1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 16.11.2005
                     Trần văn Kha
giaodiem - tran van kha
Vấn đề Cộng Sản –Phụ đính  
 
    “Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin... bất diệt”
                                                   Tố Hữu

Sau khi bài viết “Vấn Đề Cộng Sản” được lên lưới trang nhà “Giao Điểm”, ngày Thứ Tư, 8 tháng 6, 2005, thì ngay ngày hôm sau có bài viết đối đáp của Việt Tiến. Việt Tiến là người như thế nào?

Sau đây là lời giới thiệu của trang chủ Nguyễn văn Hóa:

Vi?t Tiến (là) một du học sinh cấp tiến sĩ ở Nam Hàn thuộc thế hệ còn rất trẻ”

Cứ làm như Việt Tiến là một người rất trẻ, nhưng tài cao? Bài tôi viết hôm trước, ngay ngày hôm sau Việt Tiến đã có bài trả lời. Viết nhanh như thế thì không khỏi không có khuyết điểm, vì chưa được suy nghĩ chín chắn. Với những người trẻ thích đánh phá lung tung thuộc loại mà người bảo “ngựa non háu đá”, Xuân Hương có những câu thơ rất hay:

          “Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
           Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa

Việt Tiến viết bài đối đáp với tôi từ đầu tháng 6, nhưng tôi cứ để đấy, suy nghĩ mãi, không biết có nên viết bài trả lời hay không. Cho mãi đến bây giờ, đầu tháng 10, tôi mới đem vấn đề ra xét lại. Đã từ lâu tôi không viết bài chống cộng đại loại như bài này. Nghĩ rằng, một trang sử đã lật qua, và trong hiện tại Việt Cộng không còn nguy hiểm cho quê hương dân tộc như một số kẻ thù khác, Trung Cộng hay Đế quốc đen Vatican. Trung Cộng mà chiếm đất, thì không biết bao giờ mới đòi lại được.  Những người tự nhận là “tôi tớ hèn mọn” của Vatican mà lật đổ được Việt Cộng để lên cầm quyền, thì chúng ta lại có thể bị họ tàn sát nữa, như đã từng xảy ra trong thời đại chúng ta ở:

- Croatia (từ 1941 đến 1945). Những người bị tàn sát dã man đã lên tới con số khủng khiếp 800.000 người. Một tín đồ Ca-tô trẻ Peter Brzica đã cắt cổ được 1.360 người tù bằng con dao đồ tể đặc biệt.

Hồng y Stepinac lãnh đạo phong trào giết người dã man (với sự đồng ý của Giáo hoàng Pius XII) đã bị một tòa án thành lập sau chiến tranh kết án 16 năm tù ở. (Xin coi thêm chi tiết trong “Thời Đại Mới II”, trang 332-33, và “John Paul II” bài “Thánh Stepinac” trang 343, 355, 371).

- Rwanda (năm 1994). Số người bị giết là từ 500.00 đến 800.000. Hai linh mục Ca-tô (Cha cũng như Chúa) tham gia vào những vụ tàn sát diệt chủng bị tòa án kết tội tử hình. (S.đ.d., trang 333).

- Việt Nam (Từ 1955 đến 1963). Số người bị tàn sát khoảng 300.000 cũng dã man không kém. Có người bị chôn sống, bóp cổ chết...(S.đ.d. trang 333).

Những người không nghiên cứu cái gọi là Kinh Thánh của Giáo hội Ca-tô Rô-ma thắc mắc không hiểu tại sao lại có một thứ đạo độc ác như thế?  Họ giết người độc ác, vì Kinh Thánh của họ dạy họ như thế:

“Ai dâng đồ cúng bất cứ thần nào không phải Jehovah mà thôi thì đều phải tiêu diệt”.

(Exodus 22:20. One who sacrifices to any gods but Jehovah alone is to be devoted to destruction).

Kinh Thánh của họ dạy họ như thế, nên nếu họ cuồng tín và tự nhận là “tôi tớ hèn mọn” của Vatican, thì việc giết người không theo đạo Ca-tô là một việc làm mà họ coi như là bổn phận! Để được thần Do-thái nhưng đã được Giáo hội Ca-tô Rô-ma nâng cấp lên thành Thượng Đế của toàn thể loài người, cho lên cái Thiên đàng mà Giáo hoàng John Paul II bảo là không có ở trên mây. 

Sau đây là những lời của Việt Tiến, kèm theo nhận định của chúng tôi:

     1.- Tôi (Việt Tiến) là một người dân tộc, và câu nói của ông Đặng Tiểu Bình bên Tàu làm tôi tâm đắc : “Mèo trắng mèo đen đều bắt chuột”.

Việt Tiến viết lách với một thái độ kiêu căng, “... làm tôi tâm đắc”, tự coi mình như đứng ngang hàng với Đặng Tiểu Bình. Cái tôi của Việt Tiến quá lớn. Việt Tiến tưởng Việt Tiến tài giỏi, nhưng thực ra Viết Tiến đã viết thiếu thận trọng, viết không suy nghĩ, cẩu thả. Đặng Tiểu Bình dẫu sao cũng là lãnh tụ Đảng Cộng Sản Trung Hoa không thể nói năng ngớ ngẩn, ấm ớ hội tề như thế được. Câu “mèo trắng mèo đen đều bắt chuột” là một câu nói vô nghĩa, nó cũng khôi hài như khi bảo “chó đen chó trắng đều biết sủa, do Việt Tiến phịa ra, để rồi mình lại khen mình. Đặng Tiểu Bình có nói như thế bao giờ đâu!!! Lời của ông, nguyên văn tiếng Anh như sau:

It doesn't matter if a cat is black or white, so long as it catches mice.

"Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng, miễn là nó biết bắt chuột."

