1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 16.11.2005

  Trả lời Việt Tiến từ điểm “6” đến “12”:

6.- Chính quyền mới của Việt Nam gọi chế độ VNCH là “ngụy quyền”, gọi người lính VNCH là “ngụy quân”. Xem ra điều này không mấy khó hiểu. Lý giải điều này nhiều lần quá e nhàm, cháu xin không nói đến nó vì đã có nhiều người nói sắc sảo rồi

Việt Tiến cho rằng gọi “lính VNCH là ngụy quân không mấy khó hiểu”, nghĩa là đúng. Việt Tiến không hiểu dụng ý của chúng tôi khi trách Việt Cộng đã sai lầm gọi chúng tôi là ngụy, để làm giảm bớt sự căm thù của những người tị nạn Việt Cộng, chạy trốn thiên đàng lao động. Việt Tiến quên mất rằng, chính phủ của Việt Tiến đang kêu gọi (ngụy) Việt Kiều đem tiền về Việt Nam đầu tư, và những người (ngụy) học thành tài về nước giúp việc, và (ngụy) Việt Kiều là một bộ phận không thể tách rời. Nếu chúng tôi và con cháu chúng tôi vẫn bị coi là ngụy, thì chúng tôi và con cháu chúng tôi làm sao có thể đem tiền về Việt Nam đầu tư, hay đóng góp vào việc xây dựng lại một quốc gia đã đổ máu quá nhiều? Việt Tiến có định chống lại chính phủ của Việt Tiến không? Việt Tiến gọi chúng tôi là “ngụy”, nhưng Việt Tiến quên mất rằng chúng tôi có thể đối đáp lại, và gọi Việt Cộng là những tên nô lệ cho Nga, Tàu.

Thứ nhất. Chúng tôi xin chứng minh trước hết là bằng lời thơ của Bộ Trưởng Bộ Kinh tế, Tố Hữu (đã về với Bác), mà chúng tôi đã nói đến ở trên:

      “Thương biết mấy nghe con tập nói
       Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin
                   
       Thương cha, thương mẹ, thương chồng
       Thường mình thương một,
       Thương Ông, thương mười”

Lời thơ tuy hay, nhưng nghe ra “ngậm đắng nuốt cay thế nào”, làm cho tôi không thể không phì cười.

Tố Hữu kêu trời, kêu đất,

    “Hỡi ôi, Ông chết, đất trời biết chăng”

Trong sách “Tranh Đấu” trang 138, (xuất bản năm 1987) chúng tôi có trả lời Tố Hữu:

“Xin thưa, ông chết đất trời có biết, cả vũ trụ đều biết. Đảng của ông cũng sắp chết, vì kinh tế suy sụp trầm trọng, và vì mâu thuẫn nội bộ giữa nước cộng sản này với nước cộng sản khác, đem đại bác, xe tăng ra bắn giết nhau, và giữa người dân bị kìm kẹp bóc lột đến tận cùng xương tủy, với những người cầm quyền tàn bạo nhất trong lịch sử”.

Tố Hữu và những ông quan Việt Cộng nô lệ cho Nga Tàu coi Staline (hay Stalin) là thần tượng, nhưng Staline là người như thế nào? Lúc sống Staline được tôn vinh lên làm Thượng Đế, chết đi (ngày 5/3/53) được mồ yên mả đẹp trong 3 năm. Đến năm 1956, thì Staline bị chính những đảng viên đàn em của ông hạ bệ. Staline bị kết tội là kẻ sát nhân. Một vài năm sau nữa, những tượng của Staline ở Nga và các nước chư hầu Đông Âu bị kéo đổ, chất đống, đem bán làm đồng nát. Thành phố Stalingrad mang tên ông đổi lại thành Volgograd. Tháng 10, 1961, xác ướp của ông ở Công Trường Đỏ nằm bên cạnh Lenin (hay Lénine) bị trục xuất đem đi chôn ở một nghĩa trang gần chân tường Kremlin.

Xin mời quý vị đọc tiếp thơ của Tố Hữu:

    “Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ
     Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
     Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
      Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin... bất diệt

(Việt Tiến nghĩ sao? Có phải Việt Cộng đã tự nguyện làm nô lệ cho Nga, Tàu không?)

Xuân Diệu với những bài thơ tình lãng mạn, bây giờ theo Bác và Đảng, cũng tỏ ra sắt máu không kém gì Tố Hữu:

    Địa hào đối lập ra tro
    Lưng chừng phản động đến giờ tan xương
     Thắp đuốc cho sáng khắp đường,
     Thắp đưốc cho sáng đình làng đêm nay.
     Lôi cổ bọn nó ra đây
     Bắt quỳ gục xuống, đọa đày chết thôi.
        (Trích Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, trang 22 và 23)

Thứ hai.  Ở vườn hoa trước kia gọi là “Vườn hoa Con trâu” vì có tượng con trâu ở đó, sất với Đường Cột Cờ, bây giờ là Đường Điện Biên Phủ, Việt Cộng đã dựng tượng Lenine (hay Lenin) để thờ. Lenine đã khai sinh ra chính phủ Cộng Sản ở nước Nga. Nước Nga có lý do để tôn thờ Lenine, nhưng Việt Nam dựng tượng Lenine để tôn thờ, vì Việt Cộng tự coi họ là đàn em của nước Nga mà họ ca tụng là thành đồng cách mạng. “Thành đồng sụp đổ rồi, em ơi!”

Liên Bang Sô-viết thờ Lenine thì còn có lý, nhưng Việt Cộng mà thờ Lenine là một sự ngu xuẩn, vì Lenine bị thế giới tự do coi là một tên tội phạm.

Báo U.S. News & World Report trong bài “Does Leadership Matter?”, trang 91,  số ra ngày October 31, 2005 đã viết:

“Lịch sử chính trị của thế kỷ 20, sử gia John Keegan người Anh viết, có thể tìm thấy trong tiểu sử của sáu người: Lenin, Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông, Churchill, và Franklin Roosevelt. Bốn người trên là những người tàn bạo, họ gần đưa thế giới sa xuống vực thẳm; nếu không có hai người sau cùng, thế giới văn minh Âu-châu có thể đã chết”.

(The political history of the 20th century, he (British historian John Keegan) wrote, can be found in the biographies of six men: Lenin, Stalin, Hitler, Mao Zedong, Churchill, and Franklin Roosevelt. The first four were tyrants who almost drove the world over a cliff; had it not been for the final two, western civilization might have perished).

“Kể từ khi văn khố của Sô-viết mở cửa công khai, chúng ta có thể đọc được tầm mức tội ác của Lenin, chiều sâu mãnh liệt của nó. Vào năm 1918, trong một thư gửi cho những lãnh tụ Bolschevik, Lenin đã chỉ thị cho họ phải tấn công những người lãnh đạo dân quê không chấp nhận cách mạng: “Các đồng chí! Treo cổ (treo không bỏ sót, để cho mọi người thấy) ít ra là hàng trăm điền chủ có tiếng, những tên nhà giàu, những tên hút máu... Phải làm thế nào để ... hàng trăm cây số ở xung quanh, người ta có thể trông thấy, run sợ, gào thét: ‘Chúng nó đang xiết cổ, và sẽ xiết cổ cho đến chết những tên điền chủ hút máu’... Thân mến, Lenin. (David Remnick).

