TRẦN
XUÂN AN
7 Theo đường bưu trạm
của quân thứ, tán tương Nguyễn Văn Tường đã đệ gửi
tập bản sớ Xếp đặt công việc ở Bắc Kì vào kinh hơn mấy tháng rồi. Đó là tập sớ
ông tự thấy là hết sức quan trọng bởi rất đỗi tâm huyết. Sau
khi gửi, ông không ngớt suy nghĩ về sáu tỉnh Nam Kì. Lo việc Bắc Kì,
làm sao quên được Nam Kì với những Trương Định, Thiên hộ Dương, Nguyễn
Trung Trực và nhà thơ Đồ Chiểu với những bài văn tế nghĩa sĩ đau lòng
xé ruột, hừng hực nỗi căm thù giặc Pháp và khinh ghét “tả đạo”!
Ông thấm hiểu tận tim gan niềm bi tráng Cần Giuộc:
“Văn tế nghĩa sĩ trận
vong lục tỉnh” tố
cáo với muôn đời tội ác của
giặc Pháp:
Chính nhà thơ mù loà
nhưng tâm nhãn sáng ngời ấy, nhà thơ có nguyên quán Thừa Thiên nhưng mang
cốt cách và tâm hồn Nam Kì lục tỉnh ấy, cũng khẳng định cho trái tim
mình trước sự xâm lăng văn hoá:
Và những bài hịch
khác không ghi lại tên người viết, hầu như đã trở thành tiếng nói của
phân số lớn nhân dân Nam Kì lục tỉnh, một đa số nhân dân cực kì
sáng suốt, sáng suốt trong căm hận, dũng cảm, đau đớn, tuyệt vọng:
Bộ phận nhân dân ấy
đã chua xót khinh bỉ những kẻ sĩ, những tên lưu manh cam tâm làm nô lệ:
Về một Trương Định,
một Phan Tòng đã vượt qua nỗi trăn trở, khắc khoải trong mâu thuẫn giằng
xé giữa “trung quân” với “ái quốc”,
là “trung thần” hay “nghịch
thần”, bởi chân lí đã rất giản dị, “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
(dân là quý, xã tắc thứ nhì, vua chỉ đáng xem nhẹ):
Nhân dân Nam Kì lục tỉnh
đang chịu đựng nỗi đau khổ lớn đến thế, chất chứa nỗi căm thù giặc
Pháp, “tả đạo” sâu nặng đến thế, và họ đã trực diện chống
Pháp, chống “tả đạo”. Cho dẫu biết trước là sẽ thất bại, Nam Kì
vẫn chống giặc, bởi không còn con đường nào khác! Mặc dù triều đình
trên giấy tờ phải đành gọi họ là “nghịch thần”, nhưng trong nội bộ
vẫn khen ngợi họ là những người trung nghĩa. Nam Kì lục tỉnh thế đấy,
nhưng Bắc Kì còn đầy rẫy những phỉ là phỉ, phỉ Tàu, phỉ Việt, cột
chân quan quân triều đình nơi biên giới xứ Bắc! Chẳng biết làm thế
nào được! Tháng mười một năm Tự
Đức thứ hai mươi mốt (1868), sau khi tuân dụ vua, đình thần điều nghiên
suốt mấy tháng, và tháng ấy đã nghị xử vụ thất thủ Nam Kì. Ngay cả
Nguyễn Tri Phương chủ chiến, Nguyễn Bá Nghi chủ “hoà” đều bị giáng,
phạt cùng một loạt quan chức. Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp dẫu đã chết
vẫn bị truy đoạt lại chức hàm. Đồng thời, nhà vua quyết định cho đục
bỏ tên Phan Thanh Giản ở bia tiến sĩ, để lưu mãi mãi cái án trảm giam
hậu với mục đích “giết người đã chết để răn về sau”… Vua Tự Đức
đã ăn năn là “không biết tính xa, dùng người sai lầm” (63)! Cũng vào tháng mười một,
năm sau, năm Tự Đức thứ hai mươi hai (1869), một tên quan năm với chức
vụ giám đốc theo lệnh tướng Pháp ở Gia Định đáp tàu thuỷ ra Huế. Lần
này, sứ giả Pháp được bái yết vua Tự Đức để dâng quốc thư. Quốc
thư lại vẫn nội dung cũ: Pháp muốn ta giao hẳn cho chúng ba tỉnh Miền
tây Nam Kì (An Giang,Vĩnh Long, Hà Tiên) bằng cách lập “hoà” ước mới
(64). Đó là điều Nguyễn Văn Tường kịch liệt phản đối bằng một bản
sớ hồi tháng ba, năm năm Tự Đức thứ hai mươi mốt (1868). Bản sớ ấy
của ông nhằm vạch trần âm mưu của thực dân Pháp trong việc lập “hoà”
ước mới ấy! Lần này tiếp sứ giả Pháp, vua Tự Đức và đình thần
yêu câu Pháp trả lại cho ta tỉnh Biên Hoà và thôi khoản “bồi thường chiến phí”. Pháp vẫn một mực tham lam! Sau đó ba tháng, đầu
năm Tự Đức thứ hai mươi ba (1870), Pháp một lần nữa nằng nặc đòi lập
“hoà” ước mới. Tên tướng suý Ô Khởi (Ô Khỉ, Ohier) về nước rồi,
tên tướng khác sang thay ở phủ suý Gia Định là De Cornulier Lucinière vẫn
tiếp tục trao quốc thư với yêu cầu cũ và chúng vẫn giữ lòng tham lam cũ!
