TRẦN
XUÂN AN
Truyện kí thứ hai 1 Người đàn ông khoảng
năm mươi tuổi, dáng vẻ tiều tụy, gương mặt tái xanh đầy
vẻ bệnh hoạn, dè dặt ngồi xuống chiếc ghế trường kỉ bằng gỗ cũ
đã lên nước nhưng không một đường nét chạm trổ, sau khi đan tay xá
chào vị thầy thuốc trẻ tuổi. - Bác cứ tự nhiên.
– Thầy Tường nhìn người bệnh, ân cần nói –. Thầy Tường giấu cái
giật mình, khi trông thấy một bên má, chỗ gần vành tai, hai chữ “tả đạo” bị khắc xăm rõ nét. Anh cố
giữ cái nhìn đừng có vẻ soi mói để người “dữu dân” ấy khỏi chạnh
lòng. - Bác thấy trong người
ra răng? - Dạ, bẩm thầy,
không ngủ được, cũng không ăn được nhiều. Thầy Tường nhìn vào
đôi mắt ông ta, trông hơi lờ đờ. Anh lại hỏi các triệu chứng bệnh. - Bác cho tôi xem mạch. Vén cổ tay áo, người
bệnh duỗi ngửa cánh tay trên mặt bàn. Ngón trỏ và hai ngón kế đặt vào
mạch, ngón thứ tư là ngón cái kềm phía dưới cườm, thầy Tường lắng
nghe, tất cả tinh thần đều tập trung vào cảm giác ở đầu ba ngón tay.
Anh khẽ nhíu mày suy nghĩ. - Bác bị bệnh đã
khá lâu, sao không sớm chữa chạy! - Dạ, bẩm thầy, tôi
bị phân tháp. Bệnh, yếu quá, may mới được phóng thích. Thầy Tường ái ngại,
không biết nói gì. Sau khi đã nhìn sắc diện, hỏi triệu chứng, bắt mạch,
người thầy thuốc trẻ nhưng rất có uy tín ở huyện lị Đăng Xương này
cầm ngọn bút lông kê đơn. - Bác qua quầy kia lấy
thuốc. – Thầy Tường đưa phái thuốc cho người bệnh –. Uống thuốc và
nhớ thắp hương cho ông bà tổ tiên. Người đàn ông hơi chạnh
lòng, đứng dậy, đan tay chào, không nói gì. - Bác nhớ đó, phải vừa
uống thuốc, vừa thắp hương cho ông bà tổ tiên. Quên uống thuốc hoặc
quên ông bà tổ tiên thì không lành bệnh được đâu! Xin thành khẩn với
bác như thế. – Với tấm lòng của một nhà nho trẻ lỡ vận trên đường
khoa cử, thầy Tường khẽ nói –. Người đàn ông bị gọi
là “tả đạo”, “dữu dân” đã hiểu
ý. Ông ta lặng thinh làm dấu thánh, trong khi quay bước, chầm chậm tiến tới
chỗ quầy thuốc bắc, thuốc nam. Phía sau quầy, trước một dãy kệ để
đầy các thùng thiếc, hộp gỗ, hũ sành, thẩu thuỷ tinh có dán những mảnh
vuông giấy điều, trên đó viết chữ Hán, chữ Nôm bằng mực xạ đen, là
một cụ già quắc thước, mái tóc đã thưa với búi tó đã nhỏ lại, bạc
trắng. Thầy Tường ái ngại
nhìn theo người bệnh ấy. Rồi anh lại tiếp tục bắt mạch, kê đơn cho
người bệnh tiếp theo. Sau bốn năm trời miệt
mài, say mê học y lí về người và bệnh, học dược tính
các loại thuốc, đồng thời học kinh nghiệm điều trị qua thực tiễn hằng
ngày với những thầy thuốc già ở Huế, Tường đã trở thành một lương
y trẻ nổi tiếng ở quê nhà. Sáu tháng nay, anh ở hẳn trong tiệm thuốc bắc
này và cùng cụ chủ tiệm già đang bốc thuốc, cân đếm, gảy bàn tính
kia phối hợp trong nghề y dược. Bốn năm trời học nghề thuốc ấy, Tường
cũng không hề xao lãng thi thư kinh sử. Hơn nữa, ở Huế, Tường càng có
dịp tìm đọc các cuốn sách quý trong các tủ sách gia đình và tìm mua
được ở hiệu sách lớn của kinh đô. Bốn năm trời, Tường đã chín chắn,
trầm tĩnh, uyên bác hơn xưa đến mức anh cũng không ngờ. Lúc này, với
chiếc khăn đóng trên mái tóc bối tó, trong chiếc áo the đen, ngồi bắt mạch,
kê đơn cho bệnh nhân từ các làng thôn ra Ái Tử, lị sở của huyện, ở
gương mặt trắng trẻo, đẹp một cách cương nghị, toát ra vẻ trang
nghiêm. Đó là vẻ trang nghiêm thân ái, ân cần, khiến người đối diện
vừa kính nể, vừa cảm thấy dễ gần gũi. Khi viết phái thuốc cho người
bệnh là một người đàn bà có lẽ ở tuổi bốn mươi xong, thầy chợt
nghe chú nhỏ đi theo mẹ hình như không thể kìm chế được nữa, buột miệng
nói: - Mạ, khi hồi có ông
“tả đạo” vô đây! Bà mẹ nhăn mặt: - Kệ người ta! Có
quan, có lính, việc chi con! Họ nghe được, sinh chuyện thêm phiền. – Bà
mẹ đang bệnh vẫn mắng khẽ con trai, áy náy muốn xin thầy thuốc thứ lỗi
–. Dạ, cháu nó còn con nít, tò mò, nói bậy… Dạ, xin thầy cảm phiền… Bà mẹ bối rối bước
về phía quầy thuốc, sau khi thầy Tường lắc bàn tay mở ra, đưa lên, với
nụ cười tỏ ý không có gì đáng trách trẻ con cả. Người bệnh kế tiếp
