Kurt
Schmidt
Thái Kim Lan dịch Việt
và chú thích Tiểu luận „Hành tác và vô tác
nhân“ là một tiểu luận trong tác phẩm
„Leer ist die Welt“ (Thế giới rỗng không) của học giả người Ðức
Kurt Schmidt (1953, nxb Christiani Konstanz) Tác phẩm này gồm 13 tiểu luận về
các vấn đề tôn giáo, triết học, đạo đức học, ngôn ngữ học và lịch
sử triết học liên quan đến Phật giáo. Kurt Schmidt là một trong những người
tiên phong nghiên cứu Phật giáo sâu sắc, nghiêm túc và trung thực tại Âu
châu, đã từng đi thuyết giảng ở các trung tâm nghiên cứu Phật giáo
trên thế giới trong những thập niên 30, 40. Mặc
dù ngày hôm nay Phật giáo không còn xa lạ với tư tưởng Âu châu và những
nghiên cứu về Phật giáo càng ngày càng được đào sâu và phổ biến khắp
nơi trên thế giới, những thành quả nghiên cứu và suy tư của Kurt Schmidt
vẫn là những viên ngọc quí cống hiến và soi sáng lời dạy của ÐứcPhật
không những trong hệ thống tư duy của tư tưởng Âu châu mà ngay cả ở
những nước Á châu có truyền thống Phật giáo lâu đời. Tiểu luận của Kurt Schmidt đưa ra một
số điểm cơ bản về tri thức luận trong lời dạy của Ðức Phật: phương
pháp luận như điều kiệncần thiết để đạt được nhận thức đúng
đắn chân thực. Khởi đầu của phương pháp này là cách đặt câu hỏi.
Heidegger nhận xét: „người nào hỏi, kẻ ấy đang tìm…“ -, gần, tìm
câu trả lời đúng thực về điều đang hỏi, xa, tìm ra chân lý làm nền tảng cho tri thức
mà ta thâu lượm được. Tuy nhiên, sự việc không đơn giản, cuộc truy tìm
câu trả lời chính xác lắm lúc có thể dẫn ta trên mê lộ của ảo tưởng,
của sai lầm thay vì truy cập được chân lý, bởi vì nếu không biết đặt
câu hỏi đúng, sẽ không tìm được câu trả lời chính xác, lầm lẫn trở
nên lầm lạc đi xa sự thật. Ðể phá vô minh, Ðức Phật trước hết chỉnh
lý cách đặt vấn đề như là bước đầu tiên trên đường đi đến chính
kiến, bởi vì chính câu hỏi bộc lộ thói quen tư duy, sở thích cũng như
ước muốn thầm kín của người hỏi – nói cách khác trong câu hỏi của
Phagguna, Ðức Phật đã chẩn được bệnh đi
tìm chủ thể, tìm vị trí của „ tôi“, của tác nhân, của cái ngã của
vị ty kheo này mà cũng là bệnh hay thói quen chung của tư duy con người. Sửa
đổi thói quen tư duy này Ðức Phật đưa ra phương pháp tri thức trong tương
quan duyên khởi, trong qui luật điều kiện tính của thế giới hiện tượng
đúng theo sự thật khách quan, từ đó có thể nói phương pháp tri thức luận
Phật học rất gần với phương pháp khoa học có đối tưọng truy tìm tri
thức chân thật hay chánh kiến, chỉ khác lời dạy của Ðức Phật đã hơn
hai nghìn năm, nói như thế để nhấn mạnh sự so sánh không phải là lời
biện minh cho lời dạy về chân lý bất tử của Ngài. „Hành tác và vô tác nhân“ “Một thời, tại thành Xá vệ
(Savatthi), khi đức Thế tôn vừa chấm dứt bài thuyết giảng cho các tì
kheo, có một vị tì kheo tên là Moliya
Phagguna đứng lên đặt câu hỏi: „Ai là kẻ tiếp xúc?“. Ðức Thế tôn trả lời: „Câu hỏi ấy đặt ra không
đúng. Ta không nói: „ Người ấy (nó) tiếp xúc“. Nếu ta nói như thế
thì câu hỏi đặt ra là đúng. Nhưng vì ta không nói như thế, cho nên cần
phải hỏi như thế này mới đúng: „Do nguyên nhân nào mà sự tiếp xúc
phát sinh“ hay „sự tiếp xúc phát sinh do đâu?“ và trong trường hợp có
một câu hỏi như thế thì nên trả lời như thế này mới đúng: „do sáu
đường dẫn vào (hay do 6 giác quan) mà tiếp xúc phát sinh“, hay „khi có
giác quan dẫn vào, thì tiếp xúc có thể phát sinh, và khi có tiếp xúc thì
cảm giác có thể phát sinh!“ Tì kheo hỏi tiếp: „Ai là kẻ
cảm xúc?“ Ðức Thế Tôn lại giảng giải: „Câu hỏi ấy không đúng.