Ý ông muốn nói rằng, trong đảng hay ngoài đảng, không quan trọng, miễn là có khả năng thì ông đều dùng cả. Ở bên Tàu dưới thời Mao Trạch Đông, khi lựa chọn sinh viên vào đại học, hay chuyên viên, người ta không lựa chọn theo khả năng, mà theo thành tích cách mạng. Thành ra sinh viên tốt nghiệp đại học ra, hay những nhân viên có nhiều thành tích cách mạng, nhiều khi không dùng được, vì thiếu khả năng. Với tinh thần nô lệ, Trung Cộng làm cái gì thì Việt Cộng làm theo. Ở Việt Nam, sau 1954 và 1975, cũng có vấn đề y như ở Trung Cộng, và được gọi là “Hồng” hay “Chuyên”. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường trong nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm” viết:

*Dù sao, ở Việt Nam chúng ta cũng đã xẩy ra những sự việc như sau đây, ta cần ghi nhớ để con cháu ta cười muôn thuở: khi chọn một người vặn lái ô tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái và đã vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi : “Có lập trường không?” Kết quả là từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà-nội, hàng trăm tai nạn xảy ra do các người vặn lái ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi đưa tới bệnh viện một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là: Bệnh nhân thuộc thành phần giai cấp nào? Chữa cho địa chủ thì “mất lập trường”. Để nó chết mới chứng minh mình có “lập trường giai cấp (hiện tượng do B.S. Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra).

Ở miền Nam Việt Nam, sau 1975, khi chọn sinh viên vào đại học, Việt Cộng không chọn sinh viên theo khả năng, mà lại chọn con cái những gia đình cách mạng, dù kém khả năng. Vì thế trong dân chúng đã có câu “thi lý lịch, không thi khả năng”.      2.- Nếu chủ nghĩa CS không ra đời, nhân lọai sẽ dùng đường lối nào để giải phóng mình? Có thể là đường lối tư bản: những người lãnh đạo hô hào “Theo tôi, cướp của chúng nó cho tôi, tôi sẽ làm ông chủ tốt bụng hơn”, hoặc có thể là phong kiến: kẻ lãnh đạo phong trào cách mạng sẽ lên làm vua, dẹp bỏ hết chuyện bọn có tiền làm “vua không ngai” trong thiên hạ? Cháu mong được cụ Kha giảng cho cháu về điều này.

Có ai tuyên bố,

Những người lãnh đạo hô hào “Theo tôi, cướp của chúng nó cho tôi, tôi sẽ làm ông chủ tốt bụng hơn”,

Kẻ lãnh đạo phong trào cách mạng sẽ lên làm vua, dẹp bỏ hết chuyện bọn có tiền làm “vua không ngai” trong thiên hạ  như thế đâu mà bảo tôi giảng giải. Nhưng ý nghĩ thiếu hợp lý này cũng lại do Việt Tiến phịa ra. Văn chả ra văn! Nếu chủ nghĩa cộng sản không ra đời, thì nhân loại tránh được một thảm họa. Việt Tiến ở Nam Hàn nếu để ý quan sát có thể thấy rõ đời sống của dân Nam Hàn không theo cộng sản, sung túc hơn đời sống của dân Bắc Hàn cộng sản, có năm chết đói hàng triệu. Xin coi thêm chi tiết ở đoạn sau, trong bản tin của L’Express.

Việt Tiến có biết những thảm họa mà Cộng Sản gây ra cho nhân loại nó khủng khiếp như thế nào không? Sau đây là một chút chi tiết mà tôi trích ra từ sách “Le Livre Noir du Communisme”, trang 14:

“Nous pouvons néanmoins établir un premier bilan chiffré qui n’est encore qu’une approximation minimale et nécessiterait de longues précisions mais qui, selon des estimations personnelles, donne un ordre de grandeur et permet de toucher du doigt la gravité du sujet:

          -          URSS, 20 millions de morts,
          -          Chine, 65 millions de morts,
          -          Vietnam, 1 million de morts,
          -          Corée du Nord, 2 millions de morts,
          -          Cambodge, 2 millions de mort,
          ....

Le total approche la barre des cent millions de morts.

“Chúng ta, ít ra, có thể thiết lập một bản thống kê đầu tiên bằng con số nó chỉ là một sự ước lượng tối thiểu và cần có nhiều tin tức chính xác hơn, nhưng, theo những ước lượng cá nhân, nó cho chúng ta thấy cái tầm mức lớn lao và cho phép chúng ta sờ bằng ngón tay sự quan trọng của vấn đề:

          -          Liên Bang Sô-viết, 20 triệu người chết,
          -          Trung Hoa, 65 triệu người chết,
          -          Việt Nam, 1 triệu người chết,
          -          Bắc Hàn, 2 triệu người chết,
          -          Cam-bốt, 2 triệu người chết,
          ....

Tổng cộng số người chết lên tới con số 100 triệu.

Việt Tiến nhắm mắt lớn tiếng phỉ báng Tư Bản, nhưng Việt Tiến có biết Việt Tiến đang phỉ báng ai không? Việt Tiến viết không suy nghĩ gì cả! Phỉ báng người, mà lại thành ra phỉ báng mình. Việt Tiến phỉ báng chính cái chế độ mà Việt Tiến muốn bênh vực. Việt Cộng đã đổi mới, không còn là cộng sản. Nhiều người trong số những lãnh đạo cao cấp, tiền của vào như nước, trở thành cái mà người ta gọi là “Tư Bản Đỏ”. Thế mà tiếc thay Việt Tiến lại không biết!!! Đầu óc để đâu rồi? Việt Tiến đi học tiến sĩ ở Nam Hàn bằng học bổng hay tự túc? Đằng nào thì cũng là tiền của Tư Bản. Nếu là học bổng thì là tiền của tư bản Nam Hàn. Nếu tự túc là tiền của “Tư Bản Đỏ”. Đi du học bằng tiền của tư bản, sống nhờ tư bản, mà lại phỉ báng tư bản. Người ta bảo như thế là “ăn cháo ...”. Việt Tiến cũng giống như cô con gái địa chủ trong một vụ đấu tố ở cuối bài viết này.