(Since the Soviet archives became public, we have been able to read the extent of Lenin's cruelty, the depths of its vehemence. Here he is in 1918, in a letter instructing Bolshevik leaders to attack peasant leaders who did not accept the revolution: "Comrades! ... Hang (hang without fail, so that people will see) no fewer than one hundred known kulaks, rich men, bloodsuckers ... Do it in such a way that ... for hundreds of versts around, the people will see, tremble, know, shout: 'They are strangling and will strangle to death the bloodsucker kulaks' ... Yours, Lenin.")  David Remnick.

Tôn thờ Lénine, thì đương nhiên Việt Cộng chấp nhận và ca tụng tội ác của Lénine, đồng lõa với tội ác. Việt Cộng nên cho xếp tượng Lénine vào viện bảo tàng, bên cạnh xác khô của ông Hồ.

Tinh thần nô lệ của Việt Cộng còn thấy rõ ở việc ướp xác ông Hồ để thờ kính. Thấy Sô-viết, và Trung Cộng ướp xác các lãnh tụ của họ, Việt Cộng cũng bắt chước Sô-viết, nhờ chuyên viên Sô-viết ướp xác ông Hồ, trái với lời di chúc của ông.

“Ước mong phô bày sự vinh quang của ông sau khi chết, những đàn em của ông trưng bày xác ướp của ông trong cái lăng làm bằng đá hoa cương xấu xí dập theo khuôn mẫu cái mộ của Lenin ở Moscou. Họ đã vi phạm ước nguyện cuối cùng của ông. Trong lời di chúc, ông nói rõ rằng tro của ông được đem chôn trong những cái bình trên ba ngọn đồi ở Việt Nam, bảo rằng không những hỏa thiêu tốt về phương diện vệ sinh, mà còn bảo vệ được đất trông trọt”.

(Aspiring to bask in the reflected glory of his posthumous triumph, his heirs put his embalmed body on display in a hideous granite mausoleum copied from Lenin's tomb in Moscow. They violated his final wishes. In his will he specified that his ashes be buried in urns on three hilltops in Vietnam, saying, "Not only is cremation good from the point of view of hygiene, but it also saves farmland.- Stanley Karnow).

Thờ xác chết là một quan niệm lạc hậu của người xưa muốn được sống mãi. Chẳng có ai sống mãi, kể các những xác ướp. Cái gì chết, người chết hay chủ nghĩa chết, thì phải đem chôn. Ở bên Nga bây giờ người ta đang thảo luận về vấn đề “đem chôn Lénine”, và chủ nghĩa đã chết.

Moscow.- Đem chôn Lenin? Từ hơn sáu thập niên, những cuộc diễu binh huy hoàng và những đoàn người Sô-viết long trọng lũ lượt đi qua cái Lăng ở Công Trường Đỏ mà ở đó có xác ướp của Lenin nằm trong hòm kính. Rồi lịch sử bỏ qua ông. Bây giờ, gần tới ngày kỷ niệm 15 năm cái chết của Sô-viết Liên Bang, một cuộc thảo luận sôi nổi về vấn đề, đã đến lúc đem chôn cái xác của con người đã tìm cách chôn tư bản chưa. Cuộc thảo luận không phải mới. Có điều khác biệt là lần này có sự ám chỉ hấp dẫn rằng Chủ tịch Vladimir Putin đồng ý đem chôn. Ông thường bị tố cáo đưa nước Nga về đường lối Sô-viết cổ xưa, và loại bỏ người cha của Sô-viết Liên Bang ra khỏi con mắt của công chúng có thể là một cách làm chuyển hướng phê bình”.

(Published: Oct 23, 2005. MOSCOW (AP) - Bury Lenin? For more than six decades, glorious military parades and throngs of solemn Soviet citizens passed by the Red Square mausoleum where Vladimir Lenin's mummified corpse lies under glass. Then history passed him by.  Now, nearing the 15th anniversary of the death of the Soviet Union, a debate is brewing about whether it's time to bury the body of the man who tried to bury capitalism. The debate isn't new. What's different this time are the intriguing hints that President Vladimir Putin is agreeable to a burial. He's often accused of taking Russia back to old Soviet ways, and removing the father of the Soviet Union from public display could be a way of deflecting the criticism).

   7.- Chính quyền gọi những nước như Tàu, Liên Xô là “anh em XHCN” thì chỉ là lời nói ngoại giao . Chắc cụ Kha thừa hiểu.

 Chỉ là lời nói ngoại giao”. Bên Nga có tờ báo cộng sản mang tên “Pravda” (Sự thật). Dân chúng bảo nhau, cộng sản nói gì cứ hiểu ngược lại thì đó là sự thật. Như thế phải chăng Việt Tiến xác nhận nhận định của dân Nga là đúng, bảo chúng ta đừng tin vào lời nói của Việt Cộng, vì đó chỉ là lời nói ngoại giao. Dân Hanoi hay thật, họ bảo “Nói dối như Vẹm”.

Việt Cộng đã tỏ ra vô ơn với những viện trợ vũ khí của Trung Cộng để đánh Pháp ở Đường Thuộc Địa Số 4, và Điện Biên Phủ..., nên đã bị người anh em “môi hở răng lạnh” tức giận nhổ nước miếng vào mặt.

Một người quen ở Hong Kong biên thư cho chúng tôi kể chuyện đại diện cộng sản Hanoi sang triều cống Bắc Kinh đã bị Bắc Kinh sỉ vả. Sau đây là câu chuyện đó. Xin mời quí vị đọc:

“Tập san The Far Eastern Economic Review xuất bản tai Hương Cảng, tường thuật rằng Lý Bằng không thèm tiếp phái đoàn Cộng Sản Việt Nam, để Bộ Trưởng Ngoại Giao ra tiếp. Bằng một luận điệu mắng nhiếc, ông ta nói:

Trung Quốc đã giúp nước các ông hàng nhiều tỷ Mỹ kim trong nhiều năm các ông chống Pháp rồi Mỹ, nhưng khi thành công thì các ông đã trả ơn bằng những phản bội, những vô ơn trắng trợn! Nay các ông xin bang giao trở lại, chính phủ Trung Quốc vui lòng chấp nhận với bốn điều kiện tiên quyết sau đây:

  1) Vấn đề chủ quyền của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa coi như đã chấm dứt không còn gì để bàn cãi nữa.

  2) Ranh giới giữa Trung Hoa và Việt Nam cần phải chia lại cho đúng với “vị trí cố hữu của nó”.

  3) Tất cả những người Trung Hoa bị cưỡng bách ra đi bỏ lại tài sản, nay dược phép trở về và phải lấy lại đầy đủ tài sản.

  4) Các ông phải trả hết món nợ nhiều tỷ Mỷ kim.