Ta không nói: „Người ấy (nó) cảm xúc“. Tì kheo lại hỏi tiếp: „Ai
khát?“ Và Ðức Phật lại luôn luôn lặp lại câu trả lời: „Câu hỏi
ấy không đúng. Bởi vì ta không nói như thế, cho nên đáng lẽ phải hỏi
đúng như thế này: do đâu mà cảm xúc, ham muốn, chấp chủ v.v. phát sinh.“
(S XII, 12, Tương ưng bộ kinh XII, 12) Chúng ta nên hiểu đoạn kinh
trên như thế nào. Nếu có tiếp xúc, đụng chạm, cảm xúc, ham muốn, chấp
thủ, phải chăng luôn luôn phải có một chủ thể ở đó, để đụng chạm,
cảm giác, ham muốn, chấp thủ? Ðối với chúng ta điều ấy hầu như là
một tất yếu của tư duy. Nhưng như một vài đoạn trong kinh Tạng Pâli
cho biết, không những đối với chúng
ta như thế mà ngay cả đối với những người Ấn độ vào thời của Ðức
Gotama, lối nói như thế cũng được xem là một tất yếu của tư duy, cho
rằng, ở đâu có một điều gì được thực hiện (hành tác), ở đó phải
có một tác nhân, một người làm điều ấy. Nhưng Ðức Phật lại dạy rằng:
thực sự chỉ có „làm“, chỉ có „hành tác“ mà không có tác nhân.
Và nếu chúng ta quan sát thực tế một cách chính xác thì chúng ta cũng có
thể tự mình nhận ra là quả thật như thế. Không có một chủ thể hành động
mà chỉ có sự việc xảy ra. Một phương tiện đặc biệt
có hiệu quả mà Ðức Phật luôn luôn nhắc nhở nên sử dụng để nhận
thức đúng đắn thực tế (Wirklichkeit) là cách quán sát thân thể. Nếu
chúng ta thực hiện sự quan sát đúng đắn, chúng ta không chỉ quan sát
thân thể xem nó ở trong tình trạng nhất thời ra sao mà – và đây là điều
quan trọng nhất – chúng ta nên quan sát „thể xác phát sinh và hủy diệt
một cách có qui luật như thế nào“. Chúng ta hãy nhớ lại thân thể của
chúng ta trong giai đoạn trước ra sao: ngay sau khi được kết tinh, rồi lúc
sinh ra, rồi sau 7 năm, rồi sau 14, 21 năm và tiếp theo như thế cho đến ngày
hôm nay! Chúng ta hãy tưởng tượng một cách thật rõ nó sẽ như thế nào
trong tương lai: đến khi già và lúc chết, rồi sau khi chết! Thân thể đã
luôn luôn biến đổi không ngừng như thế nào và nó còn tiếp tục biến
đổi ra sao! Nó không biến đổi nhảy vọt mà biến đổi dần dần; trong
khi ta thức nó khác với trong khi ta ngủ, trước khi làm việc khác với sau
khi làm việc, trước buổi ăn khác với sau buổi ăn; vâng, nó thay đổi từng
giây phút, từng tích tắc, theo từng hơi thở, từng nhịp đập con tim. Nó
không hoàn toàn giống nhau trong hai khoảnh khắc nối tiếp nhau. Nhưng bởi
vì sự thay đổi cứ diễn ra đều đều dần dần nên theo thường chúng
ta không để ý đến và vô tình kết hợp những khoảnh khắc riêng lẻ
thành một nhất thể, trong lúc sự thật không có nhất thể ấy. Và như
thế ảo tưởng giả tạo phát sinh, cho rằng thân xác là cái gì tồn đọng,
cái gì cố định, là một „sự vật“ (Ding), giống hệt như trong rạp
chiếu bóng ta cho rằng các hình ảnh tự cử động, trong lúc ta biết rằng
đó chỉ là nhiều hình ảnh khác nhau trong từng khoảnh khắc, thay đổi
nhau trong những chuỗi chuyển nhanh trước mắt ta mà thôi. Nếu chúng ta tin rằng, thân
xác (sắc)[1]
này đang làm một điều gì, thì đó chỉ là một ảo tưởng; bởi vì một
thể xác, được định nghĩa là một thể xác có thể làm một cái gì, thể
xác ấy hoàn toàn không hiện hữu đối với ta. Thực sự điều mà chúng
ta có thể quan sát được chỉ là một sự thay đổi liên tục, một hành
tác liên tục nơi thể xác ấy. Cũng tương tự đúng như thế
khi áp dụng cho những phần tử cấu tạo thuộc tinh thần và tâm lý của nhân cách tính là cảm giác, suy tưởng
và ý muốn. Chúng ta hãy quan sát „những cảm xúc và ý tưởng phát sinh
và biến đi một cách đều đặn như thế nào“, thì sẽ thấy rằng ngay
ở đây cũng không tìm ra được một chủ thể đang cảm xúc, suy nghĩ hay
ước muốn, mà chỉ thấy một sự đến và đi không ngừng, một dòng
trôi chảy của cảm giác, ý tưởng và những kích động ý chí. Một khi chúng ta đã tự mình
chứng thực theo cách như thế, rằng quả thực không có một chủ thể ở
đó, câu hỏi tự nhiên bật ra là: vậy thì do đâu mà chúng ta thường kết
hợp mỗi một hành tác với một tác nhân và tin rằng không thể có cách
khác được? tại sao chúng ta luôn luôn suy nghĩ theo hình thức: chủ từ-động
từ- túc từ hay chủ thể - thuộc tính – khách thể (Subjekt, Praedikat,
Objekt)? Ví dụ như câu: người thợ rèn đập cục sắt. Rõ ràng bởi vì
chúng ta đã quen suy nghĩ như thế từ lúc ấu thời. Một khi đứa bé bắt
đầu học nói, nó thường đặt câu theo thể thức: chủ từ, động từ,
túc từ. Ðứa bé phải nói như thế, bởi vì ngôn ngữ của chúng ta từ đời thuở xa xưa đã qui luật hóa thể
thức cách đặt câu này.Và thể thức này được thành hình, bởi vì tổ
tiên ta trong thời trước đã sáng chế nó như một phương thức tiện lợi
để diễn đạt bằng ngôn ngữ những tri giác trong hình thức được sắp
xếp thứ tự. Bởi vì hình thức này được kế thừa từ đời này sang
đời khác, cho nên ngày hôm nay chúng ta tin rằng không có một hình thức
suy nghĩ nào khác và cho rằng phương thức suy nghĩ như thế tương ứng với
thực tại thật sự (Wirklichkeit). Nhưng môn tỉ giảo ngôn ngữ
lại dạy cho chúng ta biết rằng hình thức suy tưởng theo kiểu „chủ từ-thuộc
từ-đối tượng“ là thể cách riêng biệt
của gia tộc ngôn ngữ Ấn- Âu, mà tiếng Ðức cũng thuộc vào gia tộc
ấy cũng giống như tiếng Pâli và Sanskrit. Nhưng cũng có những ngôn ngữ khác đã tạo nên những hình thái suy tư khác tương ứng tốt hơn
với thực tại so với ngôn ngữ của chúng ta, ví dụ tiếng Tây tạng. Người Tây tạng không nói
và nghĩ: người thợ rèn đập cục sắt, mà nói và nghĩ: „đập cục sắt
do người thợ rèn“, hay là dịch một cách chi tiết hơn: có xảy ra việc
„đập cục sắc“ do người thợ rèn. Ở đây người thợ rèn không phải
là chủ từ, chủ thể (Subjekt), mà đồ nghề, dụng cụ đứng ở vị trí
chủ từ, với dụng cụ ấy có việc „đập cục sắt“ xảy ra. Thật sự
ở đây chỉ có sự „đập“, một hành động (Taetigkeit), một hành tác,
nhưng không có tác nhân hay phạm nhân (Taeter) theo nghĩa chủ thể. Trong lối nói phi nhân cách
này, - chỉ có thể có duy nhất trong tiếng Tây tạng,- ta cũng tìm thấy một
vài cụm từ còn sót lại trong các ngôn ngữ khác, ví dụ, trong tiếng Ðức:
điều ấy làm tôi vui, điều ấy làm tôi đau, điều ấy làm tôi bực
mình, làm tôi đau khổ; trong tiếng la tinh: piget (điều ấy làm tôi khó chịu),
paenitet (điều ấy làm tôi hối hận), taedet (điều ấy làm tôi ghê tởm),
miseret me (điều ấy làm tôi mủi lòng); trong tiếng Pháp: phải (il faut);
trong tiếng Anh: it suits ; trong tiếng Nga: mniae nushen. Có lẽ chúng là những
dấu vết của lối suy tư xưa cũ, lối suy tư này chỉ duy tiếng Tây tạng là còn được giữ được nhiều
nhất. Người mang gánh nặng. Tuy nhiên Ðức Phật hoàn
toàn không chỉ nói „phi nhân cách“. Một lần khác – cũng ở thành xá
vệ (Savatthi) – ngài nói: „Ta muốn chỉ cho các người
gánh nặng và người mang gánh nặng, sự thu nhận và sự dứt bỏ gánh nặng.
Gánh nặng là năm uẩn của ràng buộc,chấp trước, đó là sắc, thọ, tưởng,
hành (hành tác vô niệm)[2]
và thức; người mang gánh nặng là người (Person, Puggala) như thế này thế
kia với họ và tên gọi, sự thu nhận gánh nặng là lòng nung nấu muốn sống,
dẫn đến tái sinh; còn sự dứt bỏ gánh nặng là sự đoạn diệt hoàn
toàn và sự hủy diệt lòng ham muốn nung nấu ấy.“ (S XXII, 22). Hermann Oldenberg đã tiếp theo đoạn văn này với
nhận xét rằng, ở đây khác với quan điểm thường thấy trong các kinh tạng,
ở đây xuất hiện một quan điểm khác, chủ trương rằng ngoài gánh nặng
ra còn có một chủ thể, một người mang gánh nặng. Trên thực tế, đây
không phải là một ngoại lệ mà là một qui luật; bởi vì Ðức Phật đã
rất thường, vâng, theo thói quen,- nói theo lối nói thông tục thường được
chúng ta và người Ấn arisch: chủ thể-thuộc tính-đối tượng và ngài cũng
đã sử dụng từ ngữ „puggala“ nghĩa là: cá nhân, nhân vật (Person,
Individium) trong nghĩa đó; ví dụ trong Trung Bộ kinh 12 chữ này được dùng
cho con người, khi người ấy sau khi chết xuất hiện trở lại dưới dạng
1 trong năm gatis hay trạng huống đời sống, như là người trong địa ngục,
như thú vật, như bóng ma, như con người, như người cõi trời; trong
Anguttara-Nikâya I, 19 (Tăng chi bộ kinh) và Samyutta-Nikâya V, 1 (Tương ưng bộ
kinh) dùng cho người được trọn thành, trong Itivuttaka 84 cho người người
được trọn thành , cho bậc thánh và người hướng đến Niết bàn. Trong
giao tiếp thông thường Ðức Phật cũng nói như chúng ta: „tôi mệt“ hay
„tôi khát nước“ Digha Nikaya 16, 4 (Trường bộ kinh). Ðức Phật hoàn
toàn không trách cứ ta sử dụng lối nói thông tục, ngoài
trường hợp khi ngài trình bày giáo lý về những tương quan thực sự, về
chuỗi
tương quan lệ thuộc[3].
Và như thế chúng ta có thể tiếp
tục nói: „tôi bị mệt“ hay „tôi khát“ hay
„Người mang gánh nặng thu nhận gánh nặng và dứt bỏ nó“, nhưng đã
được Ðức Phật chỉ dạy, chúng ta nên biết rõ rằng, chúng ta đang nói
theo „qui ước“ và nói không được chính xác, chứ thực sự không tìm
thấy một chủ thể hay tác nhân nào cả (trong diễn biến hành động
như một chuỗi của điều kiện tính theo duyên khởi)[4]. Không đả động đến lý thuyết
vô ngã Ðể tránh sự hiểu lầm cần
phải ghi thêm rằng: Nhận thức về “ Hành tác và không tác nhân“ này
không dính líu gì đến giáo lý vô ngã cả.. Giáo lý vô ngã trả lời câu
hỏi về Attâ, về linh hồn của lý thuyết Upanischade, về cái tôi thật sự
hay về „linh hồn bất tử“. Giáo lý vô ngã trả lời câu hỏi ấy rằng:
tất cả những gì chúng ta có thể tri thức được nhờ vào giác quan và
giác tính, đều hkông phải là Attâ, không phải là cái tôi chân thực. Về
linh hồn bất tử không có gì diễn tả được, không nói được nó là cũng không nói được rằng nó không
là ; bởi vì vấn nạn về Attâ vượt ra ngoài khả thể của nhận thức,
bởi vì linh hồn là siêu việt (transzendent). Attâ không phải là một „khái
niệm“, mà chỉ là một chỉ dẫn (Hinweis) về một cái gì không thể nắm
bắt lý hội được. Còn ở đây, trong lời dạy về „hành tác và không
tác nhân“ Ðức Phật muốn chỉ cho ta tri thức đúng thực về cái có thể
nhận thức được với giác quan và trí tuệ của chúng ta. Câu hỏi về
„Attâ“ bất khả tri và bất tri liễu hoàn toàn không được đả động
đến ở đây, cũng không một lần đả động đến câu hỏi về giới hạn
của nhận thức, ở đây chúng ta hoàn toàn đang đứng bên trong của thế giới có thể nhận thức
được và quen thuộc hàng ngày với ta, trong thế giới này chúng ta học
nhìn cho thật chính xác và học kiểm soát xem, cái gì thật sự hiện hữu
trong thế giới nội tại này, với kết quả thâu lượm được chúng ta thấu
triệt rằng chỉ có những chuyển động (Bewegungen), những biến đổi trạng
thái, những hoạt động (Taetigkeit) mà không có người chuyển động, không
có kẻ tác nhân. Trong lời dẫn chứng nêu ra
ở đầu bài lấy từ kinh Tương Ưng, Samyutta-Nikaya XII, 12 tôi đã dịch chữ
âyatana, thường được dịch qua tiếng Ðức bằng „Gebiet“ (khu vực) hay
„Bereich“ (vùng, lãnh vực) (của 6 giác quan),- bằng
„gia nhập“,„lối dẫn vào“ Zugang.. Với cách dịch ấy tôi theo gương
của những Phật tử Trung hoa, họ dịch chữ âyatana bằng chữ „ru“ (nhập,
yu theo phiên âm tiếng Ðức) = đi vào, xâm nhập vào, bước vào“ (Zugang).
Thuật ngữ Phật học của người Trung hoa có nguồn gốc từ các tì kheo
người Ấn, ngày xưa các ngài đã mang giáo lý của Ðức Phật sang Trung
hoa; với Hán tự Trung hoa diễn ý một cách tượng hình các ngài đã có thể
làm rõ nghĩa hơn những gì phải được diễn đạt bằng những chữ Pâli
hay Sanskrit, tốt hơn mọi ngôn ngữ khác trong khi phiên dịch. Trong trường
hợp này nếu những từ ngữ ấy có nghĩa „đi vào, thâm nhập vào“ qua
nét chấm phá Hán tự, thì chúng cũng
tương ứng chính xác với chữ Pâli, trong chừng mực chữ ấy xuất phát từ
gốc „yat“, và nó đúng nghĩa hơn là từ ngữ „Bereich“ (lãnh vực) hay
„Gebiet“. Người Trung hoa dịch khái niệm „sankhâra“[5]
bằng „hsing = hành (handeln), hoạt động“
(Taetigkeit). Dịch như thế thật là đúng và tôi theo gương họ bằng cách
nói „hành tác vô thức“ (unbewußte Taetigkeit) cho chữ sankhâra. [1]
Ghi thêm cho rõ của dịch giả 2 Kurt Schmidt dùng chữ
„unbewusste Taetigkeit“ (hành tác vô thức hay vô niệm) để chuyển dịch
khái niệm „sankhâra“ sang Ðức ngữ, ông giải thích lý do ở ngay đoạn
cuối của tiểu luận này. 3 Thập nhị nhân
duyên theo lý thuyết duyên khởi gồm có: vô minh sinh hành (sankhâra) sinh thức
sinh danh sắc,… lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão, tử 4 Chữ đậm của dịch
giả và Câu bổ túc của dịch giả trong ngoặc kép 5 Ghi chú của người dịch:
sankhâra hay „hành“ là một trong năm uẩn (ngũ uẩn) : sắc (ru^pakhandha),
thọ hay cảm giác thụ nhận (vedanâkkhandha), tưởng hay tri giác
(sannâkkhandha), hành hay khả năng cấu tạo tùy thuộc ý muốn (sankhârakkhandha) và thức
(vinnânakkhandha) hay ý thức tinh thần điều hành (koơrdinierendes geistiges
Bewußtsein). Trong chuỗi thập nhị nhân
duyên „Sankhâra“ thuộc duyên thứ hai sau vô minh: vô minh (avijjâ), hành
(sankhâra) tiếng Ðức gọi là: năng lực tạo hình thuộc nghiệp lực, thức
(vinnâna), danh- sắc (nâma –ru^pa), lục quan hay lục nhập (salâyatana), xúc
(phassa), thọ (vedanâ), ái (tanhâ), thủ chấp (upâdâna), trở thành hay hữu
(bhava), sinh (jâti), lão tử (jara marana)
[1] Ghi thêm cho rõ của dịch giả [2] Kurt Schmidt dùng chữ „unbewusste Taetigkeit“ (hành tác vô thức hay vô niệm) dể chuyển dịch khái niệm „sankhâra“ sang Ðức ngữ, ông giải thích lý do ở ngay đoạn cuối của tiểu luận này. [3] Thập nhị nhân duyên theo lý thuyết duyên khởi gồm có: vô minh sinh hành (sankhâra) sinh thức sinhdanh sắc,… lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão bệnh, tử [4] Chữ đậm của dịch giả và Câu bổ túc của dịch giả trong ngoặc kép [5] Ghi chú của người dịch: sankhâra hay „hành“ là một trong năm uẩn (ngũ uẩn) : sắc (ru^pakhandha), thọ hay cảm giác thụ nhận (vedanâkkhandha), tưởng hay tri giác (sannâkkhandha), hành hay khả năng cấu tạo tùy thuộc ý muốn (sankhârakkhandha) và thức (vinn ânakkhandha) hay ý thức tinh thần điều hành (koơrdinierendes geistiges Bewußtsein). Trong chuỗi thập nhị nhân duyên „Sankhâra“ thuộc duyên thứ hai sau vô minh: vô minh (avijjâ-paccaya), hành (sankhâra-paccaya) tiếng Ðức gọi là: năng lực tạo hình thuộc nghiệp lực, thức (vinnâna), danh- sắc (nâma –ru^pa), lục quan hay lục nhập (salâyatana), xúc (phassa), thọ (vedanâ), ái (tanhâ), thủ chấp (upâdâna), trở thành hay hữu (bhava), tái sinh (jâti), sanh lão bệnh tử © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com