  3.- Theo cụ Kha, cháu xin hỏi cụ là cụ Vĩnh Thụy nói thật lòng hay không ? Bởi cụ Kha cho rằng cụ Vĩnh Thụy muốn tránh đổ máu vô ích. Còn theo cháu, nói vậy chứ không phải vậy. Sau này cụ Vĩnh Thụy còn lên làm Quốc trưởng theo Pháp nữa mà, cụ Vĩnh Thụy còn lấy tiền vàng nhân dân bay sang nước ngoài chơi bài nữa. Và một lòng vì nước chứ tòan là do người ta sắp xếp thôi, khi người ta không xài mình nữa thì mình cũng nghỉ khỏe đi ăn chơi ở ngoại quốc.   (Việt Tiến).

Trước hết tôi xin xác nhận, tôi không được một chút ân huệ gì của Cựu hoàng Bảo Đại, tôi chỉ mong nói lên sự thật. Vua Bảo Đại đã không yêu cầu Nhật tái lập trật tự, và đã ra lệnh không được bắn vào dân chúng biểu tình, dù họ tiến vào Đại Nội, vậy thì Vua Bảo Đại đã nói thật.

Vua Bảo Đại được ông Hồ mời làm Cố Vấn, nhưng là Cố Vấn bù nhìn, trang trí cho chế độ, chứ không không thật lòng.

Cụ Vĩnh Thụy còn lấy tiền vàng nhân dân bay sang nước ngoài chơi bài nữa.

Chơi bài là xấu, không thể bênh vực được, nhưng “lừa gạt và phản bội”, thì còn xấu xa bẩn thỉu hơn. Sau đây là tin ở “Internet”:

“Bui Tin has disclosed some mysteries about Ho Chi Minh such as his using the pen name Tran Dan Tien to write a book to idolize himself. These later facts have shown that Ho was always thirsty for fame even though he had gained the highest reputation.

They have also explained why Ho was the only Vietnamese among many in France in the 1910's who officially worked for the Soviet Union after a training, with salary, rank. For the more important, they have explained why Ho could sell Phan Boi Chau's whereabouts to French for HK$10,000 while Phan Boi Chau was hiding in China.

“Bùi Tín đã tiết lộ một số chi tiết bí mật về Hồ Chí Minh tỉ dụ như dùng bút hiệu Trần Dân Tiên để viết một quyển sách tự đề cao mình. Những dữ kiện sau cho thấy rằng Hồ Chí Minh khao khát được nổi tiếng dù rằng ông đã là người nổi tiéng nhất rồi.

Nó cũng giải thích vì sao ở Pháp vào những năm 1910, Hồ Chí Minh là người Việt Nam độc nhất được trả lương và có cấp bậc, trong số nhiều người Việt Nam khác, chính thức làm việc cho Sô-viết Liên bang sau một khóa huấn luyện. Điều quan trọng nhất, là nó đã giải thích tại sao Hồ có thể bán tin tức cho Pháp về nơi cư trú của Phan Bội Châu lấy một số tiền HK $10.000 trong khi Phan Bội Châu đang trốn ở Tàu”.

Nhờ có tin tức của ông Hồ đưa cho, Pháp bắt Cụ Phan đem về Việt Nam kết án tử hình. Nhưng vì dân chúng chống đối, sợ họ nổi loạn, nên bản án giảm xuống còn quản thúc tại gia.

Hồ Chí Minh được Đảng ta đề cao như thần thánh, nhưng ông Hồ có thực sự thần thánh không? Chúng tôi xin trình bày những dữ kiện, để độc giả tùy nghi xét đoán: 

He portrayed himself as a celibate, a pose calculated to epitomize his moral fiber, but he had at least two wives or perhaps concubines. One was a Chinese woman (Tang Tuyet Minh); the other was Giap's sister-in-law (Nguyen thi Minh Khai), who was guillotined by the French. (Stanley Karnow).

“Ông (Hồ Chí Minh) mô tả ông như là người độc thân, một âm mưu có tính toán để nêu cao tấm gương đạo đức, nhưng ông ít nhất có hai vợ hay có lẽ nhân tình (bây giờ người ta gọi là bồ nhí). Một người là đàn bà Tàu (Tăng Tuyết Minh); người kia là em vợ của Giáp bị Pháp chặt đầu. (Nguyễn Thị Minh Khai, vợ của đồng chí Lê Hồng Phong).

Bà vợ hay bồ nhí thứ ba tên Xuân do Vũ Thư Hiên kể trong sách “Đêm Giữa Ban Ngày”, trang 606-07. Theo Vũ Thư Hiên, cô Xuân đã bị Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công an hiếp dâm, rồi giết chết, giết xong đem xác vứt ở Đê Cổ Ngư (bây giờ là Đường Thanh Niên) gần cái dốc lên Đê Yên Phụ, và bảo là bị xe cán chết.

  4.- Nếu cụ Hồ, cụ Giáp và Đảng Cộng Sản (Đông Dương) khi đó không đứng ra chuẩn bị đón bắt thời cơ, tổ chức nhân dân cướp chính quyền … thì sao?

Để đi đến một địa điểm, hay đạt một mục tiêu, người ta có thể dùng nhiều phương tiện khác nhau. Từ Hanoi đi Saigon người ta có thể dùng xe đạp, xe lửa, xe hơi, máy bay, hay tàu thủy. Phương tiện nào tốt, là tùy theo nhu cầu và thời thế. Ấn-độ tranh đấu giành độc lập từ tay người Anh từ cái lúc phong trào phản đế chưa ra đời, dưới sự lãnh đạo của Thánh Gandhi, bằng bất bạo động, đã thành công, mà đổ máu rất ít. Nam Hàn nơi mà Việt Tiến đang học tiến sĩ, đã giành được độc lập từ tay Nhật Bản nhưng không phải là cộng sản, và bây giờ phồn thịnh hơn Bắc Hàn cộng sản.

Cộng Sản không phải là con đường duy nhất để giành độc lập.

Không có ông Hồ, ông Giáp, thì có người khác. Và nếu là một người khác, như Cựu Hoàng Bảo Đại, thì độc lập của Việt Nam có thể thực hiện được, không có những đổ máu khủng khiếp. Mỹ đã giúp Pháp gây chiến ở Việt Nam không phải để giúp Pháp tái chiếm Việt Nam làm thuộc địa, mà là để ngăn chặn làn sóng đỏ. Tài liệu về Nam Dương sau đây chúnh minh cho điều đó:

The following article appeared in the Spartanburg, South Carolina Herald-Journal on May 19, 1990, then in the San Francisco Examiner on May 20, 1990, the Washington Post on May 21, 1990, and the Boston Globe on May 23, 1990. The version below is from the Examiner.