là một cụ ông trông không đến nỗi trầm kha lắm, cũng buột miệna! - Bẩm thầy, tháng ba vừa
rồi, Tây gây sự ở Đà Nẵng, cũng vì bọn “tả đạo” nớ đó! Thầy Tường gật đầu
nhưng lại nói: - Tất cả là do bọn
Tây dương! Nổ súng, truyền “tả đạo” cũng đều do Tây cả. Mình là
người Việt với nhau, thương cho người mình nhẹ dạ, cũng trách là người
mình trót nhẹ dạ, thậm chí mê muội mất rồi. Triều đình đã hết thuốc
chữa! – Quên vẻ trầm tĩnh, thầy thuốc trẻ hơi đanh giọng, và chợt
biết phải ngừng lại –. Nhưng, thôi… Người Việt mình còn bệnh, bệnh
thiếu ăn, thiếu mặc, bệnh thiếu súng thép, tàu đồng… Ồ, thôi… Cụ
cho tôi hỏi bệnh đã. Rứa cụ cảm thấy bệnh trong người ra sao? Nhìn sắc diện, hỏi
han, lắng nghe, thăm mạch, kê đơn, vị lương y trẻ ân cần trong công việc
của mình. Thầy Tường cũng lắm khi gặp những nỗi đời, niềm thời sự,
những dự cảm, báo động về vận nước. Đó là một buổi
sáng trong một ngày đầu mùa hè năm Thiệu Trị thứ bảy (1847), năm đã xảy
ra vụ thứ hai thực dân Phú Lãng Sa (France) khiêu khích triều đình, sau vụ
đầu tiên cách đây đã bảy năm, hồi nhà vua đương kim mới lên nối
ngôi! Lần này, chúng bắn chìm đến năm chiếc thuyền binh của nước ta
cũng tại Đà Nẵng, rồi bỏ chạy ra khơi xa (1)! Không thể không thao thức,
suy tư, thầy thuốc đông y Nguyễn Văn Tường còn nghe dậy lên trong lòng
khát vọng dấn thân, nhập thế bằng hành động mạnh mẽ hoặc tích cực
hơn của nhà nho. Có điều, kẻ sĩ Nguyễn Văn Tường vẫn chưa được ban
sắc chỉ xoá án “bất đắc ứng thí”!
Thầy vẫn ân cần, ẩn nhẫn, lặng lẽ trong công việc y dược của mình.
Sinh ra đời bảy ngày sau Tết Trung thu tháng tám nguyệt lịch năm Giáp
thân, Minh Mạng năm thứ năm (1824), đến nay, Nguyễn Văn Tường đã hai mươi
bốn tuổi, kể cả một tuổi trong lòng mẹ. Trải qua đằng đẵng mười
tám năm đèn sách, đã một lần đỗ tam trường (tú tài) nhưng bị truất,
đến giờ, thầy thuốc trẻ này vẫn trắng tay khoa cử, không một mảnh bằng
cấp, học vị của triều đình! 2 Ngày quý mão, hai mươi
bảy, cuối tháng chín lịch mặt trăng Đinh mùi (1847) năm ấy, vua Thiệu Trị
băng hà! Tiệm thuốc cũng là
phòng thăm mạch đông y của cụ già và của kẻ sĩ lỡ vận Nguyễn Văn
Tường khép cửa trong những ngày quốc tang. Tin tức kinh đô qua những kẻ
bộ hành trên đường thiên lí Bắc – Nam, ghé lại quán cơm, quán nước
ở huyện lị Ái Tử này, thầm thì rỉ tai, đã lan truyền khắp làng thôn
trong huyện Đăng Xương. Người ta ngạc nhiên khi người lên nối ngôi vua
cha mới mất không phải là thái tử Hồng Bảo. Người con thứ, Hồng Nhậm,
nổi tiếng về văn chương thơ phú nhưng hơi ốm yếu của đại hành
hoàng đế Thiệu Trị đã lên ngôi theo di chiếu, được sự phù giúp của
bốn cố mệnh đại thần: Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương, Vũ Văn Giải
và Lâm Duy Thiếp (2). Trong những ngày quốc
tang, thầy Tường không bước sang tiệm thuốc bắc và phòng mạch. Ngôi
nhà tranh vợ chồng thầy thuê ở Ái Tử này cũng không xa tiệm thuốc của
cụ già bao đỗi, chỉ cần bước vội chân một chút, là đến ngay nếu có
việc cần kíp. Sáng nay, ngồi trước cuốn sách mở, nhưng tâm trí thầy Tường
không thể không nghĩ ngợi, bâng quơ nhìn ra ngoài vuông cửa sổ trổ ngay
căn giữa, thấy Đích, vợ của thầy, đang sắp những lát thuốc O Đích, bây giờ láng
giềng đã quen gọi là o Thầy. Đó là cách gọi người vợ theo công việc
của chồng. O Thầy đã vào nhà, đang ngồi trên chiếc đòn gỗ, bên nôi của
thằng cu Thiều, và một bên thuyền tán. O đang nắm hai tay cầm của dao cầu
(một bánh nghiền bằng sắt, khá nặng), lăn tới lăn lui cho thật mịn những
thứ thuốc mà cụ khoá Thu giao cho. Hương thuốc đông y thơm lạ lùng. Nghe tiếng bước chân
của thầy Tường bước ra cửa, o Thầy ngước mắt lên. - Ta đi ra bờ sông một
lát. Mình ở nhà. - Có việc chi mà ra bờ
sông? Anh Thầy nhớ về sớm nghe. Thầy Tường gật đầu,
bước ra ngõ. Anh vừa đi vừa nghĩ ngợi. Thế mà đã bảy ngày trôi qua, từ
khi vua Thiệu Trị băng hà. Không rõ lòng mình, anh chỉ thấy bâng khuâng.