Nhà vua tham khảo ý kiến các tỉnh thần. Tổng đốc Bình – Phú Thân Văn
Nhiếp, tổng đốc An – Tĩnh Hoàng Tá Viêm đề nghị phải được các nước
phương Tây, các nước châu Á Tế Á công chứng, sau khi ta đã bác bẻ
Pháp một số điều khoản để giành lại quyền lợi ở mức độ nào đó,
nếu phải kí kết “hoà” ước mới. Nhóm đình thần Trần Tiễn Thành
tâu lên vua: “Ta đang hết sức chịu khuất,
mong để chống chế, [nhưng] chưa có [đủ]
cốt cách. Nếu lấy lời tranh luận, chẳng những không ích [gì], lại sinh
khó ra. Xin tạm hãy chờ nước ấy [và nước Y Pha Nho] đưa thư trả lời,
mới hợp cơ hội […]. Huống chi các nước khác cũng một giuộc với nhau
[…]” (65). Vua Tự Đức
chỉ còn biết khẳng định một câu: “Ta
không phải găng mà lí nước ấy là
trái” (65). Nhà vua vẫn muốn giữ vững quan điểm không nhân nhượng,
nhưng với sự nhũn nhặn, như năm kia đã khẳng định với bang biện Thành
Hoá Nguyễn Văn Tường, người được triệu vào kinh, sung bồi sứ của sứ
bộ dự định sang Pháp, Anh và Y… Khi được tin về vụ nhà vua tham khảo
ý kiến tỉnh thần này cùng những ý kiến phúc tâu của họ, tán tương
Nguyễn Văn Tường thấy chính Thân Văn Nhiếp, người từng dâng sớ xin
vua “nằm gai nếm mật”, cũng đã phải chịu khuất. Hoàng Tá Viêm cũng
đành chịu khuất. Có điều hai viên quan ấy đề xuất một việc rất bình
thường nhưng hoá ra vẫn khó: phải được
các nước phương Tây, các nước châu Á
công chứng, sau khi ta đã bác bẻ Pháp một số điều khoản để giành lại
quyền lợi ở mức độ nào đó, nếu phải kí kết “hoà” ước mới
(65)! Tháng ba năm ấy, sứ
giả Y Pha Nho lại sang đệ trình quốc thư đáp lễ, nhưng không
chịu theo nghi thức triều yết của nước ta. Vua Tự Đức cũng đành phải
nhân nhượng! Quốc thư của Y Pha Nho nhắc lại việc trước đây vua Tự
Đức cho lời lẽ nước ấy không thực tế trong thương thảo hội ước
thương mãi. Rồi cũng chẳng đâu vào đâu! Tên sứ giả ấy bái biệt, tự
tiện ra ngay Điều thấy rõ nhất
là trong mấy năm qua, Pháp vẫn một mực giữ lòng tham, không chịu nhân nhượng
ta một mức độ nhỏ nào, nhưng chúng vẫn
nhiều lần ngoan cố ép buộc triều đình nước ta kí kết “hoà”
ước mới với điều khoản nhượng đứt thêm cho chúng ba tỉnh Miền
tây, để hợp thức hoá hoàn toàn chủ quyền cho chúng
trên lục tỉnh Nam Kì, trong thực tế chúng đã cưỡng chiếm trọn vẹn từ
năm Đinh mão (1867)! Một lần nữa, tán tương
Nguyễn Văn Tường tự khẳng định, không chiến và thủ thì không thể đàm
phán được gì hết. ““Chân lí (!)” thuộc về kẻ mạnh”! Kẻ bạo
ngược cướp nước nhưng giàu có thì “nói quấy nói quá chúng nghe
ầm ầm”, huống chi bọn thực dân vốn cá mè một lứa! Thế rồi, một tin hết
sức chấn động lan truyền đi! Thời cơ cứu lấy Nam Kì đã đến? Bốn tháng sau khi viết
tập bản sớ về việc xếp đặt Bắc Kì và gửi vào kinh
đô, đệ trình lên vua Tự Đức, một sự kiện gây chấn động ở nước
Pháp lan truyền đi khá nhanh qua những người khách thương cập bến ở Gia
Định, Huế, Hà Nội, và cũng chính suý phủ Pháp tại Nam Kì báo tin cho
triều đình nước ta biết: Vua Nã Phá Luân đệ tam (Napoléon III: Charles
Louis Bonaparte) của Pháp đã bị quân Phổ Lỗ Sĩ (Prusse / Đức) bắt sống,
sau non hai tháng nổ ra cuộc chiến tranh giữa Pháp với Phổ (19.7.1870 –
02.9.1970) (67). Napoléon III dẫu đã liên minh với nước Nga sa hoàng, vẫn phải
chiến bại, kéo cờ trắng đầu hàng Phổ, phải cắt nhượng cho Phổ hai
tỉnh Alsace va Lorraine, đồng thời phải “bồi thường chiến phí” đến
năm tỉ phật-lăng (franÇ). Cũng như ở Nam Kì, sau khi nhà vua đã kí hàng
ước với hai khoản cắt đất, bồi tiền, nhân dân vẫn chiến đấu. Ở
Pháp, cuộc xâm lược của Phổ Lỗ Sĩ chỉ thật sự hoàn tất vào bốn