Rồi nói tiếp:

Các ông về suy nghĩ kỹ lại, nếu ưng thuận mấy điều kiện trên rồi hãy nói đến chuyện bang giao. Trong khi chờ đợi, mong các ông hãy tự chế, đừng có những hành động phiêu lưu dại dột, thiếu suy nghĩ để chúng tôi khỏi phải có những biện pháp thích nghi cứng rắn!”

(Trích ra từ bài “Những Quan Điểm Chính trị và Quê hương”, trong sách “Phá Ngục Tù”, trang 67- 68, và cũng đã được đăng ở báo “Văn Nghệ” số 10 ngày 10 tháng 6/1993).

  8.- Chỉ có 14% cơ số đạn được của quân đội Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng Dân tộc là do viện trợ sau 1972, còn lại là do tiết kiệm và tích lũy từ trước, cũng như đánh trận nào thắng là lấy khí tài của VNCH dùng cho trận sau.

 “Việt Tiến (là) một du học sinh cấp tiến sĩ ở Nam Hàn thuộc thế hệ còn rất trẻ”. Du học sinh cấp tiến sĩ, còn rất trẻ, như thế có lẽ Việt Tiến khoảng 25 tuổi, sinh năm 1980 (2005-25). Chúng tôi có hai nhận xét:

a) Bằng cách nào Việt Tiến biết rõ, một việc xảy ra năm 1972, nghĩa là từ khi anh chưa ra đời,  *“Chỉ có 14% cơ số đạn được của quân đội Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng Dân tộc là do viện trợ sau 1972”.

Vũ khí do Nga Sô-viết hay Trung Cộng viện trợ là một bí mật quốc gia, nếu là Bộ trưởng Quốc phòng thì có thể nói như thế được, vì ông biết rõ tình hình tiếp vận và dự trữ trong kho. Nhưng chắc ông không bao giờ nói. Nếu ông nói thì cũng không thể tin được. Dân Nga bảo nhau “cộng sản nói gì cứ hiểu ngược lại thì đó là sự thật”.

b) Còn vấn đề “đánh trận nào thắng là lấy khí tài của VNCH dùng cho trận sau”. Anh nói mà không biết mình nói gì! Trong chiến tranh, bên nào chết nhiều thì mất nhiều vũ khí. Bên nào chết ít thì mất ít. Theo tin của “The Time Herald Jan. 17/ 87”, và có ghi lại trong sách “Phá Ngục Tù” của chúng tôi, trang 206, sự thiệt hại của những bên tham chiến được ghi nhận như sau:

- Mỹ: 58.191 chết. 153.000 bị thương nặng phải đưa vào bệnh viện;
- Đại Hàn: 4.407 chết;
- Úc: 469 chết;
- Tân-tây-lan: 351 chết;
- Việt Nam Cộng Hòa:  254.257 chết. Bị thương 783.602;
- Việt Cộng: 925.000 chết. (Có báo nói là 5 triệu. Con số này có lẽ chính xác hơn con số 10 triệu do Dương Thu Hương đưa ra). Bị thương từ 2 tới 3 triệu.

Với sự tổn thất 925.000 của Việt Cộng so với 254.257 của Việt Nam Cộng Hòa, thì nếu bảo là lấy vũ khí địch trang bị cho đơn vị mình, thì không phải Việt Cộng mà là Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi biết Quân Đội VNCH cũng tịch thu được rất nhiều súng của Việt Cộng, nhưng đem bỏ vào kho không dùng đến, hay phá hủy. Việt Tiến chưa bao giờ đi lính, nên không biết rằng những vũ khí chiếm được của địch không thể trang bị cho các đơn vị chính quy, mà chỉ cho du kích thôi. Vì súng không cùng một loại, vấn đề tiếp vận đạn dược trở nên khó khăn, không thực hiện được.  

Quân ta dưới sự chỉ huy của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ Binh, ngày 29 tháng 4, 1974, đã bất ngờ tấn công Sư Đoàn 5 Việt Cộng đồn trú trên đất Cam-bốt, với quân số 6.500 người bao vây căn cứ Đức Huệ, và đánh tan Sư Đoàn này. Sau đây là những vũ khí chiếm đoạt được:

“Nhiều giàn pháo các loại 4 ống, 8 ống, và 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn 107 ly và 122 ly bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ. Đặc biệt hơn cả là hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT-3, loại mới nhất của Liên Sô có hệ thống điều khiển chống xe tăng, lần đầu tiên bị quân ta tịch thu trên chiến trường miền Nam.”. (Xin coi thêm chi tiết trong “Đa Hiệu” số 74, tháng 6 năm 2005, trang 171 và kế tiếp).

Việt Tiến biết nhiều, nhưng có biết Nga đã viện trợ những vũ khí trên, đặc biệt là hỏa tiễn AT-3 vào năm nào không? Những hỏa tiễn này và nhưng xe tăng T-54 và T-34 tiến vào Saigon những ngày cuối tháng Tư 1975, là do Nga viện trợ trước 1972, hay sau 1972, và là bao nhiêu phần trăm trong số 14% vũ khí viện trợ?

  9.- “Anh em” Tàu tốt bụng quá , định “dạy bài học” cho Việt Nam khiến nhiều nhân vật CCCB “yêu nước nồng nàn” bây giờ vẫn còn khoái trí hỉ hả , thì lập tức Việt Nam đáp trả liền, cho sặc máu mũi chạy về nước.

Danh từ mà Việt Tiến dùng *“ cho sặc máu mũi chạy về nước là những danh từ dao búa, côn đồ, loại “đá cá lăn dưa”, có mùi chợ cá Cầu Ông Lãnh Saigon. Người viết đứng đắn không viết như thế. Họ đưa ra những dữ kiện để chứng minh hơn thua. Việt Tiến lấy tin tức của Việt Cộng, có thể thiếu chính xác, vì Việt Cộng lẽ dĩ nhiên phải nói là họ thắng. Gia tăng số thiệt hại của Trung Cộng, và giảm thiểu hay không nói đến thiệt hại của mình. Say đây là một chút tin tức về trận chiến tranh ấy.

In February 1979 China attacked along virtually the entire Sino-Vietnamese border in a brief, limited campaign that involved ground forces only. The Chinese attack came at dawn on the morning of 17 February 1979, and employed infantry, armor, and artillery. Air power was not employed then or at any time during the war. Within a day, the Chinese People's Liberation Army (PLA) had advanced some eight kilometers into Vietnam along a broad front. It then slowed and nearly stalled because of heavy Vietnamese resistance and difficulties within the Chinese supply system. On February 21, the advance resumed against Cao Bang in the far north and against the all-important regional hub of Lang Son. Chinese troops entered Cao Bang on February 27, but the city was not secured completely until March 2. Lang Son fell two days later. On March 5, the Chinese, saying Vietnam had been sufficiently chastised, announced that the campaign was over. Beijing declared its "lesson" finished and the PLA withdrawal was completed on March 16.

“Tháng Hai 1979 Trung Cộng tấn công toàn thể biên giới Tàu - Việtnam bằng một cuộc chiến giới hạn, ngắn, chỉ có lục quân mà thôi. Trung Cộng tấn công vào sáng sớm ngày 17 tháng 2, 1979, sử dụng bộ binh, thiết giáp, và đại bác. Không quân không được sử dụng khi đó vá bất cứ lúc nào trong chiến tranh. Trong một ngày, quân đội Nhân dân Giải phóng Tàu (PLA, People’s Liberation Army) đã tiến sâu vào Việt Nam khoảng 8 cây số dọc theo một biên giới dài. Cuộc tấn công chậm lại và ngừng lại vì Việt Nam chống trả dữ dội và vì những khó khăn tiếp vận. Vào ngày 21 tháng 2, quân Tàu tấn công trở lại vào Cao Bằng ở cực Bắc và vào trục giao thông quan trọng Lạng Sơn. Quân Tàu vào Cao Bằng ngày 27, nhưng không chiếm được hết thành phố cho đến ngày 2 tháng Ba. Lạng Sơn thất thủ hai ngày sau. Vào ngày 5 tháng 3, Trung Cộng bảo Việt Nam đã bị trừng phạt đủ, loan báo chấm dứt chiến tranh. Bắc kinh tuyên bố bài học đã kết thúc và cuộc rút quân của PLA hoàn tất ngày 16 tháng Ba”.

Twenty nine days which didn't shake the world – when 20,000 Chinese died invading Vietnam.

Hai mươi chín ngày, nó không làm cho thế giới rung chuyển – khi Trung Cộng xâm lăng Việt Nam 20.000 binh sĩ. chết.

Trung Cộng thiệt hại 20.000 binh sĩ tử trận, nhưng Việt Nam chết bao nhiêu? Việt Cộng không nói đến. Cứ cho rằng Việt Cộng thắng, và hễ hai binh sĩ Trung Cộng chết, thì một Việt Cộng chết, thì số binh sĩ của Việt Cộng chết cũng lên tới con số 10.000 người. 10.000 là một con số, nhưng con số ấy nói lên một sự thiệt hại nhân mạng lớn lao, đau đớn. Ngoài thiệt hại về người, còn những thiệt hại vật chất, các thành phố mà Trung Cộng tràn vào như Cao Bằng, Lạng Sơn..., bị phá hủy. Việt Cộng thắng thì được gì? Không được gì cả. Mà thiệt hại nhân mạng lên tới 10.000 người, và nhiều thành phố bị phá hủy.

Chiến tranh mà bị thiệt hại về người và của mà không được gì là thua, và không có chiến tranh vẫn hơn. Trung Cộng đã cho Việt Cộng một bài học, dù phải trả giá đắt, 20.000 người chết trận. Nhưng với một dân số trên một tỉ, thì 20.000 chết thấm vào đâu. Ông Võ cũng đã hi sinh 15.000 người chỉ riêng ở Khe Sanh mà thôi.

 “Cho sặc máu mũi chạy về nước”.  Nếu Việt Nam oai hùng thế, tại sao phải sợ Trung Cộng, để cho Trung Cộng sỉ vả, khi sang triều cống họ như đã kể ở trên.

   10.- “Anh em” Nga hết tiền thuê Vịnh Cam Ranh, được Việt Nam  mời về nước. Hách dịch quá. Oai quá. Viết lếu, viết láo. Giọng văn của Việt Tiến tỏ vẻ khinh bỉ nước Nga, nhưng những người ở vào tuổi cha, chú của Việt Tiến thuộc giai cấp thống trị, không dám ăn nói như thế,

Những nhà lãnh đạo già, bảo thủ, rất có cảm tình với sự giúp đỡ của Nga trong quá khứ không muốn làm mất lòng nước viện trợ vũ khí chính cho mình”.

Vietnam's conservative old-guard leaders are particularly sentimental about past Russian support and don't want to offend its principal arms supplier.- By Nayan Chanda, “Far Eastern Economic Review”, Dec. 21, 2000).

“Khi thời hạn thuê mướn 25 năm gần hết, Việt Nam đòi $ 200 triệu tiền thuê mỗi năm, để sử dụng căn cứ. Nga không chấp nhận đề nghị đó, và quyết định rút hết nhân viên về nước. Vào ngày 2 tháng 5, 2002, lá cờ Nga được kéo xuống lần chót”. (As the original 25-year lease was nearing its end, Vietnam demanded $200 million in annual rent for the continued operation of the base. Russia balked at this, and decided to withdraw all personnel. On May 2, 2002, the Russian flag was lowered for the last time).

Nga không muốn thuê Cam Ranh nữa, vì họ thấy không còn cần thiết, chứ Việt Cộng đâu có “mời họ về nước”. Việt Tiến viết cho Việt Tiến nghe, chứ không phải cho Nga! Hay cho những người ngoài nghe!

  11.- Chống đối những “Cán bộ Lão thành” biên thư ngỏ cho chính phủ đòi thực thi dân chủ, Việt Tiến định nghĩa dân chủ như sau:

“Ai cũng hiểu rằng, để ngoi lên vị trí lãnh đạo, hầu hết các cán bộ cấp trên đều đã từng trải qua vị trí dân thường, lãnh đạo cơ sở, lãnh đạo địa phương, rồi sau đó lại phải cạnh tranh nhau chán chê trong tập thể đội ngũ chung mà được tin bầu vào ghế lãnh đạo trung ương. Ai nói Việt Nam không có dân chủ chỉ vì không có bầu bán theo kiểu tranh cử tự do như các nước Tư bản thì đã nhầm”.

Nếu định nghĩa dân chủ là vô đảng, rồi cạnh tranh nhau để được bàu vào ghế lãnh đạo, thì những tên đồ tể khét tiếng như Hitler, Staline, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Kim Jong-il và Fiedel Castro, đều có thể nói là nước của các ông dân chủ nhất thế giới.

Việt Tiến không hiểu dân chủ là gì! Dân chủ là dân làm chủ. Sau đây là định nghĩa Dân Chủ của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường:

“Thế nào là một chế độ thực sự dân chủ? Đó là một chế độ trong đó người dân được làm chủ trên đất nước không những trong hiến pháp, mà cả trong thực tế nữa.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường chuyển sang Pháp vào mùa Thu 1991 bản thảo của quyển sách nhan đề “Un Excommunié”, nhưng do dự không cho muốn in ngay vì lo sợ hậu quả. Lời ông, in ở trang bìa sau của sách:

“J’ai souhaité retarder la publication de mes ouvrages, parce que les circonstances récentes me mettent en alerte. Mais vous m’avez fait franchir le Rubicon et je vous donne raison: le risque est grand mais il faut tenter le risque. J’attends donc le pire en souhaitant qu’il n’arrive pas. Mais si on pousse la barbarie jusqu’à m’infliger le même traitement qu’à d’autres intellectuels accusés de médire le régime, j’attends de pied ferme des épreuves dont je connais la dureté. Je suis décidé, si l’éventualité se produisait, d’entamer une grève de faim jusqu’à ce que mort s’ensuive. A 84 ans, j’ai connu de la vie le meilleur et le pire et n’éprouve pas de regret à quitter cette vie au cous de laquelle j’ai rempli mon devoir d’intellectuel devant le peuple et devant l’histoire!”