Ngồi xuống một phiến đá lớn dưới gốc cây sầu đâu rợp bóng bên bến
sông vắng, cuốn sách cầm ở tay, nhưng thầy Tường nghĩ ngợi đâu đâu. Dòng sông Ái Tử ngập
nắng, chầm chậm trôi lững lờ trước mặt. Cơ hồ cái chết của đại
hành hoàng đế đang đẩy đưa tâm thức thầy Tường về khởi nguyên của
triều đại. Chính dòng sông Ái Tử này đây, nơi vua Trần Quang Đế nhà hậu
Trần bị tên tướng Tàu nhà Minh đánh bại, cũng là nơi Mạc Lập Bạo nhà
Mạc bị tiên chúa thái tổ Nguyễn Hoàng tiêu diệt, do được Qua Qua phu nhân
linh thánh hiện ra hiến kế mĩ nhân trong giấc mộng mị của
ngài (3)! Tiếng trẻ con khóc “oa oa” trên sóng nước hẳn cũng chỉ nảy
sinh từ hai chữ “Ái Tử”, thương
con. Dân gian chẳng hát “mẹ thương con ngồi
cầu Ái Tử” đó sao! Thương con mà
hiến độc kế giết tướng Mạc, con cháu Mạc Đăng Dung, gã đô lực
sĩ cướp ngôi nhà Lê, hẳn chỉ là mộng mị của thái uý Đoan quận công
Nguyễn Hoàng, hay thương con như thế mới
là tình thương mãnh liệt, tích cực của dân gian? Từ tiên chúa Nguyễn
Hoàng, trải qua mấy đời chúa, đến tiên đế Gia Long, ngót hai trăm bốn
mươi bốn năm (1558 – 1802). Từ ngày tiên đế Gia Long lên ngôi hoàng đế,
lập ra nhà Nguyễn với nước Việt Nam nhất thống, địa dư rộng lớn nhất
lịch sử mấy ngàn năm, đến nay, cũng tròn bốn mươi lăm năm (1802 –
1847). Thời gian! Lịch sử!
Bao nhiêu dâu bể thăng trầm, in dấu ngay ở từng cây đa, giếng nước làng
quê với những sự tích! Thầy Tường bâng
khuâng với một câu thơ thiền thời Lí – Trần: “Thịnh suy như lộ
thảo đầu phô”. Quả thật, ở
vùng đất trận mạc tranh chấp này, có đó rồi mất đó, thoắt xanh tươi cây
trái, thoắt vườn không nhà trống, mong manh như hạt sương treo đầu ngọn cỏ. Nhưng lạ lùng thay, sức
sống Quảng Trị bền bỉ đến phi thường! Dòng sông ngập nắng
đưa đẩy ý nghĩ thầy Tường đi về làng quê của mình. Làng An Cư là
ngôi làng đầu tiên của tổng An Cư trên đất châu Ô này, được phát
hoang, gầy dựng bởi những cư dân châu Diễn, châu Hoan, châu Ái từ thuở
Huyền Trân công chúa theo vua Chế Mân về Chiêm Thành. Dòng họ Nguyễn của
thầy Tường vào đây cũng già năm trăm năm! Sau hai trăm năm, châu Thuận
thân yêu này, vốn là Ô châu, vẫn là mảnh đất tranh chấp, là trận mạc.
Ba trăm năm gần đây, dẫu chiến trường của cuộc nội chiến hai thế kỉ
giữa Đàng Trong – Đàng Ngoài thuộc vùng đất xa hơn, phía châu Lí (Bố
Chính, Ma Linh, Địa Lí – Quảng Bình), quê hương Quảng Trị không phải
không đao binh. Ba trăm năm ấy, dòng họ anh sinh sống dưới ơn mưa móc của
các đời chúa, đời vua nhà Nguyễn, triều đại hiện thời, triều đại
mà một kẻ sĩ như anh phải tận lòng phụng sự, nhất là trong thời điểm
này. Bây giờ, đã bảy
ngày, sau cuộc băng hà của đại hành hoàng đế Thiệu Trị, cũng chẳng
hiểu sao thầy Tường lại ra ngồi đây nghĩ ngợi vẩn vơ, thoáng có chút
gì u hoài nữa! - Anh Thầy ơi, có nghe
mõ làng rao không? Vua ban ân chiếu! – Rõ là giọng của o Đích –. Thầy Tường vụt đứng
dậy, quay lại, nhìn vợ đang vội bước với niềm vui mừng rạng rỡ. - Mõ rao ân chiếu? –
Thầy Tường hỏi lại –. Mình nghe răng chừ? - Chú mõ làng mới vừa
đi rao ngang ngõ nhà mình! Hai vợ chồng bước
về nhà. - Mình để thằng cu
Thiều ở nhà một mình sao? - Em đã bồng qua gửi
bên mệ ngoại. Thầy Tường bảo vợ
về nhà, một mình anh bước về phía dinh huyện lị. Ngày kỉ dậu hôm nay,
mùng ba, đầu tháng mười, kỉ nguyên Tự Đức đã bắt đầu mở ra với
ân chiếu gồm 25 điều ban khắp thiên hạ. Vị lương y trẻ tuổi Nguyễn
Văn Tường run lên khi đứng đọc những dòng chữ trên bảng bố cáo: “Các địa phương có
nhân sĩ nào tài đức giỏi giang mà ẩn dật nơi rừng núi, chuẩn cho quan
thượng ti ở nơi ấy xét thực tâu lên, lượng cho bổ dụng”. “Từ tờ mờ sáng