Ex-agents say CIA compiled death lists for Indonesians
After 25 years, Americans speak of their role in exterminating Communist Party
by Kathy Kadane, States News Service, 1990

WASHINGTON -- The U.S. government played a significant role in one of the worst massacres of the century by supplying the names of thousands of Communist Party leaders to the Indonesian army, which hunted down the leftists and killed them, former U.S. diplomats say. For the first time, U.S. officials acknowledge that in 1965 they systematically compiled comprehensive lists of Communist operatives, from top echelons down to village cadres. As many as 5,000 names were furnished to the Indonesian army, and the Americans later checked off the names of those who had been killed or captured, according to the U.S. officials. The killings were part of a massive bloodletting that took an estimated 250,000 lives. The purge of the Partai Komunis Indonesia (PKI) was part of a U.S. drive to ensure that Communists did not come to power in the largest country in Southeast Asia, where the United States was already fighting an undeclared war in Vietnam. Indonesia is the fifth most-populous country in the world.

“Bài viết sau đây được in trên báo Spartanburg, một tờ báo tin tức ở South Carolina ngày 19 tháng 5, 1990, rồi ở tờ San Francisco Examiner ngày 20 tháng 5, 1990, Washington Post ngày 21 tháng 5, 1990, và Boston Globe ngày 23 tháng 5, 1990. Bài viết dưới đây là của Examiner”.

Nhân viên CIA trước kia thiết lập danh sách những người phải giết cho Quân Đội Nam Dương

Sau 25 năm, người Mỹ nói về vai trò của họ trong việc diệt trừ đảng Cộng Sản.

Bài viết của Kathy Kadane, States News Service, 1990

Washington.- Những nhà ngoại giao cũ cho biết, chính phủ Mỹ đã giữ một vai trò quan trọng trong một những vụ tàn sát xấu xa nhất của thế kỷ, bằng cách cung cấp tên hàng ngàn lãnh tụ của đảng Cộng Sản cho Quân đội Nam Dương, quân đội này đã săn lùng những người thiên tả và giết ho. Đây là lần đầu tiên các quan chức Mỹ thừa nhận rằng vào năm 1965 họ cẩn thận ghi tên những cán bộ cộng sản hoạt động từ những nhân vật cao cấp nhất cho đến cán bộ làng. Theo quan chức Mỹ, một danh sách 5.000 người đã được trao cho Quân đội Nam Dương, sau đó người Mỹ xóa tên những người đã bị giết hay bị bắt. Những việc giết người đó là một phần của một vụ tàn sát tập thể mà số người bị giết là khoảng 250.000 người. Việc loại trừ Đảng Cộng Sản Nam Dương là một phần của cố gắng Mỹ để bảo đảm rằng Cộng Sản không chiếm được chính quyền ở một nước lớn nhất Đông Nam Á, mà ở đó nước Mỹ đã tham chiên trong một cuộc chiến tranh không tuyên bố ở Việt Nam. Nam Dương là nước có dân số nhiều vào hàng thứ năm trên thế giới”.

Ở Việt Nam Pháp cũng được Mỹ giúp, nhưng đã thua vì Việt Minh được Trung Cộng tiếp vận vũ khí và cố vấn, như được trình bày dưới đây.

Sau khi chiếm được lục địa Trung Hoa năm 1949, Mao Trạch Đông đã lấy súng của Tưởng Giới Thạch do Mỹ viện trợ trang bị cho các đại đơn vị Việt Minh để:

a) Phục kích đánh tan đoàn quân Charton – Lepage kéo quân rút lui từ Đông Khê về Lạng Sơn, năm 1950, trên con đường gọi là R.C. 4 (Đường Thuộc Địa Số 4). Chi tiết về trận đánh của Việt Minh được ghi nhận như sau:

Được che chở bởi rừng dậm Việt Minh đã huy động, không làm cho đối phương chú ý, những Trung đoàn 36, 88, 99, 165, 174, 175, 209 và 246 và cả Trung Đoàn 308 (Trung đoàn sắt, nổi tiếng, một đơn vị ưu tú về sau đổi thành Sư Đoàn), và những đơn vị địa phương, tổng cộng là 30 tiểu đoàn trong đó có 6 hay 7 tiểu đoàn vũ khí nặng. Để chỉ huy cái khối 20.000 người ấy, lần đầu tiên Giáp sử dụng những phương tiện vô tuyến. *(Protégé par la jungle, le Viet minh engage sans éveiller l'attention les régiments 36, 88, 99, 165, 174, 175, 209 et 246 mais aussi la brigade 308 (La fameuse "brigade de fer", unité d'élite bientôt transformée en division.) et des unités régionales, soit au total une trentaine de bataillons dont 6 ou 7 d'armes lourdes. Pour diriger cette masse de 20.000, Giap dispose pour la premiere fois de moyens radios).

Theo tài liệu của sử gia Vũ Ngự Chiêu, thì chỉ huy trận đánh Đường Thuộc Địa Số 4 là Chen Geng [Tr?n Canh], với những chi tiết như sau:

“Ngày 17/2/1950, Hồ tháp tùng phái đoàn Mao và Chu Ân Lai rời Mat-scơ-va. Sau đó, Hồ ở lại Bắc Kinh tiếp tục thảo luận về viện trợ. Lưu Thiếu Kỳ, Phó Chủ tịch Trung Cộng, đích thân điều động công tác ‘nghĩa vụ quốc tế’ này. Hồ xin Bắc Kinh cung cấp chuyên viên quân sự để cố vấn và chỉ huy từ cấp Trung đoàn và Sư đoàn trở lên, nhưng Lưu Thiếu Kỳ chỉ đồng ý gửi cố vấn. Luo Guibo [La Quí Ba] được chọn làm Cố vấn trưởng chính trị; trong khi Wei Guoqing [Vi Quốc Thanh] cầm đầu phái đoàn cố vấn quân sự với nhân số khoảng 280 người. Trung Cộng cũng hứa giúp huấn luyện và trang bị vũ khí cho 6 đại đoàn (sư đoàn) Việt Minh. Các trung đoàn đầu tiên qua Vân Nam huấn luyện thuộc Đại đoàn Quân Tiên Phong (308) của Vương Thừa Vũ, và 312 của Lê [Trịnh] Trọng Tấn. Để bảo đảm cho việc tiếp vận từ Trung Cộng, Bắc Kinh giúp Hồ mở chiến dịch biên giới ‘Cao-Bắc-Lạng’ hay Lê Hồng Phong II (16/9-14/10/1950), nhằm tiêu diệt lực lượng đồn trú tại Lạng Sơn và Cao Bằng. Người thực sự chỉ huy trận này là Chen Geng [Trần Canh], Tư lệnh Quân Khu Vân Nam, do Hồ xin đích danh”.

b) Bao vây tấn công Điện Biên Phủ. Sau đây là một chút chi tiết về trận đánh:

“Theo đúng kế hoạch, việc bao vây Điện Biên Phủ bắt đầu ngày 13 tháng 3 (1954), vào lúc đó Việt Minh đã tập trung ở địa điểm, gần 50.000 quân đội chính quy, 55.000 quân tiếp vận và khoảng 100.000 dân công. Sự giúp đỡ của Trung Cộng, phần lớn gồm có đạn dược, dầu xăng, và một số đại bác, mang từ biên giới Tàu cách xa 350 cây số, đã lên tới 1.500 tấn mỗi tháng, kể từ đầu năm 1954. Sự tiếp vận bằng máy bay cho quân đồn trú 15.000 người của Pháp đã bị cắt đứt, khi đại bác của Việt Minh thành công làm cho phi trường không thể sử dụng được. Một hệ thống đường hầm nghiên cứu kỹ lưỡng đào ở sườn núi giúp cho Việt Minh bảo vệ súng đại bác bằng cách di chuyển thường xuyên để không bị khám phá. Hàng trăm cây số giao thông hào giúp cho quân tấn công tiến dần tới sát đồn của Pháp. Trong trận đánh cuối cùng, những cuộc tấn công biển người được sử dụng để đánh chiếm hệ thống phòng thủ chu vi, chiếm những súng phòng thủ rồi dùng những súng đó để tấn công pháo đài chính. Quân đồn trú Pháp đầu hàng ngày 7 tháng 5 (1954), chấm dứt cuộc bao vây nó gây ra cho khoảng 25.000 người Việt Nam chết, và 1.500 lính Pháp.

(Accordingly, the siege of Dien Bien Phu began on March 13, by which time the Viet Minh had concentrated nearly 50,000 regular troops, 55,000 support troops, and almost 100,000 transport workers in the area. Chinese aid, consisting mainly of ammunition, petroleum, and some large artillery pieces carried a distance of 350 kilometers from the Chinese border, reached 1,500 tons per month by early 1954. The French garrison of 15,000, which depended on supply by air, was cut off by March 27, when the Viet Minh artillery succeeded in making the airfield unusable. An elaborate system of tunnels dug in the mountainsides enabled the Viet Minh to protect its artillery pieces by continually moving them to prevent discovery. Several hundred kilometers of trenches permitted the attackers to move progressively closer to the French encampment. In the final battle, human wave assaults were used to take the perimeter defenses, which yielded defensive guns that were then turned on the main encampment. The French garrison surrendered on May 7, ending the siege that had cost the lives of about 25,000 Vietnamese and more than 1,500 French troops.)

Nhiều người đọc qua sẽ không biết tại sao Việt Minh có thể huy động được hàng 100.000 dân công vận tải lương thực súng đạn cho họ? Trong số 100.000 dân công ấy có bao nhiêu người bị thương, bao nhiêu người chết? Không ai biết, không ai nói đến!!!

Với cuộc “Cải Cách Ruộng Đất” mà Việt Minh bảo là,

“Một cuộc cải cách long trời lở đất” mà hậu quả là khiến cho người dân trở thành một đoàn người khiếp sợ Đảng, đến độ bảo sao cắm đầu nghe vậy, không dám oán than ngay cả với người thân trong gia đình”...

“Đảng đã đạt được mục đích vì nhiều người bở vía trước cuộc đấu tranh bạo lực đã xung phong đi dân công hoặc đi tân binh, giúp Đảng giải quyết được nhu cầu cấp bách của chiến tranh”.

Họ làm như thế nào? Họ đã thi hành chính sách khủng bố một cách hết sức máy móc, bất chấp sự thật, bất chấp luật pháp, bất chấp công bằng, hết sức dã man. Năm 1956, dân số miền Bắc ước lượng vào khoảng 20.000.000, với khoảng 4.000.000 gia đình nông dân. Họ đặt ra chỉ tiêu:

a) Cứ 100 gia đình nông dân, phải tìm ra cho đủ số 5 địa chủ (5%). Không được ít hơn, nhiều hơn càng tốt. Như vậy, số người bị đem ra đấu tố là, 5% x 4.000.000 = 200.000.

b) Trong số 5 địa chủ, phải xử tử 2 người. Nếu ta lấy 2 nhân với 200.000 chia cho 5 thì số người bị xử tử là 80.000.

Người ta thường ước lượng con số địa chủ bị giết là vào khoảng từ 50.000 đến 100.000, như vậy con số 80.000 có vẻ hợp lý.

