TRẦN
XUÂN AN
15 Tháng mười nguyệt lịch
năm Tự Đức thứ hai mươi bốn, Tân mùi (1871), sổ nhật
biên ghi chép: “Hoàng Tá Viêm từ
khi vâng mệnh cai quản quân cùng với thị sư Lê Tuấn, được vua ban cho thanh gươm của
vua, cho tuỳ tiện được phép thay đổi các quan to, tự ý phủ dụ, nhận
kẻ đầu hàng. [Tất thảy mọi việc] vua đều nghe [theo] cả. Đến nay, thế
giặc mỗi ngày một lan rộng, dọc biên giới báo tin cấp bách, [Hoàng Tá
Viêm] lại xin phái thêm quân để đánh dẹp. Nhân thế, vua giáng dụ quở
trách, bắt phải đánh dẹp ngay. [Vua] lại sai quan quân thứ và quan tỉnh: [Một,] quan văn là
Bùi Tuấn, Lê Hữu Thường, Trần Bình, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Kỷ, Hồ
Trọng Đĩnh, Lương Quy Chính, Mai Quý, Phạm Thận Duật, Vũ Huy Huyến, Nguyễn
Huy Du, Đặng Duy Trinh, Nguyễn Thứ, Lưu Tiến Điền, Hoàng Diệu, Nguyễn Mậu Kiến, Nguyễn Di, Nguyễn
Quế, Trần Quang Trọng, Hoàng Tướng Hiệp, Phạm Hữu Thước, Nguyễn
Phan, Nguyễn Văn Thận, Nguyễn Tạo. [Hai,] quan võ là Đinh Hội,
Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Ban, Trần Mân,
Lê Văn Trinh, Nguyễn Văn Nhuận, Nguyễn Bưu. Và [ba, các quan tham mưu
ở các quân thứ là] bọn Trần Đình
Túc, Nguyễn Văn Tường, Đặng Huy Trước [:Trứ], Trần Thiện Chính,
Vũ Văn Đức, Vũ Trọng Bình. [Tất cả các quan] phải
hết lòng bày mưu, đặt kế, giúp các tướng soái về những chỗ thiếu sót” (146). Tháng giêng nguyệt lịch
năm Tự Đức thứ hai mươi lăm, Nhâm thân (1872), vua dụ
các quan quân thứ và quan tỉnh Bắc Kì, để được phúc tâu (tâu lại)
cho thật cụ thể: “Việc binh là việc hại dân, hại của, bất
đắc dĩ mới phải dùng đến. Nơi biên
giới Bắc Kì có giặc, đánh dẹp đã trải ba năm, người ở nhà mỏi mệt
về việc vận lương, người đi đánh khổ sở về nạn giáo mác. Mùa thu
năm ngoái đã giáng dụ bảo rõ, hạn ngặt cho nội trong năm ấy phải dẹp
xong hết cả; lại có quân nước Thanh sang đánh giúp, quân nhiều đến mười
bảy doanh. Thế mà các bọn giặc ấy không tụ họp như đàn ong ở hạt Sơn
Tây thì tụ họp như đàn quạ ở hạt Tuyên Quang, Hưng Hoá; không lẫn trốn
như con cáo ở hạt Thái Nguyên, Lạng Sơn thì họp như đàn muỗi ở Hải
Dương, Quảng Yên. Đi đến đâu, [chúng] kéo đàn kéo lũ, cướp bóc bừa
bãi, [khiến] mối lo nơi biên giới chưa biết bao giờ cho hết. Các ngươi
là thống đốc Hoàng Tá Viêm, thị sư Lê Tuấn, trước đã xin mộ chiến
sĩ, trù lương, quân, thế mà từ trước đến giờ, chưa làm được việc
gì. Thế thì chỉ có tiếng là trù quân, lương, mà không có sự thực về
quân và lương. Cùng là quan tỉnh Lạng Sơn, [ấy] là bọn Lương Quy Chính,
đều có tâu xin khuyên các thổ hào, mộ người lập ra thổ binh, sức cho
dân các huyện đều lập ra vùng, trại; quan tỉnh Cao Bằng là bọn Đặng
Duy Trinh cũng xin mộ thổ dõng dồn thành đội ngũ, thay phiên nhau canh giữ;
[nhưng] việc làm thế nào, tự trước đến nay chưa thấy tâu báo gì cả.
Lại như bọn Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn
Tường can phải tội nặng, trẫm không nỡ xa bỏ, đã chuẩn cho chức
hàm, để lập công chuộc tội, thế mà gần đây chẳng thấy làm việc
gì có thực trạng. Quan nhà Thanh dùng viên phủ là Trần Bỉnh Di, đi đã
lâu, cũng chẳng thấy thi thố được việc gì. Việc ấy cũng cho thống đốc
Hoàng Tá Viêm cứ thực tâu kèm cho biết một thể” (147). Tháng hai nguyệt lịch
năm Tự Đức thứ hai mươi lăm, Nhâm thân (1872), vua mật
dụ cho ba vị tướng tá quân thứ ở mặt trận phía Bắc, đó là Hoàng
Tá Viêm, Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường: “Việc lớn của nước không gì quan trọng
bằng việc quân, mà uy quyền ngoài biên
khẩu, không ai quyền to bằng người làm tướng. Tướng để dẹp giặc yên
dân, mà tham tá để giúp tướng những chỗ thiếu sót. Trên dưới một lòng
thì đánh đâu được đấy, chưa bói đã tin, không nhọc lòng phải tính lần
nữa. Bọn ngươi hoặc con nhà dòng dõi,
có đức tốt giống tổ tiên, hoặc được tuyển vào hạng tuấn kiệt
trong nước, trước sau từng trải đã mấy chục năm nay, cho nên [trẫm] uỷ
quyền cho cai quản ba quân, [hoặc] lên đến bậc tham tá. Mấy năm
nay đánh giặc, chuyên chủ việc chiêu phủ, tốn phí không biết chừng
nào. Nay ở hạ du công việc đánh dẹp hơi thư, nhưng ở biên giới công
việc đánh dẹp rất cần kíp. Không sớm nghĩ đến việc sớm dẹp yên bọn
giặc ấy thì quân và dân đến bao giờ được nghỉ? Trẫm xưa nay đối
đãi với các thần hạ, chỉ lấy lòng thành thực cùng tin nhau, thế mà gần
đây xem tờ tâu báo của các ngươi, hình như giả dối, che đậy sai lầm
để mong thoát khỏi trách nhiệm. Bụng nghĩ, việc làm, chức phận của người
làm tôi có quả như thế không? Từ nay về sau, Hoàng Tá Viêm, ngươi phải
nên cố gắng mười phần, chớ nên như người đắp núi bỏ thiếu một sọt
đất, [ngươi] lại phải hỏi khắp mưu trí của mọi người, không nên
yêu, ghét, giận dữ không công bằng để sinh ra nhiều việc che lấp. Vũ
Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường, các ngươi
phải nghĩ hăng hái lên, chớ nên tự đùn đẩy. Phàm có nghe thấy sự
gì, có kế hoạch gì, phải hết lòng bàn bạc với viên thống đốc cho
ổn thoả mà làm, ngõ hầu hết trách nhiệm giúp đỡ. Mong rằng phải nên
cố gắng” (148). Tháng bảy nguyệt lịch
năm Tự Đức thứ hai mươi lăm, Nhâm thân (1872), vua lại dụ rằng: “Từ khi biên giới
có việc binh đao, đến nay đã ba, bốn năm, quân thì mệt, tiền thì thiếu, sự khó nhọc
phí tổn không biết thế nào mà kể. Thế mà các quân thứ chỉ lần lữa
tháng ngày, nuôi giặc để lo về sau. Không phải là các tướng sĩ lười
biếng, khinh nhờn, tham trái không chịu ra sức làm việc, nên đến thế
ư? Xem ngay như việc trong quân không hoà thuận với nhau, điều khiển trái
phép, đã biết được đại khái. Hoàng Tá Viêm, mình là một viên thống
soái, oai quyền đến thế nào, mà trong lòng hèn nhát, độ lượng [thì] hẹp
hòi, quá cẩn thận thành ra sợ sệt. Lê Tuấn hơi có học thức, tự cho
là chí khí, nhưng chí thì lớn mà mưu kế thì không có gì, mệnh lệnh
không được nghiêm chỉnh. Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ thì cứng xẵng,
làm theo ý mình, ít học, hay tức khí, rồi vì lời nói hay việc nhỏ, đem
lòng tư hiềm, nhãng quên việc công, rất không phải hiềm nhau như Liêm
Pha, Lạn Tương Như ngày xưa, mà lại kém sự hiểu biết của họ Liêm, họ
Lạn nhiều lắm. Trẫm rất không cho là phải. Ngoài ra, như Vũ Trọng Bình
thì là cựu thần có danh vọng, duy có tính nóng tài kém, tự để mối lo
cho mình. Nguyễn Văn Tường vốn cậy mình
tài giỏi, nhưng lúc thì giáng, lúc thì thăng, không biết cảm kích cố gắng.
Lê Hữu Thường nhiều lần tham dự việc binh, cũng là người khá,
thế mà từ khi [được cất] nhắc lên, uỷ cho quyền coi một địa
phương đến nay, không thi thố được việc gì. Còn ngoài ra các quan ở
quân thứ, ở tỉnh phần nhiều lấy cớ ốm để tránh việc, hoặc gièm
chê lẫn nhau, quên nghĩa, vụ lợi, nuôi giặc, để sung sướng lấy mình.
Bọn các ngươi như thế, tướng sĩ tất bắt chước cái dở mà sinh ra lười
biếng, khinh nhờn. Huống chi lại quen thói nghĩ cửa nhà vua xa muôn dặm, rồi
khoe công dối trá, coi thường mệnh lệnh, để chậm kì hạn, không nghĩ gì
đến: “Vua phải lo thì bề tôi phải khó nhọc, dân phải khốn khổ thì
nước phải thiệt hại”” (149). 16 Mặt trận các tỉnh
biên giới Bắc Kì vẫn đang rất căng thẳng, tình hình ở các vùng trung
châu và duyên hải lại trở nên gay gắt. Đó là không khí gay gắt trong sự
kìm chế. Các tướng tá đang lãnh nhận nhiệm vụ tiễu phỉ, với sắc dụ
của vua Tự Đức và sự hạ quyết tâm của chính họ, rằng bằng mọi
giá cũng phải ổn định tình hình Bắc Kì, bỗng nhận thấy rõ tính chất
căng thẳng và gay gắt đang tăng cường độ của tình hình. Không phải đến bây
giờ tán lí Nguyễn Văn Tường và các quan quân thứ, quan tỉnh mới biết
Jean Dupuis, một tên thực dân người Pháp, đóng vai lái buôn súng đạn, các
thứ quân dụng khác, làm việc cho đoàn thám hiểm Anh ở thượng nguồn sông
Hồng, thuộc vùng Vân Nam (Trung Hoa). Y nghiên cứu địa hình, lưu vực, lưu
lượng và nguồn hàng hoá cần thiết. Cũng như Jean Dupuis, đoàn thám hiểm
của An Nghiệp Ngạc Nhe (Françis Garnier), mấy năm
nay ngược sông Khung (Mê Kông) vừa đi vừa thăm dò, khảo sát, nghiên cứu,
và từ lâu đã đến Vân Đang ngồi đọc các bản
báo cáo của các quân thứ, khi đến những trang viết rõ về hành tung hai
chiếc tàu thuỷ, một chiếc thuyền buồm của Jean Dupuis, tán lí Nguyễn Văn
Tường nhíu mày, cắn chặt hai hàm răng, hiểu rằng thật sự Bắc Kì bắt
đầu phải đối phó, đương đầu với một khó khăn mới: Thực dân Pháp
đã bắt đầu lộ diện, phơi bày rõ mưu đồ xâm lược xứ Bắc Kì này. Hoàng Tá Viêm đã đọc
trước, nên khi Nguyễn Văn Tường chợt ngẩng đầu lên hỏi, ông nói: - Không chỉ Đồ Phổ
Nghĩa (Jean Dupuis), mà có cả tàu Bô Len (Bourayne) của suý phủ Pháp tại
Gia Định. Tướng Pháp ở Gia Định đã gửi thư cho triều đình, thông
báo là có cho tàu Bô Len của chúng ra các hải phận Bắc Kì dò bắt giặc
biển, thăm các giáo phận đạo Gia Tô, rồi sau đó, tiện đường, sẽ chạy
qua Hương Cảng (Hồng Kông). Nhưng trong tháng mười một nguyệt lịch này,
tàu thuỷ Bô Len (Bourayne) ấy cùng ba chiếc tàu thuyền của Đồ Phổ
Nghĩa (Jean Dupuis) đã phối hợp với nhau. – Hoàng Tá Viêm lại hỏi –.
Theo quan tán tương, ý đồ của chúng rồi sẽ diễn ra như thế nào? - Chúng muốn mượn tay
bọn tàn quân Thái bình thiên quốc (giặc Cờ) cùng bọn tàn dư phỉ người
Việt theo đạo Gia Tô và các thứ phỉ khác để quấy rối Bắc Kì. Điều
đó lâu nay chúng ta thừa biết và đã quyết dập tắt. Nay chúng vẫn thế.
Lần này bọn Pháp thực sự lộ diện, nhưng vẫn ngụy trang, che đậy ý
đồ thâm độc của chúng bằng cách chúng bắn phá qua loa, chiếu lệ mấy
ghe thuyền của bọn hải tặc (cướp biển). Tàu Bô Len của tướng Pháp
ở Gia Định đang giở trò ngụy trang
là săn bắt hải tặc giúp ta ấy mà! Thực chất mưu đồ của chúng là thế,
và mọi thủ đoạn cũng chỉ để xâm lược Bắc Kì! – Tán lí Nguyễn Văn
Tường ngẫm nghĩ, ông nói tiếp –. Trên tàu của chúng có cả người
Anh, người Lã Tống (Philippines), lại có cả người Hoa nước Thanh, ngươi
da đen A Phi Lị Gia (châu Phi, Afrique), nhưng thực chất những tên chủ tàu
vẫn là Pháp, vẫn là Anh thôi, còn bọn kia là tay sai, chúng thuê mướn. Chúng
những muốn “mượn đường”, ngược sông Hồng, lên Vân - Chúng ta sẽ phải đối
phó cách nào? Quan kinh lược Bắc Kì Lê Tuấn, tổng đốc Hải Dương Lê Hữu
Thường đối phó thế nào đó mà triều đình khiển trách, giáng cấp đấy
(150). Thật là khó khăn quá, phải không? Thật ngang ngược hết nước nói,
cái bọn “bạch quỷ” ấy! Đồ
Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) cho tàu thuyền đi từ Hải Dương đến Bắc
Ninh, lại còn bắn súng làm hiệu lệnh ngay tại Hà Nội, thuê thêm thuyền
để đi Vân - Theo như sắc dụ, vua
Tự Đức vẫn muốn ta nhẫn nại đối phó một cách mềm dẻo, nghĩa là “không hướng dẫn [cho chúng], không [đón] tiếp [chúng], [để] chúng đến
đâu tự biết là khó đi, thì tự phải rút lui”! “Chúng đến đâu, làm
việc gì, phải phi báo ngay để tiện xử trí, chớ có tự mình gây hấn
trước, chớ để cho thất thế, là được rồi” (150)! Đấy, thưa
quan thống đốc, ấy là sắc dụ của đức vua! Ngay cả khi chúng đến
Hưng Yên, tuần vũ Nguyễn Đức Đạt và cả quan tỉnh khác là Tôn Thất
Phiên [Phan], tất nhiên phải phái phó lãnh binh Trần Lương đi phòng giữ,
xem xét, thế mà vẫn bị giáng cấp, lưu nhiệm đấy (151)! Theo tôi nhận
thức, thì rõ là đức vua vẫn muốn xử nhũn, “theo thể
thống mà đối phó cho khéo, chớ lộ thanh tích [= tiếng tăm, dấu vết] để
cho người [ta, tức là bọn chúng,] ngờ việc…”. - Như vậy mình chắc
phải cáo ốm thôi! Thật ra thì cũng có lần cáo ốm rồi! Hẳn là phải
cáo ốm để xin nhà vua đổi người khác (152)!
– Thống đốc Hoàng Tá Viêm bực nhọc nói –. - Thật không nên, thưa
thống đốc! Như thế, sẽ bị lên án là đào ngũ! – Tán lí Nguyễn Văn
Tường nói –. Phía châu thổ sông Hồng, ngay tại Hà Nội, ngoài kinh lược
sứ Lê Tuấn, còn có khâm mạng đại thần Nguyễn Tri Phương. Hai vị ấy
có trách nhiệm và hẳn có cách xử lí. Hi vọng họ xử lí được việc vừa
khó khăn, vừa bị câu thúc ấy… Nhưng, như thống đốc đã biết, tên quốc
trưởng Pháp tại Ba Lê ( - Mình cũng đã nghe
khâm mạng đại thần Nguyễn Tri Phương hồi tháng bảy vừa rồi nói chuyện
ấy! Mình còn nhớ chứ! Tình hình quốc thư qua, quốc thư lại chắc đến
bây giờ, tháng mười một, tháng chạp này cũng vẫn bế tắc! Quan tán lí
chắc cũng đồng ý với tôi như vậy? Rõ là bế tắc mới có sự ngược
ngạo, lộng hành của Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) với tên trưởng tàu Bô
Len (Bourayne) như thế! - Vâng, điều đó thì
rõ rồi. – Tán lí Nguyễn Văn Tường nói –. Đúng
là bế tắc! Nói giản dị là bọn Pháp vẫn nuôi tham vọng xâm lược nước
ta từng xứ một, rồi xâm lược toàn bộ đất nước Đại Hai vị quan im lặng suy
nghĩ. Tán lí Nguyễn Văn Tường
bước ra cửa lớn của dinh cơ, nơi tạm đóng đại bản doanh. Ông cảm thấy
rõ nỗi đau của những đất nước không tiến kịp với trào lưu của toàn
nhân loại, bị một phần thế giới kia, các nước Âu Mỹ của chủng người
bạch tạng, kéo quân đến xâm lược. Đất nước Đại Thống đốc Hoàng Tá
Viêm cũng suy nghĩ nhiều đến trách nhiệm và chức vụ của mình. Ông rất
buồn, buồn đến chua xót và cay đắng khi đọc những bức dụ quở trách
của vua Tự Đức trong hơn một năm qua. Đúng là “cha mẹ nói oan, quan
nói ép”! Tục ngữ chả nói thế là gì! Cha mẹ đã thế, quan chức đã
thế, nữa là hoàng đế! “Quan chi phụ mẫu”, quan là cha, là mẹ dân!
Hoàng đế bao giờ cũng là “quân phụ”, là vua-cha! Quan và dân bao giờ cũng là tôi tớ và là con đỏ (“xích tử”) của “quân phụ”!
Ở nghĩa tốt, ấy là vua, quan
phải yêu thương, chăm sóc, nuôi dạy dân như con mới lọt lòng còn
đỏ hỏn. Nhưng ở một nghĩa nào đó, riêng với vua, vua cũng tha hồ chửi
mắng thậm tệ “con-dân”, “tôi tớ”! Chửi mắng oan ức, ép uổng để yêu cầu
cao, nghĩa là luôn đòi hỏi “con-dân”,
“tôi tớ” phải nỗ lực nhiều hơn, gắng gỏi mãi, chớ bao giờ tự
mãn, tự phụ, kiêu căng, và có thể cho quen chịu nhục để giữ lễ (!). Thống đốc Hoàng Tá
Viêm cũng bước ra cửa, đứng cạnh tán lí Nguyễn Văn Tường. Ông muốn
tâm sự, chia cay sẻ đắng với Nguyễn Văn Tường về ba sắc dụ của vua
Tự Đức từ tháng mười năm ngoái đến tháng bảy nguyệt lịch năm nay.
Ông tin tán lí họ Nguyễn là người cảm thông ông hơn ai hết. 17 Sau ba ngày Tết Nguyên
đán năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quý dậu (1873), thống đốc các quân
thứ ở mặt trận biên giới phía Bắc nhận được lệnh dụ từ kinh đô
chuyển ra: “Chúng [tức là tên Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis)] đã đến
Hưng Hoá. Hoàng Tá Viêm phải về ngay phủ Đoan Hùng để tiện tới gần
điều khiển công việc tỉnh Sơn Tây, Hưng Hoá; còn việc tỉnh Hà Nội,
giao cho Bùi Thức Kiên làm cho ổn thoả, Nguyễn Uy (Oai) phải đến ngay bàn
tính ứng tiếp” (154). Đoan Hùng, nơi giặc Khách, thổ phỉ vừa
vây bức hồi tháng sáu nguyệt lịch, năm ngoái, Tự Đức thứ hai mươi
lăm (1872), và quân binh ta đã giải vây được (155)! Ngay tức khắc, thống
đốc Hoàng Tá Viêm lên đường. Tiễn chân ông xong,
tán lí Nguyễn Văn Tường quay ngựa lại dinh cơ quân thứ. Mới đó mà đã hơn bốn,
năm tháng rồi, kể từ buổi sáng mùng bốn Tết Nguyên đán đầu năm nay.
Trong thời gian ấy, mọi việc ở quân thứ đều do Vũ Trọng Bình và Nguyễn
Văn Tường hội ý với quan tỉnh để tiến hành. Trước hết là việc mở
đường cho sứ bộ đáo lệ sang triều cống nước Thanh (156). Tán lí Nguyễn
Văn Tường cũng biết ấy chỉ là lệ “hậu
vãng bạc lai”, ít ỏi mang đến, hậu thưởng mang về (157), nhưng ngoài ra cũng là dịp để bàn
việc hai nước. Lần này, sứ bộ ta cũng chỉ trực tiếp dâng sớ
bàn về tình hình ở biên giới chung. Sau khi từ biên giới về,
tán lí Nguyễn Văn Tường lại nhận được sắc dụ chỉ đạo việc vẽ
bản đồ cụ thể, chi tiết ở bốn nơi tiếp giáp Tam tuyên (158). Ông cùng Vũ Trọng Bình
xem thật kĩ những bản đồ vẽ từ những năm trước, bàn bạc cụ thể
để phân công các quan thư lại trực tiếp đến những vùng địa giới,
thám xét lại địa hình. Nhấp một ngụm trà
nóng, tán lí Nguyễn Văn Tường nói với người bạn già họ Vũ: - Mấy tháng vừa rồi,
ai cũng bức xúc về tên Đồ Phổ Nghĩa (Jean
Dupuis) và trưởng tàu Bô Len (Bourayne) của tên tướng Pháp tại Gia Định.
Quan lớn có nghe tin gì về thống đốc Hoàng Tá Viêm ở tỉnh Hưng Hoá
không? - Không rõ lắm. Nhưng
cũng theo tinh thần xử nhũn của triều đình thôi! Trong tháng ba nguyệt lịch
năm nay, tên tướng Pháp ở Gia Định lại đề nghị triều đình cho y mang
tàu thuyền, quân binh ra giúp ta đánh dẹp bọn phỉ các loại ở Bắc Kì
(159). Thật là bịp bợm, tráo trở đủ điều! Khi thì chúng giúp bọn tàn
quân Thái bình thiên quốc, giúp bọn giặc theo đạo Gia Tô người Việt mình
ở Bắc Kì, để quấy nhiễu ta, khi thì tráo trở, lại ngỏ ý giúp ta đánh
dẹp các loại phỉ Tàu, phỉ Việt ấy! Triều đình dè dặt là phải, mặc
dù nói khéo là sợ phải mang ơn chúng… Nhưng quan tán tương có hay tin về
hai quan điểm khác nhau giữa Hoàng Tá Viêm với khâm mạng Nguyễn Tri Phương
chưa? - Đây, triều đình có
gửi ra các quân thứ để cùng bàn việc tối mật này. – Tán lí Nguyễn
Văn Tường lấy một xấp giấy trong ống công văn ra, cầm và mở trên tay
–. “Khâm mệnh là Nguyễn Tri Phương xin phong toả sông, cấm buôn bán,
cho chúng phải khốn. Thống đốc Hoàng Tá Viêm cho là giặc ấy hiện nay
tràn đến quấy nhiễu ở hạ du; [vì vậy] các ngả [đều] phòng bị, vị
tất đã chu đáo hết; [do đó, nếu] hạ ngay lệnh phong toả cấm buôn, sợ
rằng lòng giặc có khi bức bách”. Đức vua bảo: “Lời xin của Nguyễn Tri Phương là cốt làm
cho giặc phải khốn. Hoàng Tá Viêm lại
nghĩ khác, chỉ là [viên ấy] quá sợ, rút cục không bao giờ xong” (160). Nay nhà vua đã ra lệnh dụ, tham khảo
các quan quân thứ, quan tỉnh. Không biết ý kiến của quan lớn thế nào? - Thì theo lệnh dụ,
phong toả cho bọn giặc Cờ, bọn phỉ phải khốn thôi! – Vũ Trọng Bình
ngẫm nghĩ –. Thật ra, nhà vua đã có sắc chỉ phong cho tán lí quân thứ
Sơn – Hưng – Tuyên Tôn Thất Thuyết, nguyên hàm thị lang Bộ Binh, được
thự hàm tham tri, sung tham tán, với quyền hạn rộng. Như thế là từ nay từ
đề đốc, tán lí trở xuống, đều phải tuân theo quyền chỉ huy của
Tôn Thất Thuyết. Viên tướng này như thế là quá trẻ, mới ba mươi lăm
tuổi. – Vũ Trọng Bình nói tiếp –. Nhà vua bảo Tôn Thất Thuyết có “oai tướng như oai hổ” mà lính sợ hổ
đuổi nên vượt sông, không đắn đo;
như thế tốt hơn là treo thưởng cho lính để động viên, yêu cầu lính vượt
sông ấy (161)! Hiệu quả trước mắt là rất lớn, nhưng không biết
về lâu về dài thế nào! Quân lính có thể sẽ rơi vào tình trạng “diện phục, tâm bất phục” (ngoài mặt thì chấp hành lệnh, trong lòng bất
bình, không tuân phục)… Tuy nhiên, quả thật, Tôn Thất Thuyết giữ
được tính nghiêm, quân lính rất sợ, theo uy lệnh răm rắp. Tán lí Nguyễn Văn Tường
nhìn xuống xấp giấy đầy đặc chữ ông đang cầm. Một thoáng phân vân,
ông cuộn lại, bỏ vào ống đựng công văn. Ông nhìn ra ngoài sân, ngẫm
nghĩ đến những vị tướng trong lịch sử, như Lí Thường Kiệt, Trần
Hưng Đạo chẳng hạn. Thời đánh đuổi quân
Tống, thời đánh đuổi quân Nguyên – Mông, nhất là đế quốc Nguyên –
Mông hùng mạnh nhất thế giới thuở bấy giờ, ngoài đức tính của vị
tổng nguyên soái, còn là vấn đề vũ khí… Vũ khí xa xưa ấy là gươm
đao, giáo mác, cung nỏ. Với trình độ đương thời thuở đó, không ai
kém thua ai. Thậm chí nếu cho rằng Tây Âu còn lạc hậu hơn châu Á, thì mức
chênh lệch cũng chả bao nhiêu. Riêng nước ta, so sánh với Tống, với
Nguyên – Mông, ta đâu kém gì về vũ khí! Cho nên, vấn đề còn lại rất
quan trọng là chiến thuật, chiến lược và đức tính, tài năng người cầm
quân. Tán lí Nguyễn Văn Tường
ngẫm nghĩ về điều đó: đức tính, tài năng vị tướng soái. Ông biết
Tôn Thất Thuyết vừa mới được thăng chức với quyền hạn lớn. Trao
quyền hạn ấy, hẳn nhà vua đã đắn đo, và không thể không có ý kiến
của vị đại thần uy vọng nhất, ấy là Nguyễn Tri Phương. Tất nhiên ai
cũng rõ Tôn Thất Thuyết có thời gian bị cách chức, chuyển qua làm bố
chính Hải Dương, vì xử án tử hình lính chăn voi không đúng luật, bị
xem là “tuỳ tiện”, mà Tôn Thất Thuyết phạm phải lúc còn ở quân thứ
Hải – Yên (162). Trong vụ ấy, Lê Tuấn, Đinh Hội cũng ít nhiều chịu
chung trách nhiệm! Sinh mệnh hai người lính, đó đâu phải chuyện đùa
(162)! Tán lí Nguyễn Văn Tường
ngẫm nghĩ về những tướng tá ông từng chung sức chiến đấu với họ: “Hoàng Kế Viêm, bản
chất trầm trọng, bao dung, vốn có tài lâm cơ đoán định, lay chuyển chẳng
rời, được xem là một tay đảm đương vậy”. “Tôn Thất Thuyết,
theo việc quân lâu ngày, am tường chinh
chiến, binh lính tướng tá đều sợ tánh nghiêm, nên cũng gọi là tay năng
nổ”. “Nguyễn Đình Thi, gặp
việc, nhận rõ chân tướng, chẳng nề gian hiểm, từng ở lâu nơi biên địa,
tình thế khá quen, nhưng việc dùng binh
không nghiêm trọng bằng Tôn Thất Thuyết”. “Ông Ích Khiêm, khí
chất hung hãn, hơn mười (10) năm nay từng trải trăm trận; tuy trong khoảng
đó có lúc cậy công, nhưng gặp lúc nguy nghèo đã vâng mệnh; lâm cơ ứng
biến; binh lính đều chịu sai phái, kẻ địch cũng sợ hãi. Cho nên các bầy
tôi ở quân thứ hiện nay không ai vượt qua. Nếu gặp được vị thống
soái có tài hiểu biết, có uy vọng hơn hẳn thì có thể làm cho ông ta
kính sợ, mới có thể từ bỏ hết lỗi lầm mà tỏ rõ công lao. [Được
như thế, thì] đó cũng là vị lương tướng ngày nay vậy. Duy tài lộ ra
ở khí, hàm dưỡng chưa sâu, mà kẻ đồng sự lại không có ai hơn mình,
cho nên vì khinh nhờn mà sinh kiêu căng, vì cương cường mà sinh ra ngỗ ngược,
đến nỗi tự mắc vào lỗi lầm thật rất đáng tiếc” (châu
bản, 2 bản tấu: 07.6 và 20.6 Quý dậu, 1873) (29). Tán lí Nguyễn Văn Tường
không thể không suy nghĩ về những quan văn cùng thời với mình. Làm chính
trị, có người khởi từ nghiệp võ, và làm tướng, lắm nhân vật lịch
sử vốn xuất thân từ khoa bảng văn thân. “Nguyễn Tư Giản, học
vấn sâu rộng, nghị luận thông suốt, mà tài năng liệu việc, thần chưa được thấy”. “Phan Đình Bình, văn
học, chính sự đều khả quan mà xét rõ
vẹn toàn càng thêm thích hợp. Duy thể chất yếu, việc phiền nhọc chưa
ắt chu toàn”. “Võ Khoa, học thức
không có gì hơn người, nhưng mạnh gánh
vác, tài biện luận cũng khả thủ” (châu
bản, 2 bản tấu: 07.6 và 20.6 Quý dậu,
1873) (29). Thượng thư Bộ Hình về
hưu Phan Huy Vịnh, rồi tổng đốc Ninh – Thái Bùi Tuấn đã chết (1871,
1872) (163), lại tiếp đến Thân Văn Nhiếp mãi mãi về với lòng Đất Mẹ
(1872) (164). Thân Văn Nhiếp để lại trong tâm hồn Nguyễn Văn Tường một
niềm tưởng tiếc sâu sắc… Họ đã mất, ông còn phẩm bình như họ
đang lo việc nước trên quan trường làm gì. Nhà sử kí và Quốc sử quán
sẽ nhận định về họ… Tán lí Nguyễn Văn Tường
biết rằng, “việc nghe thấy [nhất thời] cũng không phải
là bằng cớ xác đáng”, và con người có thể “tuỳ môi trường
mà đổi tiết”, “tuỳ chỗ dùng mà thấy sở trường; thật khó phẩm bình” (châu bản, 2 bản tấu:
07.6 và 20.6 Quý dậu, 1873) (29). “Dụng
nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng gỗ, “thẳng làm thước,
cong làm giằng xay…”, có thứ chỉ
để trang trí, dễ thay thế, có thứ làm cột, làm kèo, phải bền chắc để
dài lâu… Vũ Trọng Bình là một vị quan bộc trực, thanh liêm nổi
tiếng, đã từng nắm giữ Bộ Lại (30). Chính vị quan lớn đồng thời là
bạn vong niên ấy của ông nói đúng: Thời gian sẽ khẳng định những phẩm chất về
đạo đức, trí tuệ, thời gian cũng sẽ làm rơi tất cả những cái mặt
nạ giả dối. Phải chăng những mặt nạ giả dối của những Trần Tiễn
Thành, Phạm Phú Thứ và Lê Bá Thận, những kẻ Vũ Trọng Bình rất bất
bình? Thời gian đã làm rõ một Đoàn Thọ trung dũng nhưng thiếu
quyết đoán, đến nỗi phải trả giá bằng việc quá đau xót, nhục nhã
là mất thành Lạng Sơn và cái chết của chính đại tướng quân họ Đoàn
ấy, cùng cái chết hi sinh của lãnh binh quan Lê Văn Dã, của những chiến
sĩ khác. Còn Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ và Lê Bá Thận? Vũ Trọng Bình
cũng còn nói với ông hôm nào: Cánh chủ
chiến bị chèn ép, lép vế, có điều kiện
đâu mà phát huy để được mọi người đánh giá cho đúng đắn, chính
xác! Và đừng ỷ y vào sự phát hiện, khẳng định và bóc trần của thời
gian để rồi ân hận là trót để quá muộn. Phải chăng một
người dân Gia Định cũng đã hét to với ý nghĩa: Dẫu thế nào thì Trần Tiễn Thành, Phạm
Phú Thứ cũng là người
gốc Hoa, là người Khách, nên đừng bao giờ trao vận mệnh Tổ quốc Đại
Nam này cho họ. Đừng bán rẻ Đất nước cho người Khách! Chủ ra chủ,
khách ra khách! Hãy nhớ đến quốc thể! Hãy nhớ thuyết chính danh định
phận ở khía cạnh này! Mong họ và những người Khách như họ chỉ là những bậc trí giả ưu thời mẫn thế,
những cố vấn tại gia, và chỉ thế thôi. Khách cũng rất nên góp ý, kiến
nghị, đề xuất với triều đình. Ngẫm nghĩ về phẩm chất
đạo đức, tài năng của vị tướng trẻ Tôn Thất Thuyết, ông không thể
không chiêm nghiệm về Nguyễn Tri Phương, hôm nào ông chính thức viết sớ
đệ gửi vào kinh, dâng lên vua: “Xin chọn quan văn võ
[chỉ gồm những] người thanh liêm, tài giỏi, [điều động đến bốn phía]
đông, tây, nam, bắc, mỗi tỉnh đều hai (2) người, sung làm tổng đốc,
đề đốc, lại giao cho [mỗi tỉnh] năm trăm (500) quân tinh nhuệ (lính
thú, mỗi tỉnh Đường Ngoài năm trăm (500) tên, [gồm] một nửa lính kinh,
một nửa lính Thanh, Nghệ). Ở Hà Nội thì lấy quan đại thần có lòng
công bằng, trung trực, biết xếp đặt việc
nước, uy vọng rõ rệt, như quan Võ hiển Nguyễn Tri Phương, sung làm kinh lược
đại sứ, [và xin] giao cho [kinh lược đại sứ] hai ngàn (2.000) quân
tinh nhuệ để giúp việc đàn áp [bọn phỉ Tàu, bọn giặc trốn người
Việt]. Các tỉnh ở Bắc Kì, việc chỉnh [đốn] bờ cõi, đốc suất việc binh, xét hỏi quan lại, vỗ
yên nhân dân, đều ủy cho [kinh lược] đại sứ chuyên việc trông coi. Quy
chế cũ ở Hà Nội cũng nên theo thời sửa đổi. Như thế, [một khi]
quan chính đính thì dân chẳng ai dám chẳng chính đính” (69). Nguyễn Tri Phương
trong nhận thức chín chắn và trong bản phúc tâu chính thức
đệ trình lên vua của ông là thế, chứ đâu phải là “Nguyễn Tri Phương trung dũng có thừa mà cơ mưu phương lược hoặc thiếu”! Nguyễn
Văn Tường gạch bỏ, chữa lại những nhận xét sai lầm của ông.
Ông quyết định bỏ hẳn những gì ông nhận xét về Trần Tiễn Thành, Phạm
Phú Thứ, nhất là sau khi nghe tin Phạm Phú Thứ (và cả Vũ Khoa) đang dính
líu về một vụ bê bối về của cải, tiền bạc, bị vua Tự Đức quở
trách rất nặng, bị đình thần nghị xử, xét án (165)! Bất chợt Vũ Trọng Bình
cất tiếng hỏi: - Quan tán lí nhận thấy
thế nào về sự đình lại việc cho tàu đi thám xét tình hình mọi mặt
ở các nước phương xa hằng năm (11)? Lại
nghĩ sao về việc Cơ mật viện và Thương bạc xin mở ba cửa biển
Đà Nẵng, Ba Lạt, Đồ Sơn (166)? - Riêng việc mở cửa
biển, đình thần có đình nghị lại, phân tích ra năm điều lợi, tám điều
khó. Quan lớn cũng đã biết. Tôi cũng có nhiều suy nghĩ. Theo tôi, sự
phân vân của đình thần trên cơ sở phân tích điều lợi, điều hại
như thế là có lí của nó. Không ai không biết cần phải thông thương với
nước ngoài mới học được cái hay của họ, thấy được cái dở của họ,
cũng như ta có dịp để tự xét lại mình, hay ở đâu, dở ở đâu. Không
ai không biết “không tiến bước ắt bị
lùi, bị tụt hậu”, chính vì tụt hậu thua Âu Mĩ về công nghệ cơ
khí, nhất là vũ khí, nước ta và các nước quanh ta mới ra nông nỗi nhục
nhã này! Phải thông thương, Âu Mĩ đến nước ta, ta đến các nước Âu Mĩ.
Biết vậy, nhưng thế nước của chúng ta hiện nay quá yếu về quân sự,
đang bị “hoà” ước Nhâm tuất (1862) bó buộc, dân ta lại bị ức chế
quá lâu dưới chủ trương “nông vi bản”,
“trọng nông ức thương”, “trọng hư
văn, khinh thực học”, cho nên, buôn bán với Âu Mĩ, trao đổi kiến
văn, kĩ thuật công nghệ với Âu Mĩ, ta quá lúng túng, bối rối, nhút
nhát! Ta chỉ nói đạo lí, trí thuật suông thì cạnh tranh với súng thép,
tàu đồng, đồng hồ, xe máy (xe đạp)… của chúng sao được! – Tán lí
Nguyễn Văn Tường cười chua chát –. Ta kiệt quệ về vũ lực quân sự,
thiếu thốn vốn liếng, của cải, lại bị thằng Pháp bức hiếp, chiếm
Nam Kì, chúng lại đang gây hấn để chiếm Bắc Kì, thì mở cửa biển
giao thông, thương mại với “năm điều lợi,
tám điều khó” (166) không cấp bách bằng việc suy nghĩ cách đuổi Đồ
Phổ Nghĩa (Jean Dupuis)… Triều đình gác việc mở cửa biển là bởi xét
thấy khó khăn nhiều hơn thuận lợi, và trước mắt là vì vụ Jean Dupuis
đang xảy ra như thế! Bọn Pháp, bọn “tả đạo”, bọn giặc Cờ, bọn
phỉ Bắc Kì có cho ta yên đâu! - Còn việc hồi tháng
mười một năm Tự Đức thứ hai mươi bốn (1871), thị sư Lê Tuấn xin
bán ruộng công bỏ hoang cho dân giàu khai thác thành ruộng tư (167)? - Quan lớn cứ hỏi như
thể sát hạch để tiến cử tôi chắc? – Tán lí Nguyễn Văn Tường cười
lớn –. - Không dám vậy đâu.
Nhân tiện cũng chuyện trò với nhau cho vui. Tôi tiến cử quan tán lí được
thì còn gì vui bằng! – Vũ Trọng Bình chân thành nói –. “Tiến cử được người hiền, sẽ được thưởng hậu; che giấu
người hiền, sẽ bị giết”. Đức vua vẫn
thường ra chiếu cầu hiền với câu nói của cổ nhân ấy… Nhưng, vấn
đề bán ruộng công thành ruộng tư, quan tán lí hẳn phân vân? - Thị sư Lê Tuấn bấy
giờ đã được sung làm kinh lược sứ Bắc Kì. Lúc đó quan thị sư họ Lê
có nói: “… Hiện nay quân phí rất nhiều, mà các tỉnh Bắc Kì sau khi bị lụt,
thuế khoá đã giảm, khuyên người quyên tiền ra cũng khó. Duy có cách
nhân lòng người ai cũng hám lợi mà khơi ra, thì mọi người tất vui theo,
mà nhà nước cũng lợi, hoặc có thể giúp vào quân nhu…” (167).
Thật ra, hồi tôi còn làm phủ doãn kinh sư, tôi có đệ tập sớ lên vua,
chung nhất vẫn là chủ trương “hạn điền”
(168), tài chủ (địa chủ, người chủ cho vay, nhận cầm cố) chỉ được
sử dụng đất trong phạm vi năm mẫu Trung Kì mà thôi. Phải “hạn điền”,
nếu không thế, dân nghèo sẽ
thiếu đất, mất đất canh tác, sẽ khốn đốn. Phải cho dân nghèo
và binh đinh (binh lính, tráng đinh) có đất làm vốn, không canh tác nổi
vì thiếu tiền thì vay vốn công hoặc cho làm rẽ (gặt xong chia đôi)
(168). Cách suy nghĩ “chứa giàu của nước
vào người giàu” (166), “dân giàu là
mẹ dân nghèo” (169) e rằng phải
xem lại! Tóm lại, theo cách đề xuất của quan kinh lược Lê Tuấn,
trước mắt là để ruộng khỏi bỏ hoang, Nhà nước có thêm ngân sách để
giải quyết quân nhu… Nhưng về lâu về dài sẽ rất phức tạp. Dân
nghèo khốn đốn thì loạn lạc liên miên! Vừa rồi, thời điểm giáp hạt
“tháng ba ngày tám”, năm Tự Đức
thứ hai mươi lăm (1872), quan lớn với tôi cùng đi phát chẩn cho dân
đói, điều tra và trừng trị nhũng lạm, cường hào ác bá đấy mà (170)! Tán lí Nguyễn Văn Tường
hiểu rõ, một nguyên nhân lớn của các vụ nổi loạn tại Bắc Kì, ngoài
những điều lâu nay ông cùng các quan đồng sự thường xuyên suy tư, còn
có vấn đề ruộng đất. Cái đói của dân nghèo, sự nhũng lạm, bức hiếp
của quan chức, cường hào ác bá là rất dễ bức xúc, rất dễ bị bọn
phỉ, bọn “tả đạo” mị dân xúi giục, kích động… 18 Tháng năm nguyệt lịch
năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quý dậu (1873) ấy, tán lí
Nguyễn Văn Tường nhận được sắc chỉ triệu về kinh đô Huế. Thế là
gần tròn năm năm ông ra Bắc với nhiệm vụ tiễu phỉ, lo việc yên dân. Nguyễn Văn Tường được
biết, từ tháng giêng năm nay, tướng Pháp tại suý phủ Gia Định đã trao
thư cho triều đình, với nội dung thư là vẫn một mực khăng khăng yêu cầu
phải lập “hoà” ước mới. Đó là điều vào năm
Nguyễn Văn Tường còn làm khâm phái bang biện Thành Hoá, lúc ông được cử
sung vào sứ bộ đi châu Âu, ông đã phản đối kịch liệt bằng bản sớ
tháng ba Mậu thìn (1868). Tán lí Nguyễn Văn Tường
còn nhớ rất rõ, trong bản tấu đề ngày tám tháng ba nguyệt lịch, năm Tự
Đức thứ hai mươi mốt, Mậu thìn (1868) ấy, chính ông đã nói rõ ý kiến
của mình: “Người Phú kia từ
trùng dương đến đây, có chỗ cậy trông từ trước, mà cơ trí lại tham lam, giảo quyệt,
sánh với Hung Nô, Khiết Đan thì càng hơn hẳn… Ngày nay tình thế cũng
như vậy. Nó quỷ quyệt đã hơn mười năm nay mà triều đình trên thì
không thể xem thời, xét thế, như cánh thuyền phân vân, cứ uỷ suông cho
chủ [: nhà vua] lo lắng, việc tự cường tự trị nói rồi lại bỏ, trù
liệu thì chẳng tiến triển, không biết lòng của các bề tôi như thế nào…
Vả lại, từ xưa, muốn cho nước mạnh, chưa từng không chú ý đến binh
lực, của cải hai điều. Thần xin chuẩn
cho đặt kho nghĩa thương, để dành binh lương, bắt dân dõng bảo vệ
làng xóm. Nhưng làm không lâu lại bỏ.
Nay kẻ chăn dân, dạy chữ, nhiều người mất chức, không biết lấy
gì để kêu gọi hoà hợp dân sinh. Kẻ cầm binh thì không biết yêu thương
nuôi dưỡng. Việc công dịch, thuế khoá, sĩ tốt đã có lời oán hận.
Ở Bắc Kì thì giặc cướp lộng hành. Kinh sư có dạy nghiêm thì binh dân
lìa nhau mà dễ lầm lạc. Từ đó hiện tình thật đáng lo sợ. Nếu không
lo điều ấy, thì bề tôi dẫu có tận tụy với chức vụ sổ sách, hoặc
chỉ đem lời nói suông mà phê phán giặc mạnh, thì việc nội trị cũng
ngày càng sai lầm, tương lai biết thế nào! Thần ngu dại không dám trù liệu
ngược ngạo, chỉ đến khi Nam Kì đã cắt hết đất, muốn cùng đỡ đần
để tự giữ thì thế lực cũng khó đương, muốn bồi thường tiền của
để giữ yên ổn thì lòng địch chưa chán. Năm tháng trôi qua, sự thế
ngày càng xô bồ, đến thế thì lấy gì để an uỷ sự linh thiêng của Liệt
Thánh, đáp tạ sự trông mong của sĩ dân. Thần tuy chức phận nhỏ nhoi, cũng
là quan lại của hoàng thượng, suốt đêm lo nghĩ không chịu nổi xúc động. Người xưa nói rằng,
chiến rồi sau mới thủ được, thủ rồi sau mới có thể hoà được, cũng là chỉ cái thế lực
tương đương vậy. Như nay, xem xét tình thế hiện tại của ta và
nó, thần xin nói rằng: hoà để thủ, thủ để mưu chiến mới hợp cơ
nghi, mà may mắn mới không sai lầm. Xin nguyện: hoàng thượng vững vàng
duy trì sự giao thiệp với nước lân bang, có đường lối, dần dần bày tỏ sự thành thực sửa đổi việc nội
trị, không quên điều nhục nước, thận trọng chọn người chăn dân, cầm
binh, lo nuôi dưỡng dân, chiêu hiền, ắt như Hán Cao tổ vào đất Ba
Thục, tiết giảm của dùng, công dịch, việc sinh tụ, dạy dỗ, ắt như Câu
Tiễn ẩn nhẫn ở Cối Kê, trên dưới một lòng, tôn thân, hiền sĩ giúp
đỡ hoặc có thể đợi vận trăm năm của triều đình, để duỗi cái uy trong nước. Thần tuy
hèn kém, dâu dám tiếc cái sống thừa…” (171). Tán lí Nguyễn Văn Tường
bấy giờ cũng đã hứa với vua Tự Đức rằng: “Nếu gặp lúc quan hệ, thần muôn vàn không
dám làm kẻ bên lề
ngồi xem thành bại, chỉ khư khư một tấm lòng đau khổ” (châu bản,
tấu, 01.11, Giáp tuất, 1874) (171). Tán lí Nguyễn Văn Tường
từ lâu đã quá rõ, thực dân Pháp “là cọp đói, ưng đói chẳng chịu bỏ miếng mồi
ngon” (châu bản, tấu, 10.8 Quý dậu, 1873) (171), và “mọi rợ là mối lo, từ xưa đã có, nhưng chưa có mọi rợ nào như người Phú”
(châu bản, tấu, 22.3 Mậu thìn, 1868), “người Tây xảo trá trăm mối, việc nghe đoán càng phải thận
trọng” (châu
bản, tấu, 06.2 Mậu thìn, 1868) (171),
“bọn Tây dương tính tham, chấp theo điều
lợi; ấy là tìm được rồi lại sợ mất đi; thật là khó lấy
nghĩa lí, trí thuật làm lay chuyển nó
nghe theo” (châu bản, tấu, 06.2 Mậu
thìn, 1868) (171). Cũng trong bản sớ
dâng lên vua Tự Đức, ông từng viết rõ: “Người Phú kia đã
chiến thắng ta, việc đánh giữ khổ biết bao, mà vẫn đòi ta cùng thề?!
Bởi vì nó từ trùng dương mà tới, chễm chệ ở đất ta, bên trong thì sĩ
dân ta chống lại, bên ngoài thì các nước
vây quanh dòm ngó, ăn ngủ sao yên, cho nên ắt phải đòi ta kí hoà ước,
để khiến cho ta phải chịu đè nén, lấp đường công luận của các nước,
mà cô lập tình trông mong của sĩ dân ta, tiện cho nó từ từ xử trí. Điều
đó là sự khu xử giảo hoạt của nó. Nếu không thế, sao năm trước hoà
ước phân minh, mà nay phó hoàn toàn cho hư văn, lại còn đòi sửa lại”
(171), (172). “Đánh thì việc đã qua, không dám nói lại.
Hoà như nay thì có gì để trông cậy?… Vả, không lo bọn giặc
ngang ngược, chỉ lo ta không thể tự cường,
không lo bọn giặc tham tàn chỉ lo ta không thể tự giữ… Kinh sư là đất căn bản,
đồn luỹ đã vững chăng? Khí giới đã tinh chăng? Chí quân lòng dân đã
được khích lệ chăng? Đường lộ, đường thủy, phòng bị đã vững khắp
chăng? Tỉnh Bình Thuận đương xung yếu, các tỉnh đạo khác cũng có hải
phận, quân lương binh lính làm thế nào cho tinh và đủ? Hào mục, sĩ dân
làm thế nào cho cố kết và chuyên luyện? Nơi nào hiểm yếu cần phải giữ?
Phép phòng thủ nào tất vững? Hoặc đặt riêng chuyên viên để uỷ thác
công việc, hoặc chọn cử thổ hào các nơi để cho quen thuộc. Phàm những
điều ấy tưởng cũng nên xét kĩ, trù liệu chín chắn và sớm thi hành để
khỏi trở ngại về sau” (172). Nhưng đến nay, sau năm
năm dài, “đình thần bàn [luận], cho là việc [yêu cầu phải lập “hoà” ước mới]
ấy, sợ không phải ý của quốc chủ ấy [tại nước Pháp], xin cho ngay sứ
sang Tây [:Pháp] hỏi rõ; [khi sứ bộ] trở về, hãy tính liệu” (173). Vua
Tự Đức suy nghĩ, và cũng cho là phải. Nhà vua bèn xuống dụ triệu
kinh lược sứ Bắc Kì Lê Tuấn, tán lí quân vụ Nguyễn Văn Tường, và
quan viên sung Nội các (đang về quê cư tang cha, nuôi mẹ ốm) tên là Trần
Hy Tăng, cả ba người đều phải vào kinh, chầu yết (173). Nguyễn Văn Tường về
Huế, chỉ kịp ghé thăm nhà vợ con ở cửa Đông Ba và ở Bao Vinh, chưa kịp
ra thăm làng quê An Cư và quê hương thứ
hai là Thành Hoá (Cam Lộ) ở Quảng Trị, ông đã phải cùng kinh lược sứ
Bắc Kì Lê Tuấn vào hoàng thành chầu yết vua Tự Đức. Sứ bộ thiếu mất
một người, đó là Trần Hy Tăng, con trai Trần Doãn Đạt (174). Từ quê
nhà Vị Xuyên, Mỹ Lộc, Nam Định, Trần Hy Tăng đã đệ gửi sớ vào
kinh, xin nhà vua cho phép được giữ trọn chữ hiếu, vả lại, đang lúc
đau buồn vì tang cha, mẹ ốm, sợ không đủ tỉnh táo làm lỡ mất việc
lớn. Tháng sáu nguyệt lịch,
chưa đến tháng sáu nhuận năm ấy, vào một ngày hạ tuần, nhà vua ngự
ở Điện Văn minh, vẫn với hoàng phục như những lần trước: khăn đóng
đội đầu màu vàng, áo và quần đều bằng gấm vàng, giày cũng màu
vàng. Vua có phần già đi, chòm râu đã chớm bạc. Vua Tự Đức muốn hỏi
chuyện từng người một. Kinh lược sứ được vời vào
chầu yết trước. Nhà vua hơi băn khoăn về chứng bệnh hầu tì (yết hầu,
lá lách?) không quan trọng lắm (175) của
Lê Tuấn, nhưng yên tâm về năng lực học vấn của ông. Nhà vua bảo
Lê Tuấn đến Thái y viện để được bắt mạch, bốc thuốc. Vua còn có
sắc chỉ ban ngự dược (thuốc thang vua dùng) cho ông. Kinh lược sứ Lê Tuấn
hết sức xúc động, cảm kích. Sau khi kinh lược sứ Lê
Tuấn ra, tán lí Nguyễn Văn Tường được thị vệ truyền chỉ mời vào.
Đợi ông thi lễ xong, vua Tự Đức mỉm cười nói: - Nguyễn Văn Tường,
sau năm năm, trẫm cũng mừng cho ngươi vẫn được khoẻ. - Muôn tâu hoàng thượng,
thần kính đa tạ sự quan tâm của hoàng thượng. - Trần Tiễn Thành lần
này tiến cử ngươi sung vào sứ bộ. Đó cũng là ý trẫm và đình thần.
– Trong khi nhà vua nói, Nguyễn Văn Tường hơi khẽ giật mình, ông cứ ngỡ
người tiến cử vẫn là Vũ Trọng Bình –. Nguyễn Văn Tường, đấy cũng
là do sự tiến cử của Vũ Trọng Bình, người đã sát cánh với ngươi
năm năm nay! Bây giờ Nguyễn Văn
Tường mới hiểu ra. Thấy vua ngừng lại, ông nói: - Muôn tâu hoàng thượng,
thần kính đa tạ. Nhưng cứ sợ phụ ân tri ngộ của hoàng thượng và hai
quan đại thần họ Trần và họ Vũ cùng sự quan tâm của đình thần. Sau một vài câu thăm hỏi
đầu câu chuyện như thế, vua Tự Đức bất giác trở lại với nỗi âu
lo cố hữu: - “Việc ở biên giới
Bắc Kì sao lâu mãi chưa xong?” (176). - “Bọn giặc chỉ ở
thượng du, [ấy là] nơi nước độc, lam chướng nhiều. Quân đi phần nhiều
nhiễm bệnh. Muốn cố gắng tiến lên, [quân ta] không khỏi thiệt hại.
[Việc cứ phải trì trệ,] để mãi chưa xong là vì cớ ấy!” (176). - “Quân nước Thanh,
kĩ nghệ có gì hơn ta, mà làm được cho giặc phải sợ?” (176). Tán lí Nguyễn Văn Tường
tâu lên vua về súng ống của bọn giặc Cờ như ông đã thấy rõ, đã chạm
súng, đã suy nghĩ, nhận định, khi còn ở trên chiến trường. Đó là bọn
giặc được Anh, Pháp và các nước Âu Mỹ viện trợ, bán chác vũ khí tối
tân nhất của thời hiện đại. Sau đó ông mới trả lời trực tiếp vào
câu hỏi của vua Tự Đức: - Muôn tâu, thật sự kĩ
nghệ vũ khí của quân Thanh chẳng hơn gì quân ta. Về binh pháp với kĩ thuật
luyện quân, hành binh cũng không có gì để ta phải thua kém. Duy “quân nước Thanh phần nhiều chiêu mộ người ở ven biên giới.
[Những người sơn cước ấy] thì ra vào nơi suối rừng, xông pha lam chướng
rất quen, không như quân ta phần nhiều không quen [địa hình, lam chướng
ở chốn đó]. [Quân ta] khi vào các đường, lối hiểm xa, chẳng qua năm,
ba ngày, liền nhiễm bệnh ngay. [Do đó quân ta] đánh dẹp không mong được
việc, nên không làm cho chúng phải sợ” (176). - “Đời xưa dùng
binh, không quá ba năm, nay đã qua bốn, năm năm, [mà] đánh dẹp vỗ về
không xong. [Hiện thời] tiền của thiếu, sức lực hết, hầu làm thế
nào để cho được việc?” (176). - Muôn tâu, “việc ấy bọn thần đều đã hết lòng, nhưng
[tình] thế [, kể cả thế lực quân binh
ta,] không thể làm được”. - “Mong cho yên một phương
ấy, để tiện chú ý mưu toan việc khác, không ngờ [lại] kéo dài đến
thế! Thực rất để tâm lo ngại !” (các câu đàm thoại, trích ĐNTL.CB., tập 32)
(176). – Vua Tự Đức cau mày, buồn bực –. “Lại như Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình làm như thế nào mà đều không
công hiệu? Đoàn Thọ trị chức cũng không phải nhỏ, cớ sao chẳng có khả
năng? Trẫm thường than thở: Biết dùng người thậm khó!”
(châu bản, châu phê của vua Tự Đức, 07.6 nhuận, Quý dậu, 1873) (171). Nhà vua khẽ thở dài.
Nguyễn Văn Tường cũng không biết tâu tiếp điều gì để chia sẻ với
nhà vua. Nhà vua bỗng khẽ hỏi: - Trẫm nghe kinh lược
sứ Lê Tuấn nói, nhà ngươi có sáng tác mấy chục bài thơ chiến trường
trong năm năm vừa qua. Lắm người bảo trong tập thơ ấy, có nhiều bài hoặc
có câu, có đoạn đạt đến mức tinh diệu. Nguyễn Văn Tường, ngươi có
thể cho trẫm xem bản thảo hoặc chép cho trẫm một bản không? Tán tương Nguyễn Văn
Tường hơi giật mình: - Muôn tâu, thần thật
không dám tự đánh giá thơ của thần ra sao, chỉ sợ rằng hoàng thượng
chê trách… – Ông cảm thấy hơi ngại ngần –. … Nhưng… thần xin vâng
lệnh kính trình lên hoàng thượng ngự lãm. Thần thật cũng không ngờ
quan kinh lược Lê Tuấn lại tâu lên hoàng thượng về tập thơ của thần. Tán tương Nguyễn Văn
Tường được phép thi lễ và lui ra. Sau đó, vua Tự Đức bảo
thượng thư Trần Tiễn Thành và các quan trong Bộ Binh: - “Gần đây có thị vệ đi đến các quân
thứ về tâu: Giặc nước Thanh ở biên giới Bắc Kì phần nhiều dùng
súng giống như súng thần công mà dài hơn, không có cỗ xe, chỉ một người
vác, một người bắn, và [chúng còn dùng] súng lục kiểu Tây bằng đồng,
cho nên bắn ra được nhanh chóng. Không biết mua được ở đâu [, bọn Âu
Mỹ có bán ở nơi nào]? Các quân thứ nếu có thu được hạng súng ấy của
giặc, thì [thông] tư [vào] Bộ, [Bộ cho người ra] đưa về để xem, để
tiện kịp lần này cho mua, để dùng” (176). Kinh lược sứ Lê Tuấn
lại được nhà vua triệu vào Điện Cần chính để hỏi tình hình và
nhân sự ngoài Bắc Kì một lần nữa. Đặc biệt, vua Tự Đức hỏi về
năng lực, phẩm cách Hoàng Tá Viêm và Lê Hữu Thường (176). Nguyễn Văn Tường
cũng được triệu vào Điện Cần chính để vua Tự Đức hỏi về nhân sự. Nguyễn Văn Tường đã
thấm thía hiểu về việc bổ nhiệm, sắp xếp nhân sự. Không có người
đảm đương việc quan trọng nhất trong các việc quan trọng ấy, là sẽ
không đâu vào đâu! Nguyễn Văn Tường đã quyết định viết trong bản phúc
tấu, đệ trình lên đức vua, mong đức vua sẽ điều Vũ Trọng Bình về
kinh, trao cho ông quyền nắm giữ Bộ Lại như trước. Có như thế mới chấm
dứt được mối tệ tham nhũng trong bổ nhiệm quan chức, mới thật sự tránh
được trường hợp bổ nhiệm không đúng người, đúng việc (30). Và Nguyễn
Văn Tường đã gửi bản phúc tâu ấy lên vua. Tiếp đó, đình thần
cùng nhà vua cho triệu hồng lô tự khanh Nguyễn Tăng Doãn (người xã Câu
Nhi, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) (177) về kinh, sung vào sứ bộ với
chức vụ tham biện. Như vậy, chánh sứ là Lê Tuấn (người xã Hà Trung,
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh), và phó sứ vẫn là Nguyễn Văn Tường. Nguyễn
Văn Tường được tạm hàm tham tri. Sứ bộ sang Pháp đã được tổ chức,
hình thành. Nhưng trước khi sang Pháp, sứ bộ phải vào Gia Định để cùng
toàn quyền đại thần Pháp quốc Du Bi Lê (Dupré) sơ bộ hội định “hoà”
ước (178). Nguyễn Văn Tường và
hai vị trong sứ bộ nhận thức rất rõ khó khăn trong đàm phán: Làm thế
nào để đuổi tàu thuyền Jean Dupuis và tàu Bourayne khỏi Bắc Kì một
cách êm thắm, không khích biến để khỏi sa vào mưu kế gây hấn của thực
dân Pháp? Làm thế nào cho Pháp chịu trả cho ta một hoặc hai tỉnh Nam Kì?
Sứ bộ nay mai ra đi với
hai bàn tay trắng về quyền hạn, chưa được cấp ấn và sắc chỉ trao chức
năng toàn quyền. Như thế, nhưng Nguyễn Văn Tường và hai sứ thần kia lại
thấy thật yên tâm. Như thế, nhà vua và triều đình cũng yên tâm. Sứ bộ
chỉ có nhiệm vụ đấu tranh cho thắng lợi, đạt cho được mục tiêu vua
và triều đình giao phó, còn quyết định cuối cùng, vẫn là lúc nhà vua
và triều đình trao ấn và sắc chỉ toàn quyền cho sứ bộ. Đất nước đang trong
bước ngoặt cam go, đầy thách thức của thời thế! Ông lại suy nghĩ về
những gì nhà vua yêu cầu ông tâu rõ. Ông viết vào tập tâu
đang viết: “Phận tuy nhỏ nhưng
được ân tri ngộ như thần cũng hiếm. Thần mỗi khi tự nghĩ đều thấy mình vô tài, mà
sứ mệnh lại hỏng, sợ khó mà báo đáp cho xứng với trọng trách. Cho
nên từ lúc giúp việc binh tào cho đến lúc lạm dự kinh doãn, nhiều phen
muốn trần tình xin giữ vụng để may mà khỏi phụ ơn ban. Rồi lần lượt
được hoàng thượng thức tỉnh, cân nhắc cho. Sấm sét hay mưa móc thảy
đều ngụ ý sinh thành. Thần như thế chỉ biết cúi đầu tỏ bày sự ngu
muội, mong càng thấu cho sự cảm kích, nỗ lực. Tuy phong trần đã trải,
nhưng còn được thân này, danh và thực đều nhờ hoàng thượng gầy dựng
vậy. Nay đi Tây, đã vâng lời giản uỷ, lại vâng hỏi đến nhiều điều
trọng sự. Thần là thế nào mà được quyến cố tin tưởng, dù lạm dự
chứ chẳng là phận sẵn, thì biết báo đáp thế nào cho xứng đáng. Thần xin dám quyết
tâm, xin mạo muội tâu bày” (châu
bản, tấu,
07.6 nhuận, Quý dậu, 1873) (171). Nguyễn Văn Tường lại
trăn trở suy nghĩ : “Trộm xét các nước Phương Tây thường chuộng
công lợi, tham lam, giảo quyệt, mà nước
Phú [Pháp] và nước Anh là nhất. Các nước Đông Phương ta gặp lúc này
khó tiến. Đại Thanh, Nhật Bản, Cao Ly, Xiêm La, Cao Miên, Miến Điện đều
bị chúng lộng hành. Ta cũng bị như thế… Hiện nay Gia Định thuế phiền,
sưu nặng, dân không đường sống, thì việc nổi dậy cũng chưa biết ngày
nào… Lục tỉnh là đất phì nhiêu đã rơi vào họng đói của nó, tự
không phải là thế bị bức bách [đến mức vô phương], mà chính là lực
không đủ để nó nhả ra” (châu
bản, tấu, mười… tháng 8 Quý dậu, 1873) (171). “Cốt yếu ở chỗ ta
phải có thế không thể xâm phạm, sau đó mới lấy lẽ không thể
dung tha được để trách người” (châu
bản, tấu, mười… tháng 8
Quý dậu, 1873) (171). Làm thế nào để đuổi
tên Jean Dupuis với tàu thuyền của hắn cùng tàu Bourayne của bọn quân
lính thực dân Pháp khỏi Bắc Kì, trong khi dã tâm của chúng từ nhiều năm
nay là thăm dò, điều nghiên thực địa, lợi dụng bọn phỉ các loại nhằm
làm ta kiệt quệ, và cuối cùng là gây hấn để xâm chiếm? Làm thế nào đủ lực
để bọn thực dân Pháp nhả ra dù chỉ một hoặc hai tỉnh Đó là những gì ông
đã viết, đã đệ trình lên vua Tự Đức và cả những gì vẫn còn ở dạng
ý nghĩ, ghi chép trong bản nháp với bao khắc khoải, trăn trở. Ngày mười sáu, tháng
sáu nhuận, năm Quý dậu (1873) ấy, phó sứ Nguyễn Văn Tường cùng chánh sứ
Lê Tuấn, tham biện sứ bộ Nguyễn Tăng Doãn cùng đoàn tuỳ tùng, trong đó
có linh mục Nguyễn Hữu Cư (còn gọi là Thơ) làm thông ngôn, đã đi thuyền
xuống cửa biển Thuận An, để lên tàu thuỷ lớn chạy bằng hơi nước vào
Gia Định.
TRẦN
XUÂN AN
(145)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 157. (146)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 176 – 177. (147)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 185 – 186. (148)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 224 – 227. (149)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 253 – 255. (150)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 258. (151)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 257. (152)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 256. (153)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 272. (154)
ĐNTL.CB., tập 32,
sđd., 1975, tr. 219. |