tháng sau (18.01.1871), lúc cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống Phổ
hoàn toàn bị dập tắt, cũng là lúc nước Phổ dưới quyền thủ tướng
Bismark, làm lễ thành lập đế quốc Đức ngay tại thành phố Versailles của
Pháp, nay đã bị Đức chiếm đóng (68). Theo đường ngựa trạm
và nguồn tin từ khách thương, hầu như các quan, sĩ phu đều biết tin tức
đó. Họ chờ một sắc dụ từ triều đình ban ra để tấn công quân Pháp
tại Nam Kì, giành lại sáu tỉnh non sông Tổ quốc. Ai cũng nghĩ rằng thời
cơ đã đến. Thế nhưng, khi “vua cho là có thể thừa cơ được, bàn sai
Viện Thương bạc viết thư bảo tướng [Pháp ở Gia Định] ấy giao trả
sáu tỉnh, để về mà cứu lấy căn bản” (67), thì đình thần lại bàn, và cuối cùng
nhà vua cũng chỉ muốn lấy lời nhân hậu để thuyết phục Pháp! Thư gửi
đi, nhận thư phúc đáp, để rồi cuối cùng “đình thần cho là nước
ấy không muốn điều đình. Ta đương có việc ở biên giới phía Bắc, việc
ở nước Tây [:Pháp] chưa nên nhân tiện hành động! Vua [cũng] theo lời!”
(67). Triều đình nước ta,
nhân dịp đáo lệ triều cống, ngay lập tức lập sứ bộ sang Trung Hoa.
Tháng mười năm ấy (1870), tán tương Nguyễn Văn Tường và các quan quân
thứ dẫn quân đi đánh dẹp bọn phỉ, mở đường cho sứ bộ Nguyễn Hữu
Lập, Phạm Hy Lượng, Trần Văn Chuẩn (69). Trong dịp đó, Nguyễn Văn Tường
và các quan quân thứ biết ý định nhà vua cùng triều đình: biên soạn sẵn
bản ghi nhớ những điểm cốt yếu như một dạng đề cương cho sứ bộ
căn cứ vào đấy mà ứng đối với Thanh triều cũng như với sứ thần các
nước Cao Ly, Nhật Bản, Lưu Cầu (Riu Kiu), đáo lệ họ cũng đang đến Yên
Kinh. Ngoài việc sứ bộ có nhiệm vụ thuyết phục vua Thanh tăng cường phối
hợp với ta để tiễu trừ bọn giặc Cờ ở biên giới hai nước, trên
lãnh thổ ta, tán tương Nguyễn Văn Tường còn hiểu rõ thái độ ứng phó
của triều đình, trước tình hình cách mạng và chiến tranh Pháp – Phổ,
trong dự kiến ở đề cương, là rất cẩn trọng, ngại gây hiềm khích
thêm với Pháp và các nước Phương Tây, ngay cả khi sứ bộ không thể
không bàn luận đến vấn đề ấy với vua Thanh và với sứ thần các lân
bang! Cẩn trọng đến mức sứ bộ được dặn dò, mỗi mẩu giấy bút đàm
xong đều phải được thu gom lại! Cẩn trọng và giữ quốc thể (69)! Nhạy cảm nhất với
tình hình ở Pháp, có lẽ vẫn là các cố đạo Pháp, vốn thuộc Hội Truyền
giáo của Đạo Gia Tô ở Pháp từng
có một thời gian dài bị suy vi do những cuộc cách mạng dân chủ nổ ra
trong nước. Cách mạng của nhân dân Pháp nổ ra từ thời tương ứng với
giai đoạn nước ta gần như được thống nhất Đàng Trong – Đàng Ngoài,
nhờ thanh gươm, vó ngựa quân Tây Sơn (1789), và cách mạng Pháp còn tiếp
tục nổ ra ở những thập niên sau đó (1848, 1870). Đạo Gia Tô ở Pháp có
một thời gian lại rất thịnh đạt, thực sự trở thành một công cụ
xâm lược các nước hải ngoại, đấy là giai đoạn dưới triều Napoléon
III, tên vua có nữ quỷ hoàng hậu Eugénie rất sùng đạo Chúa, triều đại
kéo dài suốt mười tám năm (02.12.1852 – 1870) (68). Từ trước ngày
Napoléon III bị Phổ bắt sống, phải đầu hàng, chấm dứt Đế chế II, các
cố đạo và bọn dân đạo thân Pháp hoặc thực sự là tay sai của chúng
ở nước ta đã lo sợ cuống cuồng! Nỗi lo sợ ấy đến với chúng muộn
nhất cũng từ trước Tết Nguyên đán năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh
ngọ (1970). Đó là dịp đầu năm mới dương lịch 1970. Bấy giờ, ở Pháp,
những khẩu hiệu vang lên sau khi em họ Napoléon III, tên hoàng thân Pierre
Bonaparte, ám sát Vitor, một nhà báo cộng hoà: “Nước cộng hoà muôn năm!”,
“Bọn Bonaparte phải chết!”, “Đuổi bọn giáo sĩ ra khỏi nhà nước!”.