“Mục tiêu tối hậu của việc phế bỏ quyền tư hữu đất đai ( cải cách ruộng đất) là để giành giật khả năng và quyền lực chính trị khỏi tay nông dân, và tập trung quyền lực chính trị đó vào tay chế độ chuyên chính vô sản (đúng ra là vào tay Việt cộng). Những người thợ và trí thức vô sản bị mất hết quyền lực chính trị vì họ bị khống chế bởi tên chủ Việt cộng qua hệ thống hộ khẩu và chế độ bình công chấm điểm. Họ chỉ được đủ ăn tới một mức... lúc nào cũng còn đói, nếu họ tuân theo những quy luật do "tên chủ" Việt cộng đề ra. Trong tay họ không có tài sản, không có tiền, không có vũ khí; họ bị cô lập bởi hệ thống công an, bởi thế; về phương diện quyền lực chính trị, mỗi nông dân là một con số không trong chế độ Cộng sản. Trong một chế độ dân chủ, một nông dân dù nghèo rớt cũng còn có một chút vốn kinh tế vì họ còn làm chủ được tấm thân của họ, nghĩa là họ còn có một chút quyền lực chính trị. Đem gom góp hàng triệu những quyền lực chính trị nho nhỏ đó, người ta có thể tạo nên một thế lực tương đối lớn để tự bênh vực mình. Trong chế độ Cộng sản, nếu đem gom góp một triệu con số không (của quyền lực chính trị của mỗi nông dân), ta cũng vẫn chỉ được một con số không thiệt to. Hiểu được như thế, ta hiểu được hậu quả của cuộc cải cách ruộng đất đối với việc củng cố bộ máy đàn áp kềm kẹp của Việt cộng ở miền Bắc”.

Ông Hồ và ông Giáp không quan tâm tới sự thiệt hại về nhân mạng, bao nhiêu người bị giết, bị chết vì “cải cách ruộng đất”, vì chiến tranh không quan trọng. Chỉ cần Cộng Sản chiếm được chính quyền và bảo vệ được chính quyền. Con người bị coi như như rác rưởi dùng xong thì vứt bỏ.

          “Nhất tướng công thành
           Triệu cốt khô

“Dưới con mắt người Âu-châu, người ta không thể tưởng tược được rằng ông Hồ dám hi sinh một cách khủng khiếp mạng sống của con người như ông đã làm. Nhưng vào năm 1946, khi chiến tranh với Pháp lờ mờ hiện ra, ông cảnh cáo họ, “các ông có thể giết 10 người của chúng tôi mỗi khi chúng tôi giết một người của các ông, những dù bất lợi như thế, các ông sẽ thua và tôi sẽ thắng”. Người Pháp tin tưởng vào khả năng trội hơn của họ coi thường lời cảnh cáo và kết cục bị thất bại nặng nề. Các sĩ quan cao cấp của Mỹ cũng thế, duy trì ảo tưởng rằng những vũ khí tối tân của họ rồi ra sẽ bẻ gẫy tinh thần kẻ thù. Nhưng, như nhà chỉ huy sáng chói của Hồ, Tướng Võ Nguyên Giáp đã nói với tôi ở Hanoi, năm 1990, điều ông quan tâm hơn hết là chiến thắng. Khi tôi hỏi, ông có thể trong bao nhiêu lâu chống lại được sự tàn sát của Mỹ, ông nói như quát, “20 năm, có thể là 100 nămnếu cần để chiến thắng, bất chấp thiệt hại”. Sự thiệt hại nhân mạng thật khủng khiếp. Khoảng 3 triệu quân nhân Bắc Nam và dân chúng đã chết.”

To Western eyes, it seemed inconceivable that Ho would make the tremendous sacrifices he did. But in 1946, as war with the French loomed, he cautioned them, "You can kill 10 of my men for every one I kill of yours, yet even at those odds, you will lose and I will win." The French, convinced of their superiority, ignored his warning and suffered grievously as a result. Senior American officers similarly nurtured the illusion that their sophisticated weapons would inevitably break enemy morale. But, as Ho's brilliant commander, General Vo Nguyen Giap, told me in Hanoi in 1990, his principal concern had been victory. When I asked him how long he would have resisted the U.S. onslaught, he thundered, "Twenty years, maybe 100 years — as long as it took to win, regardless of cost." The human toll was horrendous. An estimated 3 million North and South Vietnamese soldiers and civilians died. (Stanley Karnow).

Hiểu rõ tâm lý của những người cầm quyền Việt Cộng, chúng tôi biết rằng, chống cộng bằng bạo động thì cũng chẳng khác gì lấy trứng chọi với đá, lấy sở đoản mà chống lại sở trường, không thể thắng. Giả dụ bây giờ dân chúng nổi loạn như điều mong mỏi của những ông quan chống cộng bằng mồm ở đất Bolsa, thì Việt Cộng cũng không ngần ngại gì mà không bắn vào dân chúng để bảo vệ quyền hành của họ. Các ông chống cộng mà không biết địch, không biết mình, không biết thế nào là tương quan lực lượng, thì làm sao thắng. Sau 30 năm đòi lật đổ, giải thể Việt Cộng bằng mồm không thành công, bây giờ các ông thay đổi chiến lược, đòi Việt Cộng thực thi dân chủ, tôn trọng nhân quyền, như chúng tôi đã từng đề nghị từ trên 10 năm nay! Cái cách chống cộng của các ông giống như nốt ghẻ ruồi, chỉ làm cho khó chịu, chứ không thay đổi được gì. Rồi nốt ghẻ ruồi cũng bị loại trừ thôi!!!

Võ Nguyên Giáp chỉ huy một quân đội thắng trận, được người ta đề cao. Không biết rằng, chiến lược của ông là một thứ chiến lược dò dẫm, lấy mạng sống con người ra làm vật thử nghiệm. Thật là độc ác! Thua trận này, ông bày trận khác. Đơn vị này bị xóa sổ, ông lấy đơn vị khác thay thế. Sau đây là một chút chi tiết về quyết định bao vây Khe Sanh của ông.

“Vào cuối năm 1967 và đầu năm 1968, Mỹ bắt đầu tăng cường lực lượng đồn trú ở Khe Sanh làm như để ngăn chặn sự di chuyển của quân đội Việt Cộng, nhưng thực ra là giăng bẫy. Căn cứ có thể trong lúc đầu chứa được 6.000 binh sĩ, 3 tiểu đoàn của Trung đoàn 26 Thủy quân Lục chiến. Những đơn vị này về sau được tăng cường thêm một tiểu đoàn của Trung Đoàn 9 Thủy Quân, và Tiểu đoàn Biệt Động Quân 37 của Quân Đội Việt Nam.