ngày mồng 3 tháng 10 năm Thiệu Trị thứ 7 trở về trước, phàm các tội
phạm phải sung quân hay phát lưu trở xuống, không cứ là đã kết án hay
chưa kết án, đều cho khoan miễn tha ra” (4). Thầy thuốc đông y
Nguyễn Văn Tường cố giữ vẻ trầm tĩnh thường ngày, bước thong thả về
nhà, với niềm vui rộn rã trong lòng. Ân chiếu! Anh về đến nhà, Đích
bỏ dao cầu thuyền tán, đứng đậy bồng con ríu rít hỏi chuyện. Thầy Tường
cầm bàn tay mũm mĩm của chú bé Thiều, đứa con trai đầu lòng của vợ
chồng anh, nhìn vào đôi mắt đen láy đã ràn rụa nước mắt xúc động của
Đích, nói với giọng trầm tĩnh đến lạ lùng: - Ta sẽ được xoá
án! Mình vui đi! Sau đó, tháng mười một,
lại có một chiếu ban ơn gồm 19 điều nữa, cũng được rao truyền, niêm
yết khắp thiên hạ. Ở Quảng Trị, vào đầu
năm Mậu thân (1848), Tự Đức nguyên niên, tuần vũ Lê Trường Danh (5) và
án sát Lê Văn Vĩ (Lê Hồng Miên) (6)
đã chiểu theo ân chiếu, lập thủ tục đệ trình lên Bộ Hình, xin xoá
án cho Nguyễn Văn Tường, tú tài bị truất, bị kết án tội đồ đã chấp
hành án, sáu năm về trước, vì không chịu đổi tên trùng với quốc
tính. Sáu năm về trước,
Văn Tường chẳng buồn bã trông chờ một kỉ nguyên mới với sự xuất
hiện minh đế của triều Nguyễn đó sao! Anh những tưởng phải hai mươi
năm, ba mươi năm hoặc có khi phải lâu hơn nữa mới có ngày nay! 3 Sau một tháng được
xoá án “bất
đắc ứng thí”, tỉnh
Quảng Trị của người thầy thuốc trẻ lại phải đối phó với nạn thổ
phỉ Lào. Phủ Cam Lộ, nơi đã có một thời gian dăm năm, gia đình cha mẹ
anh phải lên đó tìm đất mưu sinh bởi nạn cường hào ác bá ở quê nhà
An Cư. Trên vùng đất đó, bọn thổ phỉ nước láng giềng đang tràn sang
cướp phá. Hai châu Ba Lan, Mường Bổng gồm những người nhân tộc thiểu
số đồng bào lại một phen điêu đứng, tang tóc. Cam Lộ, đó là cửa
ngõ phía tây của Đất nước, của kinh đô, Xiêm rồi Lào đã chín lần
quấy phá dưới hai triều Minh Mạng, Thiệu Trị. Đây là lần thứ nhất dưới
triều Tự Đức! May sao tri phủ Lê Văn
Dự và quản vệ Nguyễn Nhuận của Cam Lộ đã kịp thời đánh tan, vỗ
yên được bọn phỉ Lào trong một thời gian ngắn (7). Qua vui mừng trước ân
chiếu, qua xôn xao, kinh động bởi thổ phỉ, Quảng Trị và Nguyễn Văn Tường
lại thầm lặng với ruộng nương, sách đèn, bắt mạch, kê đơn thuốc,
theo nhịp sống bình thường. Thật ra, trong những ngày tháng này, thầy Tường
lại sôi kinh nấu sử hơn bao giờ hết. Những cuốn sách triết học, sử
luận thuộc kinh điển tam giáo, đặc biệt là của Nho giáo với tứ thư,
ngũ kinh như Đại
học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử, Kinh dịch,
Kinh Xuân thu… cho
đến Bắc
sử và
các pho quốc
sử từ Việt
sử lược, Việt điện u linh, Đại Việt sử kí toàn thư, Lịch triều hiến
chương loại chí, Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục tiền biên, và
cả Đại
Nam thực lục chính biên đệ nhất kỉ… được
viết bằng chữ Hán, hầu như đã trở thành máu thịt
trong anh. Ngoài ra, cũng như các sĩ tử khác, anh vận dụng nhuần nhuyễn
các thể văn cử nghiệp, quan trường và trước tác (8). Đúng là sôi kinh
nấu sử để những hạt ngọc chữ nghĩa trở thành cơm ăn nước uống hằng
ngày của kẻ sĩ! Lắng đi vài tháng, lại
tàu Pháp ghé vào dòm ngó, đòi xin được lấy củi, lấy nước ngọt để
chạy tàu thuỷ với máy hơi nước! Triều đình chấp thuận như thế (9).
Nhưng đâu chỉ thế, trong thâm ý, với kế hoạch tằm ăn lá dâu lâu dài,
chúng đang ra sức tuyên truyền, đào tạo lực lượng hậu thuẫn bên trong
nước ta, lại đo đạc mực nước các cửa biển, cửa sông, hòng chiếm một
vùng đất của ta làm trạm dừng chân, cung ứng vật hạng, nhân lực, làm
bàn đạp ban đầu. Rồi lại bùng lên vụ
thổ phỉ Lào với tên tay sai Phù Xu Phì ở châu Mường Bổng trên Cam Lộ!
Phù Xu Phì phản quốc, phản buôn làng chỉ vì một chức ma tà vằn của
giặc (10)! Và tháng sáu nguyệt lịch
(1848), điều cấm đạo Gia Tô (Catholicisme) lại phải ban bố (11)! Cây thập
tự được đặt trên đất để thử thách “dữu dân” có chịu bước
qua hay không! Có người thức ngộ thú nhận đã bị thực dân lợi dụng,
bước qua cây thập
giá một thời tôn thờ, người ấy được tẩy hai chữ “tả đạo” khắc
xăm trên mặt. Có người cam chịu tử đạo như Chúa Giê Su (Jésus) trên
hai thanh gỗ thập tự tử hình! Các đạo trưởng (giám mục, linh mục) người
Tây dương lén lút đổ bộ vào bờ biển, sống dưới hầm, lẩn trong nhà
“dữu dân”, một số bị bắt được và bị hành hình về tội xúi giục
dân trong nước làm giặc! Ở nước ta, bờ biển dài suốt mấy ngàn dặm,
thật khó lòng kiểm soát. Cấm đạo, triều đình đành phải bức hại
dân mình, bi kịch ấy đâu chỉ của nước ta, mà khắp châu Phi, châu Á,
nhất là ở các nước: Thanh (Trung Hoa), Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ,
Xiêm, Miến… Có một buổi sáng lương
y Nguyễn Văn Tường không bao giờ quên được. Quanh bãi cát ở phía tây cột
cờ Dinh Cát ngày xa xưa, thầy Tường có mặt trong dãy ghế phía sau các
quan chức tỉnh huyện. Là sĩ phu của huyện, thầy đang ngồi cạnh các
quan viên về hưu, các cử nhân, tú tài chưa được bổ nhiệm, nhìn ra
vuông cát rộng. Một cây thập tự bằng gỗ đặt nằm ở giữa. Phía
trên thập tự, những người đã cải đạo, “chối đạo” đứng một bên,
những người cam chịu tử vì đạo đứng bên kia. Một không khí nặng nề
bao trùm. Trong cái nặng nề ấy, thực ra, hầu hết những người dân lương,
quan chức, sĩ phu, thảy đều kinh ngạc và căm giận đám “tả đạo”
đang đứng giữa sân. Họ chẳng hiểu sao niềm tin vào một tôn giáo xa lạ,
chối bỏ cả việc đặt bàn thờ gia tiên trong nhà, chối bỏ mọi phong tục
thờ cúng của dân tộc, thậm chí chống lại cả nền độc lập của dân
tộc mình, không đoái hoài đến sự mất còn của Tổ quốc mình, lại
được tin tưởng đến mức cuồng tín đến thế. Ngỡ sẽ sớm chấm dứt
cảnh huống đang diễn ra trước mắt ấy, bởi những người theo “tả đạo”
đã có thời gian suy nghĩ, bỗng nhiên, một người đến lượt được dẫn
đến dưới chân cây Thánh Giá của họ, không phải như những người “tả
đạo” khác, mà bị trói chặt khuỷu tay. Khoảng bốn mươi tuổi, ông ta
tiều tụy bước, và đứng lại đúng chỗ. - Bỏ tà đạo thì bước
qua, đứng phía phải! Không bỏ, qua bên trái! – Viên lính dõng dạc bảo
–. - Xin quan cho tôi nói một
lời. - Không nói gì hết! - Tôi cứ nói! Xin hỏi:
Ai giúp tiên đế Nguyễn Ánh đánh bại bọn ngụy
Tây Sơn, lập nên nhà Nguyễn? Có phải Đức Cha cả Bá Đa Lộc – Pi-nhô
đờ Bê-hen (Pigneau de Béhaine) (12)? Có phải là cha ông chúng tôi theo đạo
Gia Tô, thời đó, đã phù giúp? Sao các người phủi ơn nhanh rứa? - Câm miệng! Đúng là
phạm thượng, giọng lưỡi “tả đạo”, lại xổ tiếng Tây tiếng Âu nữa!
– Giọng viên lính cố nói to để át sự bối rối –. Viên lính chạy ngay đến
trước khán đài, đan hai tay đặt trước trán, một đầu gối quỳ xuống
chạm đất cát: - Bẩm các quan lớn, thằng
“tả đạo” này cứng đầu, phạm thượng! Các quan, sĩ phu và tất
thảy dân lương tham dự đều nghe rõ lời gã “tả đạo” to gan. Dám phạm
huý, kêu ngay tên tự của tiên đế là đủ tội chết, nữa là! - Thật láo xược! –
Quan tuần vũ giận dữ quát –. Quân
đâu! Gông cổ nó lại. Như thế là rõ ràng nó muốn chịu án trảm quyết
bêu đầu! – Quan đầu tỉnh Lê Trường Danh lại cố trấn tĩnh, vẫn với
giọng Đàng Ngoài quê ông –. Lẽ ra, không cần nghị xử gì nữa, mà phải
chém ngay thị chúng! Nhưng ta cũng bảo cho tất cả quan dân ở đây rõ, bọn
cố đạo Tây dương ngày càng lộ bộ mặt thật. Chúng đã giúp ngụy
Khôi ở Gia Định, kích động bao nhiêu vụ làm loạn ở Bắc Kì, kể cả
bọn ngụy Nông Văn Vân, toan lật đổ bản triều (13). Ngay tiên đế Gia
Long về sau cũng đã hạn chế bọn “tả đạo” Tây dương, và cả tiên
đế Minh Mạng cũng đã nhiều lần ban dụ cấm đạo vì bản chất bọn
“tả
đạo” ngày càng lộ rõ (14)! Thế mà “dữu dân”, “tả đạo” các ngươi
vẫn ngu mê! Thôi, khỏi lắm lời! Gông cổ tên kia lại! Tiếp tục! Sau khi rời khỏi bãi
cát cải đạo, thầy Tường bước về nhà, đi cạnh Lê Đình Dao (15), một
bạn đồng liêu cùng lứa tuổi vừa đỗ cử nhân khoa thi Mậu thân (1848)
năm nay. Tính Dao vốn khẳng khái nhưng điềm đạm, lúc này cũng không thể
không bức xúc nói: - Trong phường Lá Vằng,
mấy cố đạo Tây hay gọi là La Vang, bây chừ “tả đạo” tụ tập cầu
nguyện Đức Mẹ Đồng Trinh suốt cả đêm ngày, xem chừng sốt sắng lắm!
– Lê Đình Dao buồn buồn nói –. Thật khó hiểu quá chừng quá đỗi!
Nghe đâu thời ngụy
tướng Phạm Ngô Cầu của ngụy chúa Trịnh (1779), thời vua
Cảnh Thịnh ngụy triều Tây Sơn (1798), chỗ nớ cũng đã là nơi trốn chạy
các cuộc “sát tả”, máu chảy thành khe, thành ngòi (16)! Lúc bấy chừ,
họ đồn có Đức Mẹ, người Do Thái, dân gian bảo là “ngó như mấy bà
đầm”, hiện ra an ủi! Không hiểu vì răng dân mình lại có những kẻ
theo cái đạo lạ kì như rứa! - “Kính nhi viễn chi”!
Đối
với quỷ thần phải vậy, cứ “kính cẩn nhưng nên
xa lánh”,
như thầy Khổng dạy là tốt nhất, miễn là
dân “tả đạo” người Việt mình đừng theo Tây, nghe lời bọn cố đạo
Tây dương là được. – Nguyễn Văn Tường nói với Lê Đình Dao, khẽ giọng
–. Nhưng, thật lòng… mình cũng không hiểu nổi vì răng một bộ phận dân
mình lại như rứa, như Dao nói. Họ cứ nghe, cứ tin mấy cố đạo Tây
tà. Ở kinh đô, khách thương người Tàu, Nhật, Mã Lai… cập bến tường
thuật rất rõ là bọn Tây bạch tạng lợi dụng tôn giáo! Xưa nay tam giáo
cửu lưu, có ai trấn áp chi đâu! Tu hành quái quỷ chi bọn đội lốt cố
đạo nớ! Đi ăn cướp nước người ta mà còn khoác áo tu sĩ! Hết nước
nói! Hai người bạn, một vốn
dân gốc làng Bồ Bản, một gốc An Cư, hai làng gần nhau, đi bên nhau, lặng
lẽ suy tư. Họ cũng hiểu rằng, không phải chỉ riêng họ, mà hầu hết lương
dân, sĩ phu, quan
lại cho đến hoàng thân, hoàng đế đều cảm nghĩ như thế. Thực dân! Thổ phỉ!
“Tả đạo”! Đó là ba nguy cơ, hiểm hoạ và nỗi đau cả nước từ Bắc
chí Lại một mùa hạ thứ
hai của kỉ nguyên mới! Tháng năm nguyệt lịch,
Tuần phủ Trị – Bình mới nhậm chức là Trần Quang Chung, người Tuy Phước,
Bình Định, thay Lê Trường Danh, chuẩn bị cung trạm nghinh tiếp tại tỉnh
nhà để đón sứ bộ nước Thanh (Trung Hoa) qua trao sắc chiếu phong vương
cho vua Tự Đức. Lễ phong vương sẽ được tiến hành vào tháng bảy, năm
Kỉ dậu (1849). Sứ bộ sẽ sang ngay kinh đô Huế, chứ không phải vua nối
ngôi phải ra tại Hà Nội (Thăng Long) như các vị vua trước. Đó là một
thắng lợi ngoại giao đầu triều Tự Đức (18). Và vì vậy, cộng với bệnh
dịch đang lan tràn vừa tắt, kì thi hương chính khoa tháng bảy mùa thu năm
nay bị triển hoãn, chỉ mỗi một trường thi Gia Định vẫn được thi
theo lệ định! Từ tháng mười Đinh mùi
(1847) đến nay, đã hai mươi mốt tháng trôi qua với bao biến động, lễ lạc.
Thầy thuốc đông y Nguyễn Văn Tường cũng đã lỡ mất một kì ân khoa năm
ngoái, Mậu thân (1848), vì đang làm thủ tục xin xoá án “bất
đắc ứng thí”!
Kì này được xét hạch để dự thi, lại bị hoãn! Phải chờ đến tháng
ba mùa xuân Canh tuất (1850) năm tới! Hơn bao giờ hết, lúc
Đất nước đang trong thời điểm báo động lâm nguy, kẻ sĩ càng nao nức
nhập thế cuộc. “Nhập
thế cuộc”,
dấn
thân vào đời kinh bang tế thế, sửa nước giúp đời, “bất khả vô văn
tự”, không
thể không chữ nghĩa, không thể không
thông qua con đường khoa cử! Bạn bè tuổi tác có
chênh lệch nhau, nhưng đều cùng một lứa, cùng được tập trung về trường
tỉnh để được học quan giảng tập, khảo khóa, xét hạch trước khi dự
thi, từ khoa Nhâm dần (1842) đến nay, nhiều người đã đỗ đạt, cũng
nhiều người bỏ cuộc. Trần Đình Túc (làng Hà Trung), Nguyễn Đăng Điều
(làng An Cư), Hoàng Văn Giảng (làng Diên Sanh), Nguyễn Tăng Doãn (làng Câu
Nhi), Lê Đình Dao (làng Bồ Bản), Vũ Tử Văn (Võ Văn Thọ, làng Nại Cửu),
Nguyễn Hữu Điềm (làng Thái Hoà), và đặc biệt là Trần Xuân Hoà (làng
Thâm Khê, huyện Hải Lăng; về sau trở thành người trung nghĩa, anh hùng chống
Pháp của triều Nguyễn, được vua Tự Đức ban dụ dựng đền thờ)… đã
lần lượt được đăng khoa (19)! Người vượt lên tất
cả bạn bè, sẽ đứng đầu Đất nước, giờ này vẫn hãy còn lận đận!
Nhưng cơ may đang được mở ra sau khi kỉ nguyên Tự Đức đã ban ân chiếu,
Nguyễn Văn Tường đã được mở khỏi cái ách “bất
đắc ứng thí”! Thầy Tường đã hai mươi
sáu tuổi, anh trầm tĩnh chờ mùa xuân năm sau. Và tháng ba, Canh tuất,
năm Tự Đức thứ ba (1850), kì thi hương chính khoa vốn phải triển hoãn cũng
đến. Nguyễn Văn Tường đã đỗ cử nhân (20). Nhưng đau xót thay, anh lại
bị “nhắc nhở” về cái án “tên
trùng với quốc tính không chịu đổi, nên bị đi đày”
một
lần nữa! Phải bị tội đồ một lần nữa, trước khi chính
thức được công nhận học vị cử nhân. Đó là một cách khẳng định
trước toàn dân thiên hạ và trước tất thảy quan chức, sĩ phu: Nguyễn
Văn Tường không phải thuộc huyết thống hoàng tộc (không phải là hạt
máu rơi của Trường Khánh công Miên Tông – hoàng đế Thiệu Trị – bao
giờ!). Tuy nhiên, lần bị đày (tội đồ) thứ hai này cũng chỉ là “thủ
tục xoá án có nhắc
nhở” để anh được tiến thân trên con đường khoa cử, hoạn lộ, đúng
như những người xuất thân từ giai tầng dân đen dân dã khác. Chỉ làm
các công việc nhẹ nhàng, anh không bị lao dịch khổ sai như lần trước.
Nguyễn Văn Tường bình tâm, thanh thản trong sự thấm thía thuyết
chính danh định phận. Vâng,
có phàn nàn gì đâu, cho dù bị oan trái! – Ông cử tân khoa còn bị treo bằng
cấp tự nhủ –. Anh không hề mạo nhận quốc tính. Xưa nay, anh đã sống
đúng với phận mình như tuân theo thiên mệnh! Lần bị tội đồ này,
có tính chất khẳng định, nhắc nhở lại án cũ, chứ không phải Nguyễn
Văn Tường tái phạm, và chỉ trong mức sáu tháng, từ tháng tư đầu mùa
hạ đến tháng mười đầu mùa đông. Lần này, suốt sáu tháng trời, cống
sĩ tân khoa bị tạm thời treo bằng cấp, học vị lại phải lên tuốt tận
đỉnh núi trong rặng Bạch Mã, nơi có con đường đèo Hải Vân, con đường
dành cho khách bộ hành và binh lính hành quân, nhỏ như sợi chỉ ngoằn ngoèo
vắt qua. Trong rặng núi Bạch Mã ấy, Viện Thái y mới thử nghiệm gầy dựng
một vườn thuốc Tháng mười, Nguyễn
Văn Tường được về quê, trước khi lại vào
kinh đô dự kì thi hội. Trên đường ra Quảng Trị, qua chuyện trò với những
người cùng đi, anh mới biết, từ tháng tám năm Tân Hợi (1851) sang năm, làng
Diên Sanh sẽ được chọn để dời đặt lị sở cho huyện Hải Lăng (21). Hôm ấy, qua Diên Sanh,
mặc dù khá nóng lòng về thăm nhà, nhưng cũng rất mệt mỏi, cống sĩ
Nguyễn Văn Tường tách khỏi đám bộ hành, ghé lại nhà Hoàng Văn Giảng
(22), được dân làng gọi là ông cống, cống sĩ tân khoa từ khoá Đinh mùi
(1847). Ở đấy, không những gặp Giảng, anh còn gặp cả Trần Xuân Hoà
(23). Cả hai đang chuẩn bị đi nhận nhiệm sở. Hoà vào Trần Xuân Hoà là con
trai của cố bố chính sứ Trần Tuyên ở tận tỉnh Vĩnh Long, bị giặc
mai phục, chết trận, rất được vua Thiệu Trị khen ngợi. Hoà được bổ
ngay tri phủ cũng nhờ công lao của cha. Hoà vẫn nói giọng Nam Bộ đặc sệt,
chụp lấy tay Tường: - Tù đày sao mậy? Tưởng
tiều tụy, nhưng hoá ra trông còn bảnh chán! Ta đi từ làng lên đây, ngang
qua làng Kim Long (Kim Lung) ở Hải Quế, mua được vò rượu đầu vòi, say
đằm mà bốc, ngon nhất nước! – Anh cười ha hả –. Gặp Tường ở đây,
không nhậu làm sao được, phải hông Giảng?
Giảng, kiếm con gà con qué gì nhậu chơi mậy! Mừng
thằng Tường ở tù ở đày đã được dề! Tường cảm động cầm
tay bạn, nhìn gương mặt với những nét vừa gân guốc vừa thông minh của
Hoà: - Bình thường! So với
cày cuốc ở nhà, xem ra bị đày cũng không cực lắm! Tội đồ sơ sơ, vừa
chiếu lệ, lại vừa không phải lệ, rứa thôi! Thật ra, cũng oan cho mình,
nhưng cái tính bướng thành ra đành phải “bụng làm dạ chịu”! – Tường
cười –. Thôi, hết nợ oan gia rồi! Đừng nhắc nữa! – Tường hỏi Hoà
–. Sắp vào - Cụ thượng, cụ tổng
Nguyễn Đức Hoạt (24) nghe đâu mới mất! – Giảng nói –. Thi hài mới từ
Định Tường, Biên Hoà, chở thuyền ra! Cũng tiếc cho làng An Thơ, huyện Hải
Lăng mình! Nếu cụ còn sống, Hoà sẽ nhậm chức dưới trướng của cụ.
– Hoàng Văn Giảng vẫn giữ cốt cách nhà nho, vận khăn đóng áo the dài
tiếp bạn, nhìn Tường và Hoà, giọng từ tốn –. Ở quê mình có món
lòng sả, đặc sản. Uống chút rượu, nhấm gà bóp, rồi chén lòng sả
sau. Đồng ý? Lát sau, khi ba người bạn
mắc áo dài khăn đóng lên hai chiếc gạc nai với nguyên đầu nai còn lông
đã khô, được gắn lên vách gỗ, mỗi người chỉ còn vận bộ áo quần
trắng, vạt áo cài khuy nút thắt một bên, ngồi trên hai chiếc trường kỉ
chạm trổ tinh vi đặt ở căn giữa, trước gian đặt bàn thờ buông sáo
trúc. Đứa cháu gái bưng lên một khay chén trà ngan ngát hương lài. Lát sau, cháu gái lại
bưng rượu thịt lên. Tiệc rượu đã nồng.
Câu chuyện đẩy đưa thế nào, lại nhắc đến Lê Đình Dao, Vũ Tử Văn,
tháng ba Tân hợi (1851) sang năm sẽ cùng họ dự kì thi hội. - Mình và Võ Văn Thọ,
tức là Vũ Tử Văn đó, sau khi học chữ ở nhà với cha mình, lại học với
cha Dao. Bọn mình vốn là học trò cụ thân sinh của Lê Đình Dao. Cụ thầy
Lê Đình Khuê ấy đúng là túc nho, không hiểu có bị trù dập gì không,
thi cử cứ bị đánh hỏng mãi, không đỗ được cái tú tài! – Nguyễn Văn
Tường nói –. - Mình biết cụ Lê! Chả
là có một lần thời trai trẻ, cụ cho Tây Sơn có công thống
nhất Đàng Trong, Đàng Ngoài. Cụ
biện luận: Nếu
không có Tây Sơn, Đất nước cứ hai Đàng mãi, chinh chiến mãi. Phải có
Tây Sơn như thế, Đất nước mới yên, mới nhất thống một mối. –
Hoàng Văn Giảng đặt chén rượu gạo Kim Long xuống –. Do đó, cụ cho là
theo lẽ biến dịch, nên không gọi Tây Sơn là ngụy,
còn bọn nào xuyên tạc Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ (25) vốn là
đạo dòng, “dữu
dân”, tức là cỏ trong lúa,
thì đúng là láo toét (26). Chỉ chừng đó mà khốn một đời. - Nhưng cụ thanh thản
lắm! Đúng như triết lí tam
vô,
vô công, vô danh, vô vi, của Đạo
đức kinh –
Nguyễn Văn Tường gật đầu –. Thật ra, nhập
thế mới
là đại
đạo… - “Nhân sinh tự cổ
thuỳ vô tử Lưu thủ đan
tâm chiếu hãn thanh”! Trần Xuân Hoà mỉm cười,
sau khi ngâm lớn hai câu thơ của Văn Thiên Tường (27). Anh lại dịch ra chữ
Nôm: - Người đời sau trước
ai không chết Lưu lại lòng
son sáng sử xanh! Hoà lại nói: - Mình hoàn toàn đồng
ý với Tường! Phải nhập
thế mới
đúng đạo
làm người,
đó là cái lẽ đạo lớn nhất! - Khi hồi mình nói chưa
hết ý. Mình có bàn về tam vô của Lão Tử!… Nhưng dạy học như cụ Lê
Đình Khuê, theo mình, cũng tích cực lắm. Đào tạo bao nhiêu là môn sinh! Học
trò đỗ đạt có cả hàng trăm. – Nguyễn Văn Tường lại nói –. Cụ thầy
trước sau vẫn là nhà nho thôi!… Tất nhiên, có nhiều cách nhập thế,
cách nào là tích cực nhất, vậy thôi. Lập đức? Lập công? Lập ngôn?
Và nhiều hình thức, dạng thể trong một cách! Với bọn sĩ phu chúng
mình, đại đạo đúng là như vậy, như Hoà vừa ngâm nga. Trần Xuân Hoà đắc
ý, lại một lần nữa ngâm sang sảng: - “Nhân sinh tự cổ
thuỳ vô tử Lưu
thủ đan tâm chiếu hãn thanh”! Ba người bạn hào hứng,
vẫn nhẹ nhàng, từ tốn, quanh mâm rượu cho đến khuya. Ánh trăng tháng mười
ở làng Diên Sanh này đang ngời sáng trước sân nhà Giảng. Tháng ba năm sau, năm Tự
Đức thứ tư (1851), Nguyễn Văn Tường dự kì thi hội trong hoàn cảnh bị
tội đồ “nhắc nhở lại” vừa mới mãn hạn như thế, với tâm trạng
không buồn rầu, nhưng không thể không ê ẩm, mỏi mệt. Khoa ấy, Lê Đình
Dao và Vũ Tử Văn đều đỗ phó bảng. Dao lại đứng đầu bảng phụ ấy
(28). Nguyễn Văn Tường, bạn bè anh đều
hiểu rằng, tư tưởng của anh ít nhiều vượt lên những hạn chế
của lối mòn “quan phương, chính
thống”, nên
quan trường khó lòng để đỗ cao,
nhưng cũng khó bề đánh rớt. Dẫu sao, họ vẫn phải để Nguyễn Văn Tường
ở mức đủ phân số điểm để được bổ nhiệm làm huấn đạo (29). Nguyễn Văn Tường nhận
chức học quan ở huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi, coi sóc việc học hành cho
sĩ tử trong một huyện. Huyện Mộ Đức mới vừa giảm biên chế tri huyện,
huyện phải thống thuộc vào phủ Tư Nghĩa. Thầy giáo Nguyễn Văn Tường
ở hẳn trong trường học của huyện, tại xã Vạn Phúc (30). Làm thầy
giáo, nhưng Nguyễn Văn Tường vẫn thăm mạch, viết phái thuốc cho bà con
láng giềng quanh đó. Lại năm sau nữa, Tự
Đức năm thứ năm, Nhâm tí (1852), trường Bình Định bắt đầu được thành
lập và mở khoa thi, với sĩ tử tỉnh nhà cùng hai tỉnh Quảng Ngãi, Phú
Yên (31). Học trò huyện Mộ Đức của huấn đạo Nguyễn Văn Tường có một
người thi đỗ tứ trường hương khoa: Phan Văn Điển, người xã An Thổ,
Mộ Đức (32). Khoa sau, Ất mão (1855), Tự Đức năm thứ tám, lúc huấn đạo
Tường đã về lại Quảng Trị, một học trò khác của thầy là Nguyễn Hữu
Tạo (làng An Đại), đỗ cử nhân (33). Năm Nhâm tí (1852) đó,
triều đình lại định lệ xét bổ cho học quan tham dự chính quyền. Học
quan như thầy huấn đạo Tường sau ba năm giảng tập cho học trò, sẽ
được quan đốc học xét hạch, để đủ điều kiện được Bộ Lại bổ
nhiệm làm tri châu, tri huyện (34). Cũng năm Nhâm tí (1852) ấy,
giặc Tam Đường, một loại giặc Tàu “khách”, thứ
khách không mời, ở biên giới phía bắc mới được đánh tan, vỗ yên, phải
chia ghép chỗ ở cho chúng (35). Đất nước không yên! Năm Tự Đức thứ sáu,
Quý sửu (1853), triều đình đổi tỉnh Quảng
Trị thành đạo Quảng
Trị, trực thuộc vào Phủ Thừa Thiên, trở thành một phần đất của
kinh sư (kinh đô). Phủ doãn kinh sư Vũ Trọng Bình kiêm lãnh. Tuần phủ của
hai tỉnh ghép Trị – Bình nguyên là Phạm Khôi, ông quