Trần Mạnh
Hảo 1 | CÓ THẬT NGUYỄN DU TẢ LIỄU CHỈ ĐỂ TẢ LIỄU ? Báo “Văn
Nghệ” số 47 ra ngày 20-11-2004 có in bài : “ Thêm một công trình nghiên cứu
có chất lượng về Thơ Mới” của Văn Giá, nhằm ca ngợi hết lời cuốn : “ Ba đỉnh cao Thơ Mới” của Chu Văn
Sơn ( viết về Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử – NXB Giáo Dục,
2003), với sự đề cao mà nếu dành cho Hài Thanh e còn hơi quá : “ Công trình này tự nó đã có một dáng dấp
của một lý thuyết nghiên cứu riêng”… “ Người viết đã như gọi
được hồn vía của mỗi nhà thơ hiện lên trang giấy”… “ Chu Văn Sơn
đã có một ngôn ngữ phê bình riêng….mang ấn tín, quyền uy của Chu Văn
Sơn cho toàn bộ thơ Hàn Mặc Tử là thơ điên, với một hình thức điên,
là hình thức cái tột cùng; rồi thơ Hàn Mặc Tử là thơ điên nên nó
khác với thơ trữ tình, thơ điên Hàn Mặc Tử lại cũng khác với Thơ Mới…toàn
là chuyện động trời mà tác giả “Ba đỉnh cao Thơ Mới” làm giật
thót tim người đọc; hoặc giả chuyện Chu Văn Sơn giải thiêng thơ tình
Xuân Diệu khi tuyên bố “nàng thơ” trong thơ tình Xuân Diệu” là hai
mang, vừa mọc râu vừa nảy nở nhũ hoa, nghĩa là nửa trai nửa gái… Trước
khi có những bài bàn với Chu Văn Sơn về những ‘ phát minh’ trên, trong
bài này, chúng tôi muốn trao đổi với ông về lối tả liễu của Nguyễn
Du mà theo ông, chỉ nhằm tả liễu; còn cách tả liễu của Xuân Diệu mới
là cách tả liễu hay ho, vượt lên cách tả liễu của tác giả chuyện Kiều.
AṠlà khi Chu Văn Sơn bình giảng
bài thơ : “ Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu từ trang 98 đến trang 124
( sách đã dẫn), với việc so sánh lối tả liễu của Xuân Diệu mới hơn,
hay hơn lối tả liễu của Nguyễn Du, như sau : “ …Còn Xuân Diệu ? AṠlà dáng liễu. Khi rặng liễu
bắt đầu mang dáng đứng chịu tang, thi sĩ biết rằng mùa thu đã hiện diện
ở xứ sở này : “ Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang / Tóc buồn buông
xuống lệ ngàn hàng : / Đây mùa thu tới, mùa thu tới / Với áo mơ phai dệt
lá vàng…”. “Chúng ta biết, Thơ Mới bắt đầu mới trong cảm xúc….Nét
dễ thấy ở đây là một lối liên tưởng mới. Chính lối liên tưởng này
đã tạo ra một vẻ đẹp mới cho đối tượng cũ. Ai cũng biết liễu là
hình ảnh quá quen thuộc trong thơ cổ điển. Trong Truyện Kiều thật nhiều
những dáng liễu đẹp :
“…Trong thơ Nguyễn Du, liễu
có phần nghiêng về vẻ đẹp khách quan, liễu chủ yếu hiện lên bằng vẻ
đẹp của bản thân liễu. Nhà thơ mới Xuân Diệu không chịu làm thế. O⮧ đã “áp đặt” vào liễu
một vẻ đẹp chủ quan, liễu mang trong nó vẻ đẹp người. Từng dòng lá
liễu rủ xuống mang trong nó những dòng tóc đang buông xuống và trăm nghìn
giọt lệ đang tuôn xuống. Tâm trạng liễu là tâm trạng người. Cảm nhận
liễu, người ta cứ thấy phảng phất trong liễu bóng dáng những giai nhân
đài các, kiêu sa mà âu sầu buồn bã. Trước Xuân Diệu, xem ra, chưa có một
dáng liễu nào giống thế”…. “Cảm xúc thẩm mỹ mới về mùa thu của
Xuân Diệu, rõ ràng đã gắn liền với một khía cạnh thi pháp mới, đó
là một trường liên tưởng tân kỳ : vẻ đẹp tạo vật thiên nhiên được
quy chiếu về vẻ đẹp của những giai nhân…”. Qua
trích đoạn trên, ta thấy Chu Văn Sơn đã bộc lộ một số cái sai sau: Cái sai
thứ nhất là khi Chu Văn Sơn bảo trước Xuân Diệu chưa hề có lối mượn
thiên nhiên để tả người, chưa có “thi pháp” : “ Vẻ đẹp tạo vật
thiên nhiên được quy chiếu về vẻ đẹp của những giai nhân”, mà
chính Xuân Diệu mới là người ‘phát minh’ ra lối dùng thiên nhiên để
tả người, cụ thể là để tả giai nhân. Thưa rằng, tất cả cảnh vật,
thiên nhiên trong thi ca phương Đông từ Kinh Thi, Ly Tao, qua thơ của các thời
Hán, Tấn, Tuỳ, Đường, Tống, Minh, Thanh…bên Trung Quốc và ca dao, thơ Lý
Trần qua Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn
Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Huy Tự, Cao Bá Quát,
Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà … của ta đều dùng
lối mượn cảnh tả tình, mượn cảnh tả tâm trạng, tả người, dùng
non tả nước, dùng âm tả dương, dùng vật tả tâm… và ngược lại. Ví
như Nguyễn Trãi mượn cỏ, mượn hoa để nói về người, về thời thế,
về vua và về dân : “Hoa thì hay héo cỏ
thường tươi”…Điều này đã được Nguyễn Du khái quát thành
nguyên lý : “ Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cái
sai thứ hai của Chu Văn Sơn là dám bảo Nguyễn Du tả liễu cốt để tả
liễu; mặc dù mào đầu, ông còn giảm “tông” kết luận này bằng từ
“ có phần” rồi tiến đến “chủ yếu”; rằng “ Trong thơ Nguyễn Du, liễu có phần nghiêng về
vẻ đẹp khách quan, LIỄU CHỦ YẾU HIỆN LÊN BẰNG VẺ ĐẸP CỦA BẢN THÂN
LIỄU”. “Chủ yếu” có nghĩa là gần trăm phần trăm lối tả liễu
của Nguyễn Du cốt chỉ nhằm tả liễu, tả vẻ đẹp bên ngoài liễu (
khách quan). Chu Văn Sơn khẳng định dứt khoát : “ Xuân Diệu không chịu làm thế”, tức
không chịu tả liễu đơn giản như Nguyễn Du. Vậy ta cần xem, theo Chu Văn
Sơn, Xuân Diệu tả liễu kiểu gì ? Chu Văn Sơn tấn phong Xuân Diệu lên
thành nhà “liễu học” với 3 phong cách nhân hoá liễu như sau : “- “áp
đặt” vào liễu một vẻ đẹp chủ quan – liễu mang trong nó vẻ đẹp
con người- dáng liễu là dáng người”. Ý của Chu Văn Sơn trên đã khẳng
định Xuân Diệu không tả liễu như Nguyễn Du. Vậy thì những gì Xuân Diệu
phong cho “liễu” tức là Nguyễn Du không có. Và do đó, theo Chu Văn Sơn,
ta thấy Nguyễn Du có 3 cái thiếu khi tả liễu như sau :
- Nguyễn Du không “áp đặt”
vào liễu một vẻ đẹp chủ quan, tức vẻ đẹp của chủ thể sáng tạo.
- Nguyễn Du không cho “liễu mang trong nó vẻ đẹp
người”
- Nguyễn Du không biết tả “dáng liễu là dáng
người”. Ở chỗ
này, Chu Văn Sơn hoặc chưa đọc Truyện Kiều, hoặc có đọc mà đọc qua
quýt, đọc mà không hiểu nên đã nói rất liều, đã đổ tiếng oan cho
Nguyễn Du trong sự tả liễu kém hơn nhiều hậu bối Xuân Diệu. Nếu Xuân
Diệu còn sống, đọc tới đoạn này của Chu Văn Sơn, chắc thi hào họ
Ngô sẽ giật thót mình mà than rằng : “ Không
dám đâu ! Đừng nói thế e tôi tổn thọ, rằng về cái khoản tả liễu,
Diệu tôi đây giỏi lắm chỉ hàng quan cửu phẩm, sao sánh được với lối
tả liễu “ ma ma Phật Phật, ảo ảo chân chân” của bậc cửu trùng Tố
Như !”. Nói rồi, chắc Xuân Diệu nhất định chạy đến trước bàn
thờ thắp hương vái Nguyễn Tiên Điền, xin tha cho kẻ hậu sinh chưa đọc
Truyện Kiều mà dám lộng ngôn đến thế !” Nguyễn
Du trong Truyện Kiều đã trên dưới 25 lần nói đến liễu hoặc tả liễu.
Phép tả liễu của Nguyễn Du quả là biến hoá khôn lường. Đại thi hào
vừa dùng liễu để tả liễu và để không tả liễu. Tả liễu, Nguyễn
Du tả hồn mình, tả dáng giai nhân, tả tình nhân vật. Tả liễu, Nguyễn
Du còn tả cả trời đất trong đó, tả cái hữu hạn thướt tha trong cái
khôn cùng, lại tả cái khôn cùng mượn hữu hạn liễu mà lơi lả, mà du
dương. Tả liễu, đồng thời Nguyễn Du còn như muốn tả hồn của hậu
sinh lúc đọc đến dáng liễu-Tiên Điền đang buông thả hết rung cảm
lên từng câu Kiều tha thướt…Xin mở ra phép tả liễu của Nguyễn Du :
“ Tả liễu : ở chỗ không có liễu vẫn có liễu; ở chỗ thấy liễu
mà không còn là liễu nữa”, như sau :
Đoạn
thơ trên tả nỗi buồn chia xa, lưu luyến của Kim Kiều sau phút ban đầu gặp
gỡ, khi cả hai cùng bị “tiếng sét ái tình”. Trong thơ phương Đông
nói chung và thơ cổ Việt Xem
ra, phép tả liễu của Nguyễn Du cao thủ hơn lối tả liễu của Xuân Diệu
nhiều. Hai câu mở đầu của Xuân Diệu trong bài “Đây mùa thu tới” mà
Chu Văn Sơn cho là hay hơn, cao sâu hơn, mới mẻ hơn lối tả liễu của
Nguyễn Du, thực ra là cách viết rất Tây, cách nhân cách hoá kiểu Tây :
“ Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang / Tóc
buồn buông xuống lệ ngàn hàng”, hầu như đã phơi hết liễu lên mặt
giấy. Hình ảnh liễu ủ rũ đứng chịu tang mùa thu, rồi bóng liễu từng
giọt đổ như lệ tuôn là hình ảnh rất cổ trong thơ Tây-Tầu xưa, Xuân
Diệu mượn lại mà mở đầu cái giọng hổn hển, vồ vập, cuồng nhiệt
của mình mà thôi. Đằng sau cây liễu ủ rũ như người đàn bà đứng chịu
tang, đằng sau muôn giọt liễu khóc này, ta không còn thấy một thứ “liễu”
nào nữa. Nhưng Nguyễn Du, ông tổ của ngành : “ Thi pháp-Liễu” Việt
Nam thì biết tả liễu ở cả những chỗ không có liễu; lại biết tả người
ở chỗ chỉ có liễu, theo một quy trình biến ảo kiểu : sau liễu là người,
sau người lại thấy liễu; cứ tưởng là tả nước, tả hoàng hôn, tả
người lên ngựa, người ngó theo mà thực ra
Nguyễn Du toàn tả liễu mà thôi. Lúc người đọc tưởng ông
tả liễu thì rốt cuộc, lại hiện ra người, hiện ra hồn vía nhân vật,
hồn vía tác giả và lạ thay, hiện ra cả hồn vía của người đang đọc
Kiều nữa. Không chừng người đọc“bị” hoá thành liễu lúc nào không
hay? Chúng
tôi muốn dẫn ra hàng chục trường hợp tả liễu kỳ ảo của thiên tài
Nguyễn Du trong Truyện Kiều, để thấy mỗi lúc liễu của ông mỗi khác;
nhưng vì khuôn khổ bài báo có hạn, hẹn một dịp khác lại được bàn về
liễu Nguyễn Du với ông Chu Văn Sơn và ông Văn Giá. Xin hai ông cùng chúng
tôi đọc lên, gọi lên một thứ Liễu vốn là người, người thật trăm
phần trăm mà vẫn cứ là bóng liễu đổ dài tha thướt theo nỗi niềm cảm
động, nhớ thương, tiếc nuối, đớn đau của Thúy Kiều còn lưu mãi
trong hồn chúng ta :
Thương
thay cho nàng Liễu thị của Hàn Hoành bị kẻ
khác cướp mất, để nỗi đau buồn xưa còn hoá liễu Kim Kiều, rủ nhớ
thương xuống câu lục bát Nguyễn Du. Hi vọng việc lấy mất tài tả liễu
tuyệt vời của Nguyễn Du để trao cho Xuân Diệu của ông Chu Văn Sơn sẽ
không giống việc nàng Liễu thị của “Toàn Đường thi thoại” bị người
Phiên cướp đi , để lại Chương Đài
một dáng liễu xanh xanh trong nỗi nhớ thương khôn tả của Thuý-Kiều -Liễu.,.
3 | CÓ THẬT CON NGƯỜI CÁ NHÂN ( CON NGƯỜI ĐỜI
THƯỜNG) CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH CHỈ TOÀN LÀ CẶN BÃ ? Sở
dĩ chúng tôi đã cho công bố ba bài báo in trên “Văn Nghệ”, “Người Hà
Nội” , “Thế Giới Mới” trong
tháng 12-2004 phê bình tiến sỹ Chu Văn Sơn, trong cuốn sách “ Ba đỉnh cao
Thơ Mới ( viết về Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử – NXB Giáo Dục)
đã công khai núp bóng nghiên cứu khoa học để hạ bệ, bôi nhọ danh dự
và thi ca từ Nguyễn Du tới Hàn Mặc Tử. TS. Chu Văn Sơn đang là giảng
viên khoa văn đại học sư phạm Hà Nội, lại thường xuyên lên Đài Truyền
Việt Nam bình giảng văn thơ cho cả nước học tập, thường xuyên được
các sở giáo dục mời đi bồi dưỡng các đội tuyển học sinh giỏi văn
lớp 12, nên việc ông dùng những kiến thức không chuẩn, những quan niệm
sai lầm, những nhận định có tính chất mạ lỵ, xúc phạm tới các tác
giả lớn để giảng trong nhà trường là một việc làm rất nguy hiểm;
ví như việc tác giả để hẳn một chuyên luận bảo thơ Hàn Mặc Tử là
thơ điên khùng, là thứ thơ mất trí, vô nghĩa, nhảm nhí; lại nói xấu
Nguyễn Du bảo ông tả liễu thua xa Xuân Diệu, tả liễu chỉ cốt để tả
liễu, mặc dù trong Truyện Kiều đại thi hào đã 25 lần tả liễu và
toàn là tuyệt chiêu của nghệ thuật thi ca. TS. Chu Văn Sơn còn ra sức nói
xấu, hạ bệ thơ tình Xuân Diệu như bảo “nàng thơ” của nhà thơ tình
số một Việt Nam là nửa trai, nửa gái, rằng “em”, với “nàng” trong
thơ tình Xuân Diệu phần lớn là đám đực rựa râu ria xồm xoàm; rằng
chính con người Xuân Diệu có cấu tạo sinh lý nửa đực, nửa cái… Đã
đến lúc chúng tôi phải nhờ công luận báo chí tạo sức ép, không cho
phép TS. Chu Văn Sơn được dùng các diễn đàn hết sức quan trọng và nhậy
cảm như để hạ bệ, bôi nhọ trắng trợn các thần tượng văn học nước
nhà. A vậy mà kinh ngạc thay, trên báo “Văn Nghệ” số 47, ngày
20-11-2004, tác giả Văn Giá bằng bài viết : “ Thêm một công trình nghiên
cứu có chất lượng về Thơ Mới” đã hết lời ca ngợi TS. Chu Văn Sơn,
bằng những lời tung hô đại ngôn mà nếu dành để khen Hoài Thanh, e cũng
còn quá đáng. Chỉ xin tóm tắt mấy ý, mấy từ của Văn Giá, coi Chu Văn
Sơn như “vua” phê bình thơ nước nhà như sau : “ MANG ẤN TÍN, QUYỀN UY CỦA CHU VĂN SƠN”, “
Có dáng dấp một lý thuyết nghiên cứu riêng”, “ Làm nên tư tưởng, dấu
ấn riêng”, “Xuất sắc”, “Tính chuyên môn cao”, “Mang phong cách Chu
Văn Sơn”, “ Gọi được hồn vía của mỗi nhà thơ hiện lên trang giấy”… Lần
này, chúng tôi xin mời quý độc giả, xem Chu Văn Sơn gọi hồn Nguyễn Bính
hiện lên trang giấy bằng cách bảo sau khi vắt kiệt tinh hoa cho thơ, cuộc
đời riêng ( tức con người cá nhân đời thường) của nhà thơ Nguyễn Bính
chỉ còn toàn là cặn bã . Trước hết, xin quý độc giả xem quan niệm về
con người của Chu Văn Sơn đúng hay sai :
“ Nghiên cứu tiểu sử nhiều nhà văn, lắm
lúc thấy nghi ngờ cái tín điều đã thành mặc nhiên trong truyền thống :
văn là người. Thực ra, chẳng phải nhọc lòng hoài nghi. Nó vẫn mặc
nhiên là tín điều. Có chăng, cần phải hiểu thế nào về người thôi. Sự
đồng nhất giản đơn con người sinh hoạt với con người văn chương thì
rất dễ gây thất vọng, hẫng hụt. Bởi văn là sự lên tiếng của con người
tâm linh, con người khát vọng. Khát vọng chân chính của một con người
chính là biểu hiện tập trung cho bản chất của người ấy. Và do đó, tầm
vóc khát vọng cũng quyết định phần lớn tầm vóc của cá nhân. Tôi chưa
biết anh là ai, nhưng hãy bộc bạch khát vọng của mình, tôi sẽ biết anh
là ai”… Quan
niệm về con người của Chu Văn Sơn trên đây là hoàn toàn duy tâm và
không đúng. Đánh giá con người đúng hay sai, xấu hay tốt, đẹp hay không
đẹp người ta đánh giá trên tư tưởng, tình cảm, lời nói và hành vi người
ấy, chứ sao lại chỉ căn cứ trên khát vọng, trên ước mơ của người ấy như Chu Văn Sơn bảo “khát vọng”
là “bản chất” của con người, rằng : “ …Hãy bộc bạch khát vọng của mình, tôi sẽ
biết anh là ai” (!) Ví dụ như khi có một tên chuyên môn giết người
cướp của mang bộ dạng thiện lương, ăn mặc rất trí thức lịch lãm đến
gặp Chu Văn Sơn, rồi bộc bạch khát vọng của mình như sau : tôi luôn ước
mơ sống trong giàu sang phú quý và khát vọng cả thế gian ai cũng vợ đẹp
con khôn, ăn sung mặc sướng, tôi muốn thế giới hòa bình, xã hội phồn
vinh…Ôi chao, toàn là khát vọng chân chính cả thôi ! Nếu chỉ căn cứ vào
khát vọng này để đánh giá, chứ không căn cứ vào hành vi ( thực chất
anh này là tên giết người cướp của) thì e tất cả bọn đao phủ trên
thế gian này đối với Chu Văn Sơn đều có thể là người tốt cả ư ?
Khát vọng của Hitle, Pônpốt… há chẳng tốt đẹp lắm sao ? Bao nhiêu kẻ
có ước mơ khát vọng vương đạo nhưng hành vi thì bá đạo. Bao nhiêu kẻ
lấy mục đích tốt đẹp ( khát vọng bình đẳng, tự do, bác ái) làm môn
bài, làm bình phong để che lấp hành vi xấu xa, độc ác, ví như dương ngọn
cờ chính nghĩa của Cách Mạng tư sản Pháp đi cướp nước người ta đó
sao ? Mang quan
niệm sai trái về con người như trên, rồi áp đặt vào đánh giá con người
nhà văn, Chu Văn Sơn đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác : “Cho nên “văn là người” là con người ấy,
tức con người bên trong, con người bề sâu, con người khát vọng”.
Đánh giá “con người nhà văn” sao chỉ căn cứ vào khát vọng của anh
ta ? Sao lại tách con người thật, con người đời sống, con người thân
phận mang tư tưởng, tình cảm, mang bi kịch cá nhân của nhà văn ra khỏi
bản chất bên trong làm nên nghệ thuật của anh ta ? Việc Chu Văn Sơn tách
“khát vọng bên trong” ra khỏi đời sống bên ngoài của nhà văn là
tách cá ra khỏi nước, tách nội dung ra khỏi hình thức, tách hồn ra khỏi
xác, cũng giống như việc cắt đứt sợi dây diều vẫn buộc con diều
vào mặt đất. Bằng quan niệm duy tâm này, Chu Văn Sơn mượn lời Nguyễn
Khải để cặn bã hoá con người nhà văn nói chung và con người Nguyễn Bính
nói riêng : “ Nhà văn Nguyễn Khải có lần nói : đối
với anh nghệ sĩ, phần tốt đẹp cao quý nhất của tâm hồn đã trút vào
văn chương hết rồi. Còn những gì thể hiện trong sinh hoạt đời thường,
đôi khi chỉ là phần cặn bã của hắn mà thôi. Người ta đã kể ra chả
ít chuyện nhếch nhác, bê tha, lôm loam của Nguyễn Bính trong sinh hoạt giao
du. Con người đời thường lắm chỗ sao mà trái cựa trái khoáy với con
người văn chương đến thế. Nhưng bức chân dung tinh thần đích thực là
thuộc về cái tôi bề sâu của nghệ sĩ. Cái tôi ấy tự hoạ trong văn
chương ngay cả khi nó không hề tự giác. Nguyễn Bính đã trút vào thi ca tất
cả những khát vọng sâu kín và cao quý nhất của mình. Cho nên CHẢ VÌ CÁI BÃ BÊN NGOÀI MÀ NGHI NGỜ CÁI HỒN BÊN TRONG. Cũng bởi SỰ
KHÔNG ĐỒNG NHẤT NÀY mà trong nghiên cứu nghệ thuật mới cần phân biệt
CON NGƯỜI THI SĨ (NGOÀI ĐỜI) và CÁI TÔI THI SĨ ( TRONG VĂN)…( Phần chữ
in hoa trong bài do TMH nhấn mạnh). Ngay cả
khi nói đùa, nói cốt để nhún mình, diễu mình, chọc mình…đi nữa thì
câu nói Chu Văn Sơn dẫn ra được cho là của Nguyễn Khải ( nói ở đâu,
trong hoàn cảnh nào, ngữ cảnh nào ?) cũng không thật đúng. Dù tác giả
có đưa từ “ đôi khi” đi kèm, tức để nói rằng không phải là phổ
biến, thì ý tưởng bảo nhà văn sau khi sáng tạo, tinh hoa phát tiết hết
ra ngoài nên bản thân “hắn” chỉ còn là cặn bã là một cách bôi nhọ
nhà văn, bôi nhọ người nghệ sĩ. Xin xem “Đại từ điển Tiếng Việt”
của Bộ GD&ĐT ( NXB Văn hoá Thông tin 1999) trang 271, định nghĩa từ “cặn
bã” như sau : “ Cái vô dụng, xấu xa,
thấp hèn, đáng bỏ đi, ví như phần cặn và bã sau khi đã chắt lọc, lấy
hết tinh chất : trừ bỏ cặn bã, văn chương cặn bã, phần tử cặn bã
trong xã hội”. Vượt qua mức độ “đôi khi chỉ là phần cặn bã của
hắn ”-nhà văn, Chu Văn Sơn áp dụng ngay vào trường hợp Nguyễn Bính,
và không hề nới tay, đã cặn bã hoá cuộc đời tư của nhà thơ này bằng
từ : CÁI BÃ BÊN NGOÀI : “ Nguyễn Bính đã
trút vào thi ca tất cả những khát vọng sâu kín và cao quý nhất của
mình. Cho nên, chả vì CÁI BÃ BÊN NGOÀI mà nghi ngờ CÁI HỒN BÊN TRONG”. Trong
đời thực, hoàn toàn không có cứ liệu nào chứng minh cuộc đời riêng của
Nguyễn Bính toàn là cặn bã như Chu Văn Sơn vu vạ. Ở chính
chỗ này, Chu Văn Sơn đã “pha” cuộc đời nhà thơ Nguyễn Bính ra làm
hai phần hồn và xác, như người ta “pha” thớt thịt heo : xương ra
xương, thịt ra thịt, huyết ra huyết. Nghiên cứu tác giả tác phẩm mà
‘nghiên cứu’ theo phương pháp mổ bò thế này, thì tiêu vong hết mọi
đối tượng tiếp cận mà thôi. Sau khi “pha” Nguyễn Bính ra làm hai phần
hoàn toàn riêng biệt và đối lập hẳn nhau : CON NGƯỜI THI SĨ ĐỜI THƯỜNG
chính là CẶN BÃ và CÁI HỒN BÊN TRONG – CÁI TÔI THI SĨ TRONG VĂN toàn là
tinh hoa cao quý. Hoá ra, cơ sở của văn thơ tinh hoa cao quý kia lại chính
là CẶN BÃ ư ? Làm sao một con người có cuộc đời cá nhân, cuộc đời
thân phận vô dụng, xấu xa, thấp hèn, đáng khinh, đáng bỏ đi, thải hoại
đi như thế lại sinh ra vàng mười thơ ca toàn là thiêng liêng quý giá được
? Tục ngữ Việt Đối lập
hoàn toàn giữa con người nhà văn với tác phẩm của ông ta, rồi còn CẶN
BÃ HOÁ đời sống thường nhật của nhà văn không chỉ trong trường hợp
riêng Nguyễn Bính, như Chu Văn Sơn đã làm trên đây là một hành vi tiêu
diệt chính văn học vậy. Thế mà lạ thay, Văn Giá lại mượn báo Văn Nghệ
mà khen Chu văn Sơn đến mức tót vời như thế, thì quả là không còn trời
đất gì nữa rồi.,.
© Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com