Và từ đó, phong trào cách mạng bắt đầu bùng nổ đồng thời với
cuộc chiến tranh Pháp – Phổ, dẫn đến cuộc cách mạng vô sản Công xã
Do đó, trong tháng mười
nguyệt lịch năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh ngọ (1870), giáo sĩ Nguyễn
Trường Tộ liền mật tâu lên vua Tự Đức thông qua môi giới là Trần Tiễn
Thành : “Xin sai người đi đến
Gia Định dò thám, dâng kế, khiến cho tướng
Pháp trả lại ta sáu tỉnh, mang cả quân về nước, để dẹp nạn trong
nước, rồi lại sang buôn bán như người Anh ở Hạ Châu [tức bán đảo Mã
Lai]. Cần chơi thân với người
Anh, nước ấy thấy ta tìm đến người Anh, mới dễ nguôi lòng về bàn định
hoà ước. Lại phái người sang thủ đô nước Anh thăm dò, tuỳ tiện bày
kế. Trần Tiễn Thành nhân
xin sai Nguyễn Hoằng (người bên đạo theo sai phái) đi sang nước Pháp bảo
là cho người đi học, rồi nhân tiện cho Nguyễn Trường Tộ theo sang để
trình bày lợi hại với viên cố đạo Tây [dương] và xem sự thể tình
hình các nước Anh, Nga, Úc, Phổ. Và nước Pháp vẫn trông cậy ở hai viện
Công hầu và Thứ dân, nêu ngầm thương thuyết với hai viện đó, có cơ hội
gì, lần lượt tâu về” (70) . Một là, dâng
lên kế hoạch để quân ta lấy lại sáu tỉnh Nam Kì. Nhưng sau đó nước
ta vẫn quan hệ với Pháp về thương mại, như Hạ Châu (Mã Lai – Hai là, nên quan hệ mật thiết với người
Anh theo thể thức đó để Pháp nguôi bàn chuyện định lại “hoà” ước,
đồng thời phái người sang Anh thăm dò, tuỳ theo tình hình mà bày kế
sách (chúng đang ép buộc triều đình nước ta kí kết “hoà” ước mới
với điều khoản nhượng đứt thêm cho chúng ba tỉnh Miền tây, để hợp
thức hoá hoàn toàn chủ quyền cho chúng trên lục tỉnh Nam Kì). Ba là, Trần Tiễn Thành lại tâu xin cho
linh mục Nguyễn Hoằng và Nguyễn Trường Tộ sang Pháp trình bày với các
viên cố đạo Pháp ở bên ấy (Hội Truyền giáo Paris), thương thuyết với
lưỡng viện Quốc hội Pháp (Viện Quý tộc, Viện Thứ dân), đồng thời
để xem xét tình hình các nước Anh, Nga, Úc, Đức… Vua Tự Đức cho rằng
đó là việc hệ trọng, nên cho vời giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ, một người
đã từng sang Tây du học lâu năm, vào kinh để hỏi về việc ấy (70)! Nhà
vua hẳn không hề biết giáo dân Đinh Văn Điền ở Yên Mô, Ninh Bình và giáo
sĩ Nguyễn Trường Tộ ở Nghi Lộc, Nghệ An cũng là một giuộc? Từ tháng
mười nguyệt lịch năm Mậu thìn (1868), phải chăng phong trào lật đổ Đế
chế II ở Pháp đã bắt đầu manh nha, và nỗi lo âu của Hội truyền giáo
Tán tương Nguyễn Văn
Tường chợt nhớ hôm nào khi khâm sai đại thần Vũ Trọng Bình mới ra Lạng
Sơn, các quan quân thứ chua chát bàn bạc về “tả đạo”. Sau bữa cơm chào đón
khâm sai đại thần họ Vũ hôm ấy, họ chuyện trò mãi,
cho đến khi tiếng điêu đẩu vang lên báo hiệu đổi phiên tuần canh. - Hay là tên giáo dân
Đinh Văn Điền này muốn thoát khỏi quyền lực của giáo hoàng La Mã như
Anh giáo? Anh giáo là một thứ Thiên Chúa giáo (đạo Gia Tô) của nước
Anh, độc lập, không có quan hệ với La Mã. Và y cũng muốn thoát khỏi
nanh vuốt của Hội Truyền giáo Ba Lê ( - Những tên theo Thiên
Chúa giáo (đạo Gia Tô) ở các nước như nước ta, giáo hoàng bạch tạng
La Mã bảo gì chúng tuân lệnh răm rắp, đến mức bảo chấp nhận mất
nước, làm dân nô lệ, chúng cũng vâng lời! Ngu không thể tưởng được! - Tên giáo sĩ Nguyễn
Trường Tộ vẫn như cái đuôi của con chó Ngô Gia Hậu (Gauthier). Chó bị
chặt đuôi vẫn còn sống được, nhưng đuôi chó lìa khỏi đít chó thì
thối rữa khác gì khúc thịt chết! Nguyễn Trường Tộ đã bao giờ rời
khỏi hai tên giám mục Hậu (mgr. Gauthier), Phê Chính Hoà (mgr. Croc) đâu!
