã bị triều đình Tự Đức cho xóa bỏ ngay sau khi xử
xong vụ án ấy vào năm 1854 (20). -2 tấm bia Tiến sĩ Võ: Hiện nay, nếu
3 tấm bia Võ Công nằm ở những vị trí gần trước mặt Miếu chính ngày
xưa hơn thì hai tấm bia Tiến sĩ Võ nằm ở những vị trí gần đường cái
hơn. Cũng bằng đá thanh, nhưng so với 3 tấm bia kia thì 2 tấm này tương
đối nhỏ. Bia cũng khắc bằng chữ chân phương trên một mặt. Sử sách
cho biết rằng dưới triều Nguyễn đã tổ chức khá nhiều khoa thi Tiến sĩ
Võ, nhưng chẳng hiểu vì sao hiện nay ở sân Võ Miếu chỉ thấy có hai tấm
bia Tiến sĩ Võ khắc kết quả của 3 khoa thi dưới thời Tự Đức. 1/Tấm thứ nhất hiện nằm ở phần
sân bên trái, tính từ phía Miếu chính ngày xưa nhìn ra. Kích thước bệ bia: 70cm x 45cm x 19cm. Bia cao 1,05m, rộng 52cm, dày 11,5cm. Đầu
bia chạm hình lưỡng long cách điệu chầu lưỡng nghi. Chung quanh thân bia
trang trí hình hoa dây, chính giữa diềm trên khắc mặt hổ phù. Còn đủ
hai cặp tai bia (trên và dưới). Bia còn khá tốt, nhưng một số chữ đã bị
mưa gió bào mòn, không đọc được. Bệ bia bị sứt một số mảnh. Nội dung ghi đại khái: -Tên tuổi, quê quán của hai Tiến sĩ
đậu khoa Ất sửu (Tự Đức thứ 18, tức là năm 1865) là Võ Văn Đức
(người huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) và Võ Văn
Lương (người huyện Đăng Xương, đạo Quảng Trị). -Bia được khắc vào tháng 6 năm Tự
Đức thứ 18, tức là tháng 8-1865. 2/Tấm thứ hai hiện tọa lạc tại phần
sân bên phải của khuôn viên Võ Miếu ngày xưa. Kích thước bệ bia: 80cm x 53cm x 25cm. Bia cao 1,08m, rộng 52cm, dày 11,5cm. Giữa
đầu bia chạm một đóa hoa cúc lớn mãn khai; phần còn lại và các diềm
bia trang trí hoa dây. Bia còn khá tốt, nhưng một số chữ đã bị mòn,
không đọc được. Còn đủ hai tai trên và hai tai dưới, nhưng ở diềm
bia và bệ bia bị sứt một số mảnh nhỏ. Nội dung khắc ghi kết quả hai khoa
thi Tiến sĩ Võ vào đầu năm Mậu thìn (năm Tự Đức thứ 21, tức là năm
1868) và năm Kỷ tỵ (năm Tự Đức thứ 22, tức là năm 1869). -Khoa Mậu thìn (1868) lấy 5 người đậu
Tiến sĩ, là Nguyễn Văn Vận (người huyện Quảng Điền, phủ Thừa Thiên),
Phạm Học (người huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam), Nguyễn Văn Tứ
(người huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định), Dương Viết Thiệu (người
huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên) và Đỗ Văn Kiệt (người huyện Đăng
Xương, đạo Quảng Trị). -Khoa Kỷ tỵ (1869) lấy 3 người đậu
Tiến sĩ Võ, là Đặng Đức Tuấn (người huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định),
Trần Văn Hiển (người huyện Quảng Điền, phủ Thừa Thiên) và Lê Văn Trực
(người huyện Minh Chính, tỉnh Quảng Bình). 3 tấm bia Võ Công và 2 tấm bia Tiến
sĩ Võ nói trên đều đã được Trường Viễn Đông Bác Cổ cho dập vào
khoảng thập niên 1920. Năm bản dập này hiện đang được lưu trữ cùng với
hàng vạn bản dập khác tại Viện Nghiên Cứu Hán Nôm (Hà Nội), với 5
ký hiệu số 5685, 5686, 5687, 5688, 5689. Tất nhiên, nét chữ và hoa văn trên
những bản dập này rõ ràng hơn trên bia đá hiện nay. -10 cái bàn vị: Như đã thấy trên,
vào khoảng năm 1947, khi Võ Miếu bị quân đội Pháp chiếm đóng, một số
đồ thờ trong Miếu đã được chuyển về gửi tạm ở chùa Thiên Mụ. Đến
năm 1990, trong một dịp đến viếng chùa, chúng tôi được Đại đức Thích
Trí Tựu, bấy giờ đang lo việc quản lý chùa, cho biết thông tin vừa
nói. Nhà sư còn đề nghị nên đưa các đồ tự khí ấy về “Bảo tàng
Cổ tích” để bảo quản. Ngay sau đó, một số cán bộ của Công ty Quản
lý Di tích Lịch sử và Văn hóa Huế lên chùa xin tiếp nhận. Khi soạn các
hiện vật ra xem để giao nhận, chúng tôi thấy có gần 20 cái bài vị bằng
gỗ, trong đó có một số đã được thờ ở Công Thần Miếu, số còn lại
đã được thờ ở Võ Miếu. Sau khi đọc kỹ các dòng chữ trên những
bài vị ấy, chúng tôi thấy có 10 cái đã từng thờ ở Võ Miếu. Đa số
các bài vị này đều còn tương đối tốt, chỉ trừ phần chân và đế là
bị hư hỏng nặng. Trong 10 bài vị ấy, chỉ có một cái là còn đế. Hiện nay, 10 bài vị này đang được
bảo quản tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (số 3 Lê Trực, Thành Nội). Trong số 12 danh tướng
Trung Hoa và 6 danh tướng Việt Nam đã được thờ ở Võ Miếu ngày xưa,
như đã nêu ở trên, hiện nay chúng ta có thể đọc được phần lớn chức
tước, họ tên của 10 bài vị ấy, gồm 5 nhân vật Trung Hoa và 5 nhân vật
Việt Nam. Ở 5 bài vị thờ 5 vị tướng Trung
Hoa, chúng ta có thể đọc được rất rõ 5 dòng chữ sau đây: 1. Tể Tướng quốc Quản Trọng chi vị. 2. Hán Lưu hầu Trương Lương chi vị. 3. Hán Thừa tướng Gia Cát Lượng chi
vị. 4. Đương Thái úy Lý Thạnh chi vị. 5. Đường Trung Thư
lệnh Quách Tử Nghi chi vị. Ở 5 bài vị thờ 5 vị tuớng Việt 1. ...Trần Thái sư Thượng Quốc công
Trần Quốc Tuấn ... chi vị. 2. Bản triều Khai quốc Công thần
Thái bảo Anh Quốc công Nguyễn Hữu Tiến
chi vị. 3. Bản triều Khai quốc Công thần
Thái phó Tĩnh Quốc công Nguyễn Hữu Dật
chi vị. 4. Bản triều Tá vận Tôn thần Tôn
Nhơn phủ Tả Tôn chánh Lạng Giang Quận
công Tôn Thất Hội chi vị. 5. Bản triều Tá vận Công thần Thái
bảo Đoan hùng Quận công Nguyễn Văn
Trương chi vị. Về mặt hình thức,
có thể chia 10 bài vị ấy ra làm hai loại: loại bài vị các nhân vật
Trung Quốc và loại bài vị các nhân vật Việt Về kích thước, 5 cái loại thứ nhất
đều cùng một cỡ. Trừ phần đế và chân, loại bài vị này đo được
như sau: cao 52,5cm, rộng 12,6cm, dày 2,3cm. Tất cả 5 bài vị đều được sơn
son, và được thếp vàng ở các dòng chữ và ở các hoa văn trang trí. Ở
ô vuông (kích thước 12,6cm x 12,6cm) trên đầu bài vị, người ta trang trí
đề tài “ngũ phúc” (phú, thọ, khang ninh, du hảo đức, khảo chung mệnh)
cách điệu hóa thành 4 cành lá biểu tượng 4 con dơi ở 4 góc và một
chùm lá biểu tượng chữ “thọ” với dạng hình thoi chiếm phần lớn
diện tích ở giữa. Ở trung tâm điểm của hình thoi này là một hình
tròn khoét sau với đường kính 3,5cm, dường như ngày xưa đã dùng để gắn
vào đó một tấm kính tròn mà ngày nay đã mất hết, chỉ còn một ít vết
tích của keo dính cũ. Đế của mỗi một trong 5 bài vị
này cũng đều đã mất. Loại bài bị thứ hai, nhìn chung,
đơn giản hơn nhiều. Bìa vị cũng có hình khối chữ nhật. Kích thước từng
cái đọc được như sau: - Bài vị Trần Quốc Tuấn: 47cm x
12,6cm x 2,7cm. - Bài vị Nguyễn Hữu Tiến: 48cm x
12,8cm x 2,9cm. - Bài vị Nguyễn Hữu Dật : 48cm x
13cm x 2,9cm. - Bài vị Tôn Thất Hội: 47cm x 12,8cm
x 2,7cm. - Bài vị Nguyễn Văn Trương: 47,8cm x
12,8cm x 2,8cm. Bài vị cuối cùng này là bài vị duy
nhất còn được cái đế với kích thước mặt bằng 23cm x 23,5cm. Ngày xưa, 5 bài vị này, kể cả đế,
đều sơn son, không thếp vàng và cũng chẳng trang trí hình ảnh gì. Ở giữa
mặt trước của mỗi bài vị chỉ có một khung hình chữ nhật chạy theo
chiều thẳng đứng được sơn bằng sơn trắng. Chính trên nền trắng ấy,
người ta viết dòng chữ Hán bằng sơn màu đen để ghi chức tước và họ
tên của từng nhân vật được thờ. Gỗ dùng để làm 10 bài vị nói trên
và các bài vị của triều Nguyễn nói chung là một loại gỗ tốt, mềm, dễ
đục đẽo, chịu bền bỉ; có người cho rằng đó là gỗ hoàng đàn, có
người cho là gỗ dổi. Qua kích thước và hình thức trang
trí của hai loại bài vị như vừa mô tả trên đây, chúng ta thấy các
danh tướng Trung Hoa đã được trọng vọng hơn các danh tướng Việt IV. Kết luận và kiến nghị:
Nhìn lại sự nghiệp dựng nước và giữ nước qua hàng ngàn năm
nay, các thế hệ Việt Sự thiết lập Võ Miếu của triều
Nguyễn ở Huế có một ý nghĩa tích cực, là đề cao các vị danh tướng
tài ba để nuôi dưỡng và khích lệ tinh thần thượng võ, là tiếp tục
phát huy nền võ học nhằm tạo ra những con nhà võ hữu ích cho đất nước
(21). Hơn nữa, Võ Miếu ở Huế là di tích
duy nhất còn lại thuộc loại này ở Việt Do đó, chúng tôi đề nghị: - Trong hoàn cảnh hiện nay, việc cần
làm trước mắt là qui tập 5 tấm bia đá nằm rải rác trong sân lại một
chỗ, rồi làm một nhà bia để che tạm thời cho chúng. Có lẽ nên chọn vị
trí ngày giữa khuôn viên Võ Miếu. Cần che chắn như thế để cho các tấm
bia đỡ bị mòn thêm và để chứng tỏ thế hệ chúng ta biết quí trọng
di tích quí báu của tiền nhân để lại. Đồng thời, cũng cần phải qui tập
tất cả các viên đá tảng lại và đặt ở chung quanh cụm bia ấy. - Mặt khác, cần thiết lập hồ sơ
để pháp lý hóa cho khu di tích Võ Miếu càng sớm càng tốt, và để có cơ
sở pháp lý hầu tính chuyện lâu dài. - Trong tương lai lâu dài, cần thương
lượng để chuyển trường lớp của Tỉnh hội Phụ nữ đi nơi khác.
Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế nên tiếp quản khu vực này, rồi từng
bước tôn tạo sân vườn, và khi nào có đủ điều kiện kinh phí thì phục
hồi cụm di tích ấy. CHÚ
THÍCH
|
In ra @
Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com