Bắc Việt đáp ứng đúng như sự chờ đợi của Westmoreland, họ đem tới hai sư đoàn quân đội chính quy, sư đoàn 304 và 325, với một quân số tổng cộng 23.000 người. Họ được trang bị đầy đủ vũ khí nặng, trong đó có những súng đại bác rất tốt 130 và 152 ly và hỏa tiễn 122 ly của Sô-viết.

Sự thiệt hại của Giáp thật nặng nề, với khoảng 15.000 người chết, so với 205 lính Thủy Mỹ chết và 500 bị thương. Cuối cùng thì Westmoreland đã đúng: Không quân Mỹ (mà một phần thời gian được đặt dưới sự chỉ huy tập trung của USAF) đã biến cuộc bao vây Khe Sanh thành một chiến thắng rõ rệt của Mỹ. Giáp đã phạm phải hai sai lầm căn bản. Thứ nhất, ông ước đoán sai sự hữu hiệu của Không quân Mỹ và quyết tâm tiêu diệt quân bao vây. Thứ hai, những lục lượng mà ông để cho bị tiêu diệt ở quanh Khe Sanh có thể được sử dụng hữu hiệu hơn để hỗ trợ cho vụ tấn công Tết Mậu Thân, vụ tấn công này tỏ ra là một thất bại đau đớn cho Việt Cộng, họ bị thiệt hại khoảng 45.000 người.

During late 1967 and early 1968, the US began to increase force levels at Khe Sanh, ostensibly to interrupt Communist troop movements but in fact to bait a trap. The base could accommodate only about 6,000 troops-initially, three battalions of the 26th Marine Regiment. These were later reinforced by a battalion from the 9th Marine Regiment and the South Vietnamese Army's 37th Ranger Battalion...

The North Vietnamese responded exactly as Westmoreland expected, ultimately bringing in two full regular divisions, the 304th and 325th, for a total of 23,000 troops. They were well-equipped with heavy guns, including the effective Soviet-made 130 and 152 mm guns and 122 mm rockets.

Giap's losses were severe, with some 15,000 killed, compared to 205 Marine deaths and 500 total US fatalities.

In the end, Westmoreland was correct: US airpower (which operated for part of the time under centralized USAF control) had turned the siege of Khe Sanh into a clear American victory. Giap had made two basic mistakes. First, he had underestimated the effectiveness of US airpower and determination of the American military to break the siege. Second, the forces he had allowed to be decimated around Khe Sanh could have been employed to far greater advantage in support of the Tet offensive, which proved to be an unmitigated military disaster for the Communists, who suffered an estimated 45,000 casualties.

Quân số 23.000 người, mà có đến 15.000 người chết. Người nào ở gần chỗ bom nổ thì chết ngay, bị đất vùi lấp. Những người ở xa bị thương vì hơi ép của bom, vỡ màng tai, ói ra máu, què chân, cụt tay, không được ai săn sóc, la hét vì đau đớn, quằn quại trên mặt đất, hay trong những giao thông hào, nhiều ngày sau mới chết. Những người chết như thế bị coi như mất tích?!!! Cha mẹ, vợ con, muốn tìm xương con, hay chồng, hay cha, có thể mang xẻng cuốc tới Khe Sanh đào bới may ra tìm thấy! Những người này bây giờ được gì? Vẫn sống trong nghèo khổ! Hưởng bây giờ là giai cấp thống trị. Công là công của ông Hồ, ông Giáp. Chỉ nói đến công của ông Hồ, ông Giáp, không nói gì đến người chết! Tại sao họ không lập một lễ đàn để cầu nguyện cho những người chết ở Khe Sanh? Những hồn ma ấy có thể vẫn còn ở đấy, chưa siêu thoát. Giống như những hồn ma chết trong oan ức, những người bị Nhật bắt đi làm đường xe lửa nối liền Bangkok với thủ đô Rangoon. “Tính tới tháng 10/1943, khi 230 “mai” (miles) đường xe lửa hoàn tất, đã có hơn 16.000 người phải bỏ mạng”. Những hồn ma ấy không siêu thoát được, hiện về báo mộng cho Sompong Chorenchai, một chủ tiệm sửa xe, 41 tuổi, yêu cầu anh giải thoát cho họ khỏi khổ đau. (Xin coi chi tiết trong “Thời Đại Mới II”, trang 281). Ở Khe Sanh 15.000 lính chết trận. Ở dọc con đường xe lửa Bangkok - Rangoon, 16.000 người lao công chết. Số người chết gần bằng nhau.

Sau vụ tấn công Tết Mậu Thân đầu năm 1968 (30 tháng 1/1968) vi phạm thỏa ước ngưng bắn mà họ đã ký kết, Việt Cộng mở cuộc tấn công thứ hai, từ ngày 5 đến 13 tháng 5, 1968. Sự thiệt hại nhân mạng lần này là 5.270 người chết, nâng tổng số người bị chết lên tới 50.270 người (45.000 + 5270).

(Second Communist Offensive, May 5-13 1968. The Communists launch another offensive against South Vietnamese cities. In the course of the offensive, 5,270 Communists, 154 Americans and 326 South Vietnamese are killed).

Việt Cộng tiếp tục mở các cuộc tấn công cho đến năm 1969, hi vọng chiến thắng trên chiến trường đem lại chiến thắng trên bàn hội nghị. Chi tiết về những trận tấn công được ghi nhận như sau:

“Trận tấn công Saigon đợt hai, với đầy đủ hỏa tiễn khởi đầu vào tháng Năm (1968). Bằng những cuộc tấn công ấy và những cuộc tấn công khác vào mùa xuân và mùa hè 1968, Việt Cộng tiếp tục gây áp lực trên chiến trường để gia tăng vị thế điều đình trong những cuộc hòa đàm bốn phe được dự trù vào tháng Giêng 1969 (ở Paris và gồm có đại diện của Mỹ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tháng Sáu 1969, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và những tổ chức đồng minh của họ thành lập Chính Phủ Cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Nam Việt Nam được Hanoi chấp nhận như là chính phủ hợp pháp Nam Việt Nam). Vào lúc ấy, những thiệt hại của Việt Cộng tính từ Tấn Công Tết Mậu Thân là 75.000 người, và tinh thần suy sụp, kể cả trong giới lãnh đạo đảng”.