“Tôi ước mong để chậm lại việc phát hành tác phẩm của tôi, bởi vì những biến cố mới đây làm cho tôi phải đề phòng. Nhưng bạn đã thúc đẩy tôi phải vượt qua sông Rubicon (lấy quyết định và chấp nhận hậu quả), và tôi thấy bạn có lý: nguy hiểm thật lớn nhưng phải chấp nhận nguy hiểm. Tôi chờ đợi việc xấu xa nhất, nhưng ước mong nó không xảy ra. Nhưng nếu họ dã man tới việc trừng phạt tôi giống như họ đã trừng phạt những nhà trí thức khác bị kết tội mạ lỵ chế độ, tôi đứng vững trên hai chân để chấp nhận những thử thách mà tôi biết rất đau đớn. Tôi đã quyết định, nếu trường hợp ấy xảy ra, tuyệt thực cho đến chết. Với 84 tuổi tôi đã hiểu cuộc đời với những vinh nhục và không cảm thấy tiếc nuối khi từ bỏ cuộc đời này mà trong lúc sống tôi đã làm tròn nhiệm vụ của nhà trí thức đối với dân tộc và lịch sử!”.

Tôi xin kính cẩn gửi lời kính trọng và quý mến tới người đã khuất, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, mà tôi coi như một bậc thày.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã không bị Đảng ta trừng phạt. Nhưng trừng phạt hay không thì Đảng ta cũng vẫn thua! Trừng phạt thì luật sư Nguyễn Mạnh Tường cớ thể phải chết, nhưng cái chết ấy là một bản án kết tội Đảng ta dã man. Không trừng phạt thì Đảng ta cũng vẫn vị quyển sách của luật sư Nguyễn Mạnh Tường kết tội dã man, dù sách ấy chỉ nói lên Sự Thật.

Trên thế giới hiện nay chỉ còn có hai nước cộng sản thuần túy, là Bắc Hàn và Cuba. Sau đây là một chút tình hình về hai nước đó”.

a) Bắc hàn. Báo L’Express số ra ngày 2831, tuần lễ từ 6 đến 12 tháng 10/2005, có bài viết nhan đề “Bắc Hàn. Du lịch vào trái tim địa ngục” (Corée du Nord. Voyage au coeur de l’enfer). Sau đây là một đoạn trích dịch ngắn kèm theo nguyên văn tiếng Pháp:

Ở Bình Nhưỡng, những lễ hội và diễu binh tuyên truyền nối tiếp nhau mỗi chiều. Nhưng người dân, hàng nhiều triệu người, đi ngủ mà bụng đói”.

(A Pyongyang, fêtes et défilés de propagande se succèdent chaque soir. Mais les habitants, par millions, s’endorment la faim au ventre. (Mark Epstein).

“Khi ông chết (Kim Il-sung) năm 1994, thì Kim Jong-il con ông, lên cầm quyền. Nước bắt đầu đói ăn, có lẽ là vào cuối những năm của thập niên 1980, khi sự tan rã của khối sô-viết kéo theo nó sự suy sụp kinh tế của Bắc Hàn. Trong một thời gian, những vụ hành quyết trở nên ít hơn. Rồi dư luận xác nhận rằng Kim Jong-il, chỉ huy quân đội, muốn “lại nghe thấy tiếng súng nổ”. Đó là vào thời kỳ mà dân đói ăn bị đem hành quyết công khai chỉ vì ăn cắp hai trái trứng. Theo nhu Hwang Jang-yop, nguyên cố vấn học thuyết cho Kim Il-sung, bây giờ tị nạn, khoảng 1.000.000 người đã chết đói chỉ trong năm 1996”.

(A sa mort, en 1994, c’est Kim Jong-il, son fils, qui accède au pouvoir. Le pays connait alors la famine, apparue sans doute dès la fin des 1nnéee 1980, quand la désagrégation du bloc soviétique entraine l’économie nord-coréenne dans sa chute. Pendant quelques temps, les persécutions se font moins systématiques. Puis la rumeur affirme que Kim Jon-il, maitre des forces armées, veut “entendre à nouveau le bruit des tirs”. C’est l’époque où des civils affamés sont exécutés en public pour avoir volé deux oeufs. Selon Hwang Jang-yop, ex-conseiller idélogique de Kim Il-sung, aujourd’hui en exil, envrion 1 million de personnes sont mortes de faim dans la seule année 1996).

Bài báo đã mở đầu như sau:

“Lần cuối cùng mà một nhà báo của L’Express đến Bắc Hàn, một trong những nước đóng kín nhất của hành tinh, đó là vào năm 1995. Vào thời đó, sau khi bài báo được đăng, một giáo sư của một trường trung học vùng Paris đã đưa bài báo cho học trò của ông và đề nghị đem ra thảo luận. Một ý nghĩ ảm đạm: thay vì tỏ vẻ xót thương số phận của người dân khốn khổ Bắc Hàn, tù nhân của quyền hành tàn bạo và nạn nhân của một vụ đói khủng khiếp, các học trò, sau khi đọc, đã nghi ngờ sự xác thật của bài báo. Tất cả câu chuyện có vẻ không thể tin được, theo dúng nghĩa, và phóng viên đặc biệt đã bị nghi ngờ hoàn toàn chế tạo ra những chuyện đó rồi kể lại.”. 

(La dernière fois qu’un journaliste de L’Express s’est rendu en Corée du Nord, l’un des pays les plus fermés de la planète, c’était en 1995. A l’époque, peu après la parution de l’article, un professeur d’un lycée de la région parisienne a soumis le texte du reportage à ses élèves et proposé d’en débattre. Funeste idée: loin de s’apitoyer sur le sort des malheureux Nord-Coréens, prisonniers d’un pouvoir tyrannique et victimes d’une atroce famine, les lycéens, après lecture, se sont interrogés aur la véracité du récit. Tout cela semblait incroyable, au sens propre du mot, et l’envoyé spécial a été soupconné d’avoir inventé de toutes pièces les scènes dont il se faisait l’écho”.

Và kết luận:

“Đời là thế. Hay, đúng hơn, một cái chết từ từ, theo quan điểm của dân Bắc Hàn. Người ta hiểu sự nghi ngờ của những người học trò đó, 10 năm trước đây, khi đọc bài báo của L’Express. Có những sự tàn bạo không thể tưởng tượng được”.

(C’est la vie, comme on dit. Ou une mort lente, plutôt, du point de vue des Nord-Coréens. On comprend le scepticisme de ces élèves, voilà dix ans, en lisant ce reportage dans L’Express. Certaines cruautés son inimaginables).

Việt Tiến, là sinh viên tiến sĩ ở Nam Hàn không cộng sản dân sống sung túc, không biết ở Bắc Hàn cộng sản dân có năm chết đói cả triệu người, vẫn nhắm mắt ca tụng cộng sản, chứng tỏ Việt Tiến chỉ biết nhìn gần không biết nhìn xa. Sự hiểu biết của Việt Tiến vì thế cũng rất hạn chế, chỉ quanh quẩn bên cạnh cái cối xay. Hay như cả một vùng trời bao la, Việt Tiến chỉ nhìn thấy có một cái hình vòng tròn nho nhỏ. Việt Tiến có hiểu những câu châm ngôn này không?

b) Cuba. Trong sách “Phá Ngục Tù”, bài viết nhan đề “Đường Mòn Chống Cộng”, trang 193, chúng tôi đã dịch một đoạn tin của Paris Match, số ra ngày 6 tháng 5/ 1993, về tình trạng ở Cuba như sau:

“Với những du khách trả tiền bằng ngoại tệ mạnh, thì không còn gì tốt đẹp hơn: họ ăn tôm hùm, ở những phòng đẹp nhất, hút xì-gà ngon nhất... và có những cô gái đẹp nhất. Những cô gái này bây giờ trở nên nỗi tiếng.

Giống hệt như những con cá mập, các cô ấy sực tuốt: cỡ ông nội, cha, con... Nhưng cái điều làm tôi khó chịu?. Đó là khi biết rằng ở Cuba giá gái điếm rẻ nhất thế giới. Bán mình vì một cục sà-bông, hay một thứ thuốc chống mùi hôi... thì thật là quá đáng”.

Ở Việt Nam, sau khi chiếm được miền Nam, từ 1975 đến 1990, với độc quyền kinh tế, gọi là “Kinh tế Chỉ huy” dân chúng cũng bần cùng đói khổ. Hồi đó Mỹ chỉ cho gửi về Việt Nam những gói nặng 2 “pao”. Hiền nội gửi cho một cô học trò cũ ở Saigon, một gói trong đó có hộp thuốc xịt tóc, vì cô ấy bảo thứ đó có giá, bán được nhiều tiền. Cô ấy biên thư qua kẻ lể cho cô giáo chuyện ra bưu điện nhận quà,  Nhận được giấy báo, con vui mừng ra Bưu Điện lĩnh quà của Cô cho, nhưng rồi con lại phải khóc Cô ạ, con tiếc công, tiếc tiền của Cô cho, mà con không được gì”!!! Nhà Bưu Điện rạch gói ra để khám, rạch vào chai thuốc xịt tóc, nó xì ra bay đi hết”.

Việt Cộng có thể chiếm miền Nam trên lưng ngựa, nhưng làm kinh tế trên lưng ngựa (Kinh tế Chỉ huy), thì hậu quả giống như ở Cuba, con gái bán thân vì một cục sà-bông, hay một thứ thuốc chống mùi hôi, hay như ở Bắc hàn, dân chúng chết đói cả triệu! Miền Nam đã thua Miền Bắc vì nhiều lý do, nhưng một trong những lý do là chúng tôi không tàn bạo, không coi con người như một món đồ, dùng xong thì vứt bỏ.

Một trang sử đã lật qua, riêng cá nhân chúng tôi biết rằng chống cộng như trước 1975 là lỗi thời, vì Việt Cộng đã đổi mới từ năm 1990, khi Sô-viết Liên bang (Soviet Union) trở thành Sô-viết Tan hoang (Soviet Disunion).

Đã từ lâu chúng tôi không viết bài chống cộng như bài này, và có một số anh em đồng đội cũ thắc mắc rằng tại sao tôi không chống cộng như trước nữa. Chúng tôi không chống như trước, vì Việt Cộng không còn như trước. Kể từ năm 1990, với  đổi mới, đất nước bắt đầu đi lên, nhiều công trình kiến thiết đã được thực hiện. Vì vậy nếu chúng tôi chống là chống những sai lầm bây giờ để đóng góp vào việc xây dựng quê hương dân tộc. Chúng tôi đã thua về mặt quân sự, nhưng không thua về mặt tư tưởng. Chúng tôi đã tiên đoán, chủ nghĩa cộng sản sẽ phải đem chôn, Dân Tộc chúng ta sẽ thắng. Một triều đại đi lên, rồi lại đi xuống. Trong lịch sử nhân loại, và ở nước ta, không có triều đại nào bất diệt. Việt Cộng đã không còn là cộng sản thuần túy. Kinh tế không còn là “Kinh tế Chỉ huy” mà là “Kinh tế Thị trường”. Còn vấn đề dân chủ thì chưa bắt đầu, nhưng dân chủ là xu hướng tất nhiên, tất yếu của nhân loại, không một thế lực nào chống lại được. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cũng đã có nhận định như thế, trước tôi:

“...Ta thấy cần thiết phải cho phép quần chúng nói lên tiếng nói của mình qua báo chí. Có người lo ngại rằng tự do ngôn luận này mà ai cũng thấy cần thiết có thể bị sử dụng một cách bừa bãi. Về điều này ta phải suy nghĩ. Mối lo ngại trên đây xuất phát từ động cơ nào? Nếu là động cơ tốt —nghĩa là do một nhiệt tình đối với cách mạng gây ra— ta hoan nghênh. Nhưng ta cũng sẽ trả lời rằng trong một chính thể dân chủ muốn sử dụng tự do nào, dĩ nhiên phải nêu trách nhiệm của người sử dụng tự do ấy trước pháp luật. Nếu sử dụng với tinh thần trách nhiệm hợp pháp, ta không có quyền kêu ca gì, trái lại, ta hoan nghênh. Nếu lạm dụng một cách vô trách nhiệm, ta đã có tòa án để nghiêm trị. Vậy ta không lo ngại. Nhưng nếu mối lo ngại xuất phát từ một động cơ bất chính, nhắm mục đích thủ tiêu các tự do dân chủ, thì tôi chỉ cần khuyên nhủ người lo ngại như vậy nên đọc lại lịch sử các phong trào cách mạng trong hơn một thế kỷ nay. Họ sẽ nhận thấy rằng chưa bao giờ, chưa ai có thể ngăn cản được một phong trào quần chúng tranh đấu đòi các tự do dân chủ”.

Cộng Sản Việt Nam nắm giữ độc quyền cai trị đất nước, nếu họ biết nhìn xa, bắt đầu giáo dục dân để dân biết quyền lợi và trách nhiệm, dần dần dân chủ hóa chế độ, thì họ sẽ đi vào lịch sử xây dựng quê hương dân tộc. Quý vị nên bắt đầu, kẻo không thì có khi qúa trễ. Không ai biết mình từ đâu sinh ra, chết thì đi về đâu, bao giờ chết. Nhưng chết là một điều chắc chắn. Ông Hồ chết đi được quý vị vinh danh, ướp xác để thờ. Nhờ có ông Hồ mà bây giờ quý vị có quyền có lợi. Nếu quý vị có thờ ông thì cũng đúng thôi. Quý vị còn tích cực nhồi sọ lớp trẻ quàng khăn đỏ, hi vọng rằng trong tương lai những đứa trẻ ấy lớn lên cứ tin tưởng mãi ông Hồ là thần thánh. Nhưng công trình của quý vị sẽ chỉ là công dã tràng xe cát biển Đông, nếu quý vị, những người nối tiếp sự nghiệp của ông Hồ, không đem lại được hạnh phúc, tự do và no ấm cho dân. Quý vị nhìn gần mà không biết nhìn xa. Người ta có thể lừa gạt được nhiều người, ở nhiều nơi khác nhau, nhưng không lừa gạt được thời gian. Ngay như Vatican, một thế lực quốc tế, mà nhiều nước phải nể sợ, với hơn một tỉ tín đồ, và khoảng nửa triệu cán bộ, nam và nữ, tiền bạc nhiều vô số kể, hơn một nghìn tỉ đô-la, cũng không tránh khỏi bị đào thải. Họ tồn tại bằng lừa gạt, mê tín, dị đoan, giáo dục nhồi sọ tín đồ. Khi Sự Thật soi sáng vào những âm mưu đen tối của họ, thì bóng tối tan đi, và thành trì Vatican sụp đổ. Vatican đang đi vào giai đoạn chót của chu kỳ “Sinh, Lão, Bệnh, Tử”. Bây giờ họ thiếu cán bộ thật trầm trọng. Báo “L’Express” số ra ngày 27 tháng 10, 2005 cho biết:

“Il y a cinquante ans, 10.000 prêtres étaient ordonnés chaque année. Aujourd’hui, ils ne sont plus qu’une centaine” (Page 16).

“Năm mươi năm trước đây mỗi năm có 10.000 người được thụ phong linh mục, bây giờ chỉ còn 100 người”.

In order to solve the shortage of priest, French-speaking priests are recruited from African countries which are former French colonies such as Senegal, Gambia and Ivory Coast. In one single diocese, there can be as many as 30 African priests. (BBC News).

“Để giải quyết nạn thiếu linh mục, những linh mục nói tiếng Pháp được tuyển mộ ở những nước Châu Phi trước kia là thuộc địa Pháp, như Senegal, Gambia và Ivory Coast. Chỉ trong một giáo xứ, có thể có tới 30 linh mục châu Phi”.

Chúng tôi biết rằng quý vị rất sợ tín đồ Ca-tô Rô-ma cuồng tín, tôi tớ hèn mọn của Vatican. Những người này bề ngoài đòi tự do tôn giáo, nhưng nếu để cho họ lọt vào quốc hội, thì họ không phục vụ quê hương dân tộc, mà chỉ lo phục vụ Vatican, phản bội quê hương dân tộc, với ước mơ được lên cái thiên đàng “không có” ở trên mây.

Trước những áp lực đòi tự do tôn giáo, sao không bảo, chúng tôi chấp nhận tự do tôn giáo, nhưng không thể chấp nhận chủ trương giết người không theo đạo Ca-tô Rô-ma như đã được ghi trong Kinh Thánh,

“Ai dâng đồ cúng bất cứ thần nào không phải Jehovah mà thôi thì đều phải tiêu diệt”.

(Exodus 22:20. One who sacrifices to any gods but Jehovah alone is to be devoted to destruction).

Chính vì lời dạy độc ác ấy mà đã xảy ra những vụ giết người dã man ở Croatia, Rwanda, và Việt Nam (dưới thời cố Tổng thống Ngô đình Diệm). Vatican nên xét lại Kinh thánh và công khai tuyên bố những giáo điều lỗi thời, dã man, như “Exodus 22:20” ... đã được loại bỏ khỏi Kinh Thánh.

Và tại sao không làm ra đạo luật cấm những công chức cán bộ, công dân của ngoại bang không được tham gia bàu cử, ứng cử? Mới thoạt nghe thấy nó cũng khôi hài. Từ xưa đến nay có công chức cán bộ, công dân, của ngoại bang nào được tham gia bàu cử, ứng cử, đâu mà phải làm một đạo luật cấm đoán. Nhưng khôi hài mà có thật. Những linh mục, giám mục, tổng giám mục, hồng y,... tuy là người Việt Nam, sống trên đất nước Việt Nam, nhưng họ là công chức của Đế quốc đen Vatican do Vatican bổ nhiệm, ăn lương của Vatican. Những loài súc vật, con chiên, con bò, do họ chăn dắt, tự nhận là những tên tôi tớ hèn mọn của Vatican, lúc nào cũng tuyệt đối nghe lệnh người chăn dắt, vậy thì những người đó, tuy bề ngoài là công dân Việt Nam, nhưng bên trong họ là công dân Đế quốc đen Vatican.

Cái cách giản dị nhất để được tự do tôn giáo, tham gia bàu cử, ứng cử, là tuyên bố không lệ thuộc Vatican, Giáo hội Ca-tô Việt Nam độc lập. Tại sao lại cứ phải qua trung gian của Vatican thì mới được Thiên Chúa (nêu có) cứu xét đơn xin lên Thiên Đàng? Không lẽ mỗi khi cứu xét đơn xin lên Thiên Đàng, Thiên Chúa phải cứu xét lý lịch, phải có giấy chứng nhận “hộ khẩu” do Cha cũng như Chúa của Giáo hội Quốc doanh Lịch sử ký tên và đóng dấu? (Xin coi định nghĩa Quốc doanh Lịch sử trong sách “Tôn Giáo Đối Chiếu, Tập II”, trang 608-09).    

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường thách đố Việt Cộng trong những lời lẽ cuối cùng ở sách “Un Excommunié”:

“L’opinion constate que vous avez fait les premiers pas sur le chemin de la “rénovation”. Vous avez donc commmencé à faire aveu des vos erreurs. Mais vous, comme le peuple lui-même, pouvez-vous contenter de demi-mesures qui n’ont d’effet thérapeutique que dans les quelques secteurs où elles sont édictées, alors que le mal affecte le corps entier de ‘Etat et ses structures? Vous aimez vous enorgueillir des sacrifices considérables portant même sur vos vies, auxquels vous pourriez consentir en hommage au Parti. Votre héroisme recule-t-il devant le sacrifice de votre Parti sur l’autel de la patrie et du peuple? Le Viet Nam et l’hstoire du Viet Nam attendent votre réponse”.

“Dư luận nhận thấy rằng quý vị đã đi được bước đầu trên con đường “đổi mới”. Như thế lá quý vị đã bắt đầu thú nhận những sai lầm của quý vị. Nhưng quý vị, cũng như chính nhân dân, đâu có thể bằng lòng với những chính sách nửa vời chỉ có hiệu quả chữa bệnh trong một vài lãnh vực mà nó liên hệ tới, trong khi sự sai lầm ảnh hưởng tới toàn thể quốc gia và những cơ cấu của nó? Quý vị thường hãnh diện khoe khoang những hi sinh vĩ đại kể cả đời sống của quý vị, mà quý vị có thể chấp nhận hiến dâng cho Đảng. Sự can đảm của quý vị có lùi bước chăng nếu phải hi sinh Đảng trước bàn thờ tổ quốc và dân tộc? Nước Việt Nam và lịch sử Việt Nam chờ đợi sự trả lời của quý vị”.

Quý vị có đủ trí thức, thông minh, để hiểu những lời nhắn nhủ tâm huyết ấy không, vì chính quý vị đã tự nhận không thuộc thành phần trí thức mà quý vị tìm cách triệt để tiêu diệt. Trong khẩu hiệu, “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” thì Trí đứng đầu sổ. Quý vị đã thì hành khẩu hiệu ấy trong hành động:

Đảng phải luôn luôn đào thải những cán bộ đảng viên cũ không thuộc thành phần vô sản.

Trí thức bị tiêu diệt, cộng sản (chứ không phải vô sản), mà những người chống cộng côn đồ (c.c.c.đ.) bảo là vô văn hóa, đứng lên vác súng, vác dao, cai trị đất nước trên lưng ngựa, như ở Việt Nam từ 1975 đến 1990, thì dân sống trong bần cúng đói khổ, hay như ở Bắc Hàn, dân có năm chết đói hàng triệu!!!

Nói vô sản cầm quyền là sai. Vô sản đã bị Cộng Sản đè bẹp, khủng bố, không ngóc đầu lên được. Trong biến chuyển ba giai đoạn của Duy Vật Biện Chứng Pháp, Đề đến sau hủy diệt Đề đến trước để phát triển. Tư bản là chủ đề, vô sản là phản đề, cộng sản là tổng hợp đề. Tư bản bị phản đề vô sản tiêu diệt. Rồi đến lượt vô sản bị tổng hợp đề cộng sản tiêu diệt, đúng như Duy vật Biện chứng pháp. Và đúng như đã xảy ra trong “Cải Cách Ruộng Đất”.

  12.- Lời Nói Cuối Cùng.

Chúng tôi đã suy nghĩ mãi, và không muốn viết bài có tính cách chống cộng này, vì bây giờ quý vị đã đổi mới, không còn nguy hiểm cho quê hương dân tộc như Trung Cộng và Đế Quốc Đen Vatican. Chúng tôi viết vì bị Việt Tiến thách thức. Nếu không viết, thì Việt Tiến coi như tôi không có khả năng đối đáp. Sau phần nhận xét ở trên, chúng tôi xin đưa ra hai ý kiến xây dựng:

1.- Việt Tiến nên dùng thì giờ để học bài mà đậu tiến sĩ. Có thể giúp ích được nhiều hơn cho Việt Cộng. Chứ viết lách ấm ớ hội tề như thế này không làm lợi, mà chỉ làm hại cho Việt Cộng, và có thể cho cả Việt Tiến nữa.

2.- Chúng tôi bác bỏ phương châm hành động “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” của quý vị. Và đưa ra một đạo luật mà không một lý luận nào, một môn khoa học nào có thể bác bỏ, Luật Nhân Quả. Nhân và quả theo nhau như hình với bóng, nhân tốt thì quả tốt. Trồng chanh thì có chanh, trồng lúa thì có lúa. Nếu không lo phục vụ quê hương dân tộc, mà lại chỉ lo bảo vệ quyền hành để thủ lợi, thì tất cả cái công trình tuyên truyền, nhồi sọ quần chúng và lớp thanh thiếu niên quàng khăn đỏ, chỉ có kết quả giới hạn. Trong tạm thời người ăn cướp có thể giết được nhiều người nhà giàu, để cướp của, nhưng khi cái nhân độc ác ấy sinh ra quả, thì người ăn cướp phải đền tội, bằng cách này hay cách khác.

Kinh Phật có nói,

Ở trên trời, dưới đáy biển, trong hang núi, không ở đâu con người có thể tìm được nơi trú ẩn để tránh hậu qủa những việc làm xấu của mình”,

Và,

“Cái cách tốt nhất để có hạnh phúc, là lo hạnh phúc cho người khác”.

Tin hay không là tùy nơi quý vị. Một cuộc đời tưởng là dài, nhưng thực ra không dài lắm. Từ đâu sinh ra quý vị không biết, ngày nào chết quý vị cũng không biết. Nhưng chết là điều chắc chắn. Tiền của gom góp được, bạc triệu, bạc tỉ, khi chết cũng trắng tay. Từ không mà đến, chết đi lại trở thành không. Không có cái gì gọi là bất diệt. Giáo hội Ca-tô Rô-ma là một thế lực rất mạnh, nhưng cũng không tránh khỏi bị đào thải, đang tiến dần, tiến vững chắc tới giai đoạn cuối cùng của chu kỳ “Sinh, Lão, Bệnh, Tử”.

Chúng tôi xin phép được nhắc lại lời nói của Lavoisier:

Rien ne se perd, rien ne se crée, tout se transforme
“Không có gì mất đi, không có gì sinh ra, tất cả đều thay đổi”.

- Lê Đức Thọ bị người ta đổ hai sọt phân lên mả;

- Staline chỉ 3 năm sau khi chết, bị đàn em kết tội là một tên đồ tể;

- Lénine bây giờ đang là một đề tài tranh luận sôi nổi, “đem chôn Lénine”.

Để kết thúc, xin kể hầu độc giả một câu chuyện về đấu tố, trong “Cải cách Ruộng đất”.

Nhân chứng Nguyễn Văn Thân mô tả một cuộc đấu tố chụp mũ như sau:

"Cuộc đấu tố điển hình nhất mà tôi được dự là lần đấu ông Nguyễn Văn Đô, bí thư huyện ủy tại Ô Cầu Giấy ngoại thành Hà Nội... Nạn nhân Nguyễn Văn Đô là bí thư huyện ủy, rất có công với kháng chiến nhưng lại bị kết tội là cường hào ác bá và có chân trong tổ chức Quốc Dân Đảng. Chủ tịch đoàn nói rằng ông lợi dụng chức vụ của Đảng hoạt động cho Quốc Dân Đảng. Người đứng kể tội là một nông dân trước kia đi chăn ngựa cho ông Đô. Một cụ già khác lên tố về việc cướp đất ruộng nương và cô con gái của ông lên đấu tố là đã bị ông cưỡng hiếp tất cả là 117 lần, v.v.... Đến khi ông Đô được phép lên phát biểu ý kiến nhận tội, ông đã cứng cỏi trả lời: Ông không phải là Quốc Dân Đảng, ông chỉ làm việc cho Bác, cho kháng chiến mà thôi. Ông trả lời cô con gái là:

 "Thưa bà, bà còn quên đấy, tôi đã hiếp cả mẹ bà để đẻ ra bà nữa".

Câu trả lời này làm mọi người phải bật cười và làm đấu trường mất vẻ tôn nghiêm, chủ tịch đoàn vội vàng hô khẩu hiệu "đả đảo tên Đô ngoan cố" để đàn áp và che lấp tiếng nói của ông này. Sau đó họ không cho ông nói tiếp. Họ nghị án và quyết định xử tử ông ngay tại chỗ. Cuộc đấu này kéo dài từ 5 giờ sáng tới 13 giờ, tức 1 giờ trưa mới xong".

Nhiều người không hiểu tại sao, con gái lại đứng ra tố khổ bố đẻ, bảo bố đẻ hiếp dâm mình, và đấu tố như thế có nhân đạo, công bằng và dân chủ không? Câu trả lời xin để dành cho Việt Tiến. Cám ơn Việt Tiến. 

Những đoạn trích dẫn về “Cải Cách Ruộng Đất” là
tài liệu nghiên cứu của Võ Trường Sơn)

Ngày 12 tháng 11, 2005

 Trần văn Kha

© Copyright 2005 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com