Nguyễn Trường Tộ như thế, nữa là Đinh Văn Điền! - Việc “sát tả”
ở nước ta, đâu phải chống dị giáo Tin Lành như vua Phi Líp đệ nhị
(Philippe II) của Y Pha Nho và vua Lu Y đệ thập tứ (Louis XIV) của Pháp! Hai
hoàng đế Tây Âu ấy giết hại biết bao nhiêu người chỉ vì dị giáo!
Ở nước ta, đó là vấn đề giữ nước khỏi bị xâm lược, nô dịch,
sùng bái Nhi Nhu (Giê Su, Jésus) mà quên mất tổ tiên, anh hùng dân tộc! Ai
chẳng biết những tên cố đạo như giám mục Hậu (Gauthier), giám mục
Hoà (Croc) là thực dân đội lốt tôn giáo, nhất là tên giám mục Phu Nhi
Chi (Puginier) ở Kẻ Sở (Hưng Yên), ở Hà Nội! - Giá như tên Nguyễn
Trường Tộ bỏ hẳn đạo Gia Tô để đứng vào giới Văn thân nho sĩ chúng
ta thì hay biết bao nhiêu! Chỉ tiếc là y không chịu bỏ “tả đạo” mà
chỉ chấp nhận bỏ tổ tiên, nguồn cội mà thôi! Ta học triết thuyết Khổng
Mạnh nhưng đâu có thờ lạy, sùng bái, mê muội như y sùng bái, mê muội
Nhi Nhu (Jésus) đâu! Chúng ta vẫn chỉ thờ kính tổ tiên, nguồn cội và
anh hùng dân tộc ta, còn lập Khổng miếu là chỉ để tỏ ra biết ơn danh
nhân “vạn thế sư biểu” thôi! Hãy xem trên bàn thờ các nhà, từ dân
cho đến quan, có bức tượng, tấm tranh nào tạc, vẽ Khổng tử đâu! Chẳng
lẽ Nguyễn Trường Tộ chưa hiểu tiểu truyện Nhi Nhu (Jésus) trong Kinh
thánh, chẳng lẽ chưa đọc Gia
Tô bí lục và
những chương về Cảnh giáo (một tên khác của đạo Gia Tô)
do Nguyễn Văn Siêu mới viết? - Thôi, xin phép các
quan! Để bữa khác! Thế nào triều đình cũng có thông tư về tình về lương
– giáo. Nhưng nhiệm vụ chính của ba đạo quân binh chúng ta là tiễu phỉ!
Phải diệt cho bằng hết bọn phỉ Tàu, phỉ Bắc Kì mới rảnh tay, nhẹ
đầu để lo việc lấy lại Bấy giờ, lúc đêm đã
bước sang canh hai, các tướng tá mới chia tay nhau đi làm công việc của
mình. Tán tương Nguyễn Văn
Tường một lần nữa lại băn khoăn trước câu hỏi: Phải chăng Đinh Văn
Điền, Nguyễn Trường Tộ muốn bày tỏ một thái độ chống Pháp để xác
lập chính nghĩa trước dư luận và trước triều đình để tiếp tục
theo Thiên Chúa giáo? Hay chỉ muốn tìm một chỗ dựa mới, một khi nước
Pháp đã bùng nổ cách mạng dân chủ và công xã Và điều tán tương
Nguyễn Văn Tường thấm thía nhất vẫn là: Thời cơ giành lại lục tỉnh
Nam Kì đã xuất hiện, nhưng chớp lấy thời cơ ấy để đuổi bọn cướp
nước bị bấn loạn ở sào huyệt chính quốc, ta vẫn không chớp lấy nổi,
do chân tay triều đình ta quá yếu, thân thể triều đình ta quá kiệt quệ!
Thế nên đành tiếc rẻ, để vuột mất thời cơ! Điều rất đơn giản,
ai cũng có thể biết, là phải chuẩn bị sẵn lực lượng để chớp lấy
thời cơ, giành chiến thắng, nhưng thật sự rất đỗi nan giải lại là
việc chuẩn bị lực lượng! Bọn phỉ Tàu hàng vạn tên, bọn cổ phỉ
(phỉ hùa reo) người Việt hàng mấy ngàn tên vẫn không ngừng ra sức quấy
nhiễu ở biên giới và miền biển Bắc Kì, với súng ống đạn dược
được Pháp, Anh viện trợ, bán chác qua tay lái buôn Jean Dupuis! Tán tương Nguyễn Văn
Tường không thể không tìm hiểu về nước Pháp và Thiên Chúa giáo, nhân
dân vẫn đang gọi là nước Phú bạch tạng, bạch
quỷ và tả đạo, dữu dân. Không ai không biết
câu ngạn ngữ trích từ sách binh pháp: “Biết
địch, biết ta, trăm trận trăm thắng!”.