(A second assault on Saigon, complete with rocket attacks, was launched in May. Through these and other attacks in the spring and summer of 1968, the Communists kept up pressure on the battlefield in order to strengthen their position in a projected a series of four-party peace talks scheduled to begin in January 1969 (that called for representatives of the United States, South Vietnam, North Vietnam, and the National Liberation Front to meet in Paris. In June 1969, the NLF and its allied organizations formed the Provisional Revolutionary Government of the Republic of South Vietnam (PRG), recognized by Hanoi as the legal government of South Vietnam). At that time, communist losses dating from the Tet Offensive numbered 75,000, and morale was faltering, even among the party leadership).

Nếu ông Hồ không phải là tay sai của Nga, Tàu, cầm quyền ở miền Bắc, và nếu họ không gây chiến để chiếm đoạt miền Nam Việt Nam bằng mọi giá, thì Mỹ không đem quân vào. Và không có chất độc da cam rải trên đất đai Việt Nam gây hệ lụy cho hàng trăm ngàn trẻ em tàn tật. Mỹ đã không thắng, vì quan niệm sai lầm về chiến lược. Nên cuối cùng phải điều đình ngưng chiến để gọi là rút lui trong danh dự, và lấy tù binh về. Việt Cộng khoe khoang đã có công thống nhất đất nước, nhưng cái giá phải trả thật khủng khiếp. Nếu đất nước không thống nhất thì sao? Hai miền Nam Bắc, thi đua xây dựng đất nước, bên nào dân sống có tự do, hạnh phúc, thì dân sẽ lựa chọn bên đó để thống nhất. Hàn Quốc vẫn còn chia đôi, Bắc Hàn cộng sản, Nam Hàn dân chủ. Nếu bây giờ có một cuộc bàu cử tự do, thì dân chọn bên nào? Câu trả lời chắc ai cũng biết.

Việt Cộng không có gì để khoe khoang hãnh diện. Sau khi chiếm được Nam Việt Nam, thống nhất đất nước, thì hàng triệu bà mẹ già mất con, hàng triệu người vợ trẻ mất chồng, vài trăm ngàn người tàn phế, hàng trăm ngàn trẻ con bị tàn tật vì chất độc da cam, dân bần cùng đói khổ, ăn com gạo mốc. Mãi cho đến năm 1990, khi khối cộng tan vỡ, Sô-viết Liên Bang (Soviet Union) trở thành Sô-viết Tan hoang (Soviet Disunion), Việt Cộng thi hành chính sách đổi mới, bãi bỏ “độc quyền kinh tế” mà họ gọi là “kinh tế chỉ huy”, để đi theo “Tư Bản” làm “kinh tế thị trường” kèm theo cái đuôi dài lòng thòng “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, không giống ai, vì không ai biết nó như thế nào, thì dân mới dần dần đỡ khổ. Đường lối xây dựng đất nước của Việt cộng, kể từ sau chiến tranh đã làm chậm bước tiến của đất nước, khoảng 20 năm, 15 năm từ 1975 cho đến 1990, khi có đổi mới, và kèm theo ít nhất 5 năm nữa để dò dẫm.

  5.- Nước mất không lo, đã vội lo danh lợi, lo cho con đường của mình phải được đắc dụng, lo thủ tiêu Việt Minh chứ chẳng riêng gì Việt Minh muốn dập đám “đục nước béo cò” này.  Vụ án Ôn Như Hầu vẫn còn rành rành ra đó! 

 “Vụ án Ôn Như Hầu” là gì? Như thế nào? Sao Việt Tiến không nói rõ ra? “Rành rành ra đó” là như thế nào? Rõ ràng ai cũng có thể biết? Nhưng nhiều người không biết, vì nó xảy ra đã từ lâu lắm. Tôi may mắn biết được vì tôi sống trong thời gian đó. Vụ “Ôn Như Hầu” xảy ra vào tháng 7/ 1946, tính đến năm nay 2005 là 59 năm. Nếu Việt Tiến là một sinh viên tiến sĩ rất trẻ, thì năm ấy anh chưa sinh ra. Viết về một sự kiện xảy ra khi mình chưa ra đời mà lại bảo “rành rành ra đó”, chứng tỏ Việt Tiến không hiểu rõ tiếng Việt và viết ẩu. Việt Tiến nên đi học lại Việt văn, và trước khi học Văn thì học Lễ, để viết lách thận trọng, khiêm tốn hơn. Việt Tiến viết theo tài liệu của Việt Cộng, mà Việt Cộng viết thì lẽ dĩ nhiên phần phải, phải về họ. Không chắc chắn là sự thật, không rành rành cái gì cả. Có phải ngày hôm nay đâu mà ai cũng có thể nhìn thấy. Việt Minh loan tin là Việt Nam Quốc Dân Đảng bắt người của chính phủ, hay cán bộ Việt Minh đem về tra tấn, giết chết, rồi chôn ở trong vườn. Nhưng hồi đó có luồng dư luận cho rằng, đó là một cú sắp đặt (coup monté). Việt Minh lấy một số xác chết ở nghĩa trang, đem về đó vu cáo là Quốc Dân Đảng giết người đem chôn ở trong vườn.

Nếu Quốc Dân Đảng bắt Việt Minh thủ tiêu, chôn ở trong vườn, thì cũng có thể coi như hòa. Bởi vì Việt Minh cũng đi lùng bắt cán bộ của Quốc Dân Đảng đem lên Chèm Vẽ thủ tiêu, mà họ gọi là cho đi ngủ với giun. Cá nhân chúng tôi đã một lần, chỉ một lần rồi thôi, tham gia vào việc bắt người, nhưng không đồng ý bắt, còn giết người thì hoàn toàn không.

à Đọc tiếp từ điểm “6” đến “12”

© Copyright 2005 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com