Trong
điều kiện phải đương đầu
trước cuộc xâm lăng của Pháp và đương đầu với một tôn giáo đã bị
xuyên tạc bản chất để thành công cụ thực dân, nô dịch, ông không thể
không tìm hiểu đối phương. Đó là điều tất nhiên! Sau khi thấy tình hình
biên giới Bắc tạm yên, quân Thanh của Phùng Tử Tài rút
về Trung Quốc, bấy giờ, Nguyễn Văn Tường viết tập bản sớ “Về kế hoạch xếp đặt công việc ở Bắc Kì”. Ông không lạc quan về tình hình một
cách chủ quan, khinh địch. Quả thật, nếu bọn giặc Cờ không tràn
qua lại, ngóc đầu dậy, bọn cổ phỉ (giặc hùa reo) người Việt (Kinh, Tày,
Thái, Mèo…) không tiếp tục “giậu đổ bìm leo”, “theo đóm ăn tàn”,
quan quân ta cũng có thể chớp lấy thời cơ chiến tranh Pháp – Phổ nổ
ra, cách mạng dân chủ và Công xã Paris bùng dậy, Đế chế II của
Bonaparte ở Pháp sụp đổ, để kéo đại binh vào giải phóng lục tỉnh
Nam Kì. Mặc dù không dễ mua được súng đạn
hiện đại như quân
kháng chiến Mễ Tây Cơ ( Mỹ Lợi Kiên (US.
America) là một nước có nhiều tên cao-bồi
(cowboy) luôn luôn kè kè súng đạn, ăn ngủ với súng đạn, lại có nhiều tên lái buôn giàu có nhờ buôn lậu
súng đạn. Do đó, ngay ba năm
trước (1867), quân kháng chiến Mễ Tây Cơ, dưới sự lãnh đạo của một linh mục thoát
li khỏi giáo quyền La Mã, đã mua được súng đạn hiện đại, và nhờ vậy,
đã quét sạch bọn Pháp ra khỏi nước, cho dù nước Mễ không có thời cơ
như năm Canh ngọ (1870) này. Năm Tự Đức thứ hai
mươi ba, Canh ngọ (1870) này, thời cơ nghìn năm có một đã xuất hiện, mặc
dù chính phủ Công xã Paris vẫn muốn giữ chặt thuộc địa mà Đế chế
II xâm lược được, mặc dù quân ta vẫn còn thiếu súng đạn tối tân của
thời hiện đại (thế kỉ XIX), nhưng rõ ràng tình hình đã thuận lợi hơn
trước. Vậy mà tiếc thay, chính bọn Tàu giặc Cờ lại tràn sang, và bọn
cổ phỉ (giặc huà reo) người Việt ngóc đầu dậy, giam chân đại quân
triều đình nước ta ở Bắc Kì! Hoặc giả, phải chăng
một phần khác, ta vẫn không chớp lấy nổi thời cơ, do binh đao liên
miên, do chân tay triều đình nước ta quá yếu, thân thể triều đình nước
ta quá kiệt quệ? Thế nên đành tiếc rẻ, để vuột mất thời cơ! Tháng sáu nguyệt lịch,
tán tương Nguyễn Văn Tường viết tập bản sớ “Về kế hoạch xếp đặt công việc ở Bắc
Kì”, những tưởng tạm yên. Nhưng, sau đó non một tháng, ngay tháng bảy,
Tô Tứ (Tô Quốc Hán), một tên đầu sỏ giặc Cờ, cùng với Tăng Á Trị,
trước đây đã xin hàng ở Lạng Sơn, nay lại nổi dậy làm phản. Hai tên
tướng phỉ Tàu cũng thuộc bọn giặc Cờ, loại Cờ vàng, Đặng Vãn và
Hoàng Sùng Anh, cùng hàng vạn tên tiểu tốt khác lại tràn sang nước ta quấy
nhiễu, chiếm cứ, cướp bóc, giết chóc (74). Như thế, rõ là sau khi ba mươi
mốt doanh quân nhà Thanh của tướng Phùng Tử Tài mới rút, bọn phỉ ẩn
núp được tại núi rừng Thái, Tuyên, Cao, Lạng… lại lập tức nổi dậy,
hàng vạn tên đồng bọn mới bị dẫn độ về Tàu lại tràn sang! Các quân thứ phải
phiên chế lại. Đoàn Thọ, tổng thống Bắc Kì quân vụ. Tổng thống
quân thứ Lạng – Bằng Vũ Trọng Bình đã được phong hiệp thống Bắc Kì
quân vụ. Lê Bá Thận, tham tán quân thứ Lạng – Bằng và sau đó chuyển
về Thái Nguyên. Ông Ích Khiêm, tán lí. Thành Lạng Sơn lại trở thành đại
bản doanh của các quân thứ như hồi năm Mậu thìn (1868), lúc mới xuất
quân ra Bắc! Trước tình hình đó,
tán tương Nguyễn Văn Tường lại phải lên ngựa cùng một số lớn lính
tuỳ tùng sang tận Phủ Thái Bình của Trung Quốc để thương thuyết. Tướng
Phùng Tử Tài lại sai phái tri phủ Thái Bình nhà Thanh sang hiểu dụ lũ phỉ
ấy. Đó là Từ Diên Húc (75). Cũng trong tháng tám
nguyệt lịch, tên tướng phỉ Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc đã xin hàng quân binh
ta. Y thưa, về nước Tàu, thế nào y cũng bị tử hình, nên y xin được
ở lại Bảo Thắng thuộc tỉnh Hưng Hoá để cùng đồng bọn làm ăn. Thấy
y là một trong những tên tướng tàn quân của Thái bình thiên quốc, tuy đã
biến chất thành phỉ, tuy cũng đã từng toan chiếm cứ Cao Bằng để xưng
hùng, xưng bá, nhưng dũng cảm, có tài cầm quân và tâm địa không đến nỗi
tàn ác lắm, quan quân ta đồng ý cho y theo để chịu sai phái tiễu trừ phỉ.
Bố chính sứ Hưng Hoá Nguyễn Huy Kỷ là một viên quan mộ đạo Phật, từng
được thuộc cấp và dân chúng rất mực kính nể, xem ông như Phật sống
(76). Chính Nguyễn Huy Kỷ và án sát Trần
Doãn Đạt đem việc xin hàng, đái công chuộc tội của y tâu vào vua
Tự Đức. Nhà vua bảo rằng: “Dùng người
Man đánh người Man là một việc cần.
[Lưu] Vĩnh Phúc vốn thù nhau với Hoàng [Sùng] Anh, nên khéo khích dùng. Nhưng
sợ tính chưa thuần, khó quen dần. Đừng hi vọng quá nhiều, lại thành ra
khó chế ngự” (52). Từ đó, Lưu Vĩnh Phúc
trở thành một người đắc lực. Như thế, một mặt có
Từ Diên Húc (tri phủ nhà Thanh) hiểu dụ chiêu hàng bọn phỉ Tàu, một mặt
có những người Tàu như Lưu Vĩnh Phúc truy quét chính đồng bọn người Tàu
cam tâm làm phỉ. Ngoài ra, tổng thống Bắc Kì quân vụ Đoàn Thọ lại
còn muốn chỉ sử dụng lính Nam Kì! Ông đã tâu vào kinh, nên tuyển thêm
lính Nam Kì (hiện sinh sống tại các vùng tị địa ở Bình Thuận), vì
lính Bắc Kì hèn nhát không sử dụng được! (Phải chăng
tâm thế binh lính Đàng Ngoài ít nhiều u ám, mệt mề bởi bất mãn trước
sự phân biệt đối xử?). Vua Tự Đức trách, vấn đề là tướng,
chứ không phải binh sĩ (77). Vua còn dẫn lịch sử, quân nào đã từng đánh
tan quân Nguyên – Mông, quân Minh? Sau đó, quân Chiến Tâm được thành lập,
tuyển mộ lính tráng từ Hà Tĩnh trở ra Bắc (77). Trong khi các quân thứ
phiên chế lại và vạch kế sách tiễu trừ phỉ như vậy, thành Cao Bằng
lại bị bọn phỉ Tàu, phỉ Việt đầu hàng làm phản. Các tên đầu mục
phỉ Nguyễn Tứ, Trương Thập Nhất, Đặng Vãn, Lục Vãn dẫn bốn, năm
trăm tên tốt phỉ đánh úp, chiếm thành, giết mất án sát Hoàng Tạo, vì
ông không chịu khuất phục, còn bố chính Nguyễn Văn Thận bị mất tích (78)! Thế là thành Cao Bằng
lần thứ hai bị chiếm! Đó là một tin trong
tháng chín năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh ngọ (1870), làm rúng động
triều đình và các quân thứ! Tình hình biên giới Bắc
không thể yên được, trở lại căng thẳng như cũ! Vua Tự Đức liền ban
dụ trong khắp cả các quân thứ, các tỉnh trong nước (79)! Thành Cao Bằng mất
vào lúc tương đương với thời điểm Phổ đánh bại Pháp (9.1870)! Thời
cơ thuận lợi cho nước ta xuất hiện, ta đành để trôi qua, vuột mất!
(63)
ĐNTL.CB., tập 31,
sđd., 1974, tr. 267 –270. (64)
ĐNTL.CB., tập 31,
sđd., 1974, tr. 382. (65)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 7 – 8. (66)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 17 –18. (67)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 47 – 48. (68)
LSCĐTG., tập 1, Nxb.
KHXH., 1986, tr. 342 – 357; tập 2, Nxb. KHXH., 1985, tr. 7 – 65. (69)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 56 – 59. (70)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 59 – 60. (71)
LSCĐTG., tập 3, Nxb.
KHXH., 1985, tr. 299 – 324. (72)
LSCĐTG., tập 1, Nxb.
KHXH., 1986, tr. 352. (73)
Theo các tác giả
Nguyễn Văn Hồng, Vũ Dương Ninh, Võ Mai Bạch Tuyết, trong Lịch sử cận đại thế giới, (LSCĐTG.),
tập 1 & tập 2, Nxb. KHXH., 1986 và các tư liệu khác: Khi cuộc chiến
tranh Pháp – Phổ 1870 – 1871 nổ ra, Karl Marx có theo dõi sâu sát, nhất là
đối với phong trào công nhân Pháp và Công xã Paris. Chính Karl Marx đã góp
phần chỉ đạo cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới ấy.
Tuy nhiên, Karl Marx và Quốc tế Cộng sản
I (thứ nhất) không hề đề cập đến vấn đề thuộc địa với ý hướng
ủng hộ các dân tộc chống chủ nghĩa thực dân xâm lược, cụ thể như
trường hợp nước ta chống Pháp chẳng hạn. Vấn đề ủng hộ phong trào
giải phóng các dân tộc (các đất
nước) bị áp bức bởi chủ nghĩa thực dân, đế quốc tư bản chủ
nghĩa chỉ được đề cập lần đầu tiên bởi V. I. Lénine trong
luận cương “Vấn đề thuộc địa” (1920). Phải chăng đó là
lí do cơ bản để Bác Hồ viết bài “Con đường dẫn tôi đến
chủ nghĩa Lê-nin” (1960)? Xin lưu ý ở nhan đề
bài viết ấy: chủ nghĩa Lê-nin chứ không phải chủ nghĩa Mác – Lê-nin!
Chúng tôi chú thích để thấy rằng các
nước Á, Phi, Mỹ la-tinh chống Âu Mỹ
xâm lăng
nói chung, và nói riêng triều Nguyễn cùng dân tộc ta chống Pháp, đều ở
trong một điều kiện không có một lực lượng nào ở Âu Mỹ ủng hộ, nếu
không nói là, như thế, mặc nhiên ngay cả Quốc tế Cộng sản I & II
vô hình trung cũng đều đứng về phía Âu Mỹ xâm lược. Có người cho rằng,
ngay cả Quốc tế III cũng chủ trương tiến hành cách mạng vô
sản ở chính quốc trước, mới có thể giải phóng các thuộc địa. Chính
nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong cuốn “Bản
sắc văn hoá Việt Nam” (Nxb. Văn hoá
Thông tin, 1998), bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh, đỉnh cao của
văn hoá Việt Nam” đã viết: “Chân lí
mà Nguyễn [Ái Quốc] phát hiện và đấu
tranh không biết mệt mỏi sau khi đã vào Đảng Cộng sản Pháp chính là
tìm mọi cách lôi cuốn Quốc tế III và các đảng cộng sản theo con đường
mà chính mình là người phát hiện. Điều này vào những năm hai mươi hãy còn quá mới, nên không mấy người cộng
sản trong các nước đế quốc tán thành” (sđd., tr. 448); “… Nguyễn Ái
Quốc vào [Đảng Cộng sản] với một mục đích riêng, khác đa số những
người cộng sản: khiến Quốc tế III ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, xem nó ngang với
nhiệm vụ thực hiện cách mạng ở chính quốc. Ta hiểu điều đó rất mới và rất khó”. Phan Ngọc còn trích dẫn
lời Nguyễn Ái Quốc: “Còn các đảng
cộng sản của chúng ta như Đảng Cộng sản Anh, Hà Lan, Bỉ và
các nước khác, mà giai cấp tư sản ở đấy đã chiếm giữ thuộc địa
thì đã làm những gì?… Tất cả những việc mà các đảng của chúng ta
đã làm về việc này thật hầu như chưa có gì cả. Còn về phần tôi,
là một người sinh trưởng trong một nước hiện nay là thuộc địa của
Pháp và là một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, tôi lấy làm tiếc phải
nói rằng Đảng Cộng sản Pháp chúng tôi làm ít và rất ít cho các nước
thuộc địa” (Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 1, 1995) (tr. 450). Sau
Cách mạng tháng 10 Nga 1917 mà còn như thế! Ở đây, chúng tôi chỉ chú
thích để làm rõ ý tưởng: Các nước Á,
Phi, Mỹ la-tinh chống Âu Mỹ xâm lăng nói chung, và
nói riêng triều Nguyễn cùng dân tộc ta chống Pháp, đều ở trong một điều
kiện không có một lực lượng nào ở Âu Mỹ ủng hộ. Và chỉ giới hạn
vấn đề ở đó. Ngoài ra, các khái niệm “chủ nghĩa xã hội không tưởng” (trước Karl Marx, chúng tôi thay thế bằng
các từ ở thế kỉ XIX là “lí thuyết xã hội đại đồng viễn
tưởng”), “chủ nghĩa xã hội khoa học” (từ Karl Marx) và “chủ nghĩa
xã hội hiện thực” (từ
Lê-nin, tại Liên Xô…) tự bản thân chúng đã rõ nghĩa, thiển nghĩ khỏi
cần phải minh định, giới thuyết cụ thể. (74)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 39. (75)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 42. (76)
ĐNTL.CB., tập 35,
sđd., 1976, tr. 62 – 63. (77)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 44. (78)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 46. (79)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 50 – 51… à
xem
tiếp truyện kí thứ sáu | 4 (tiếp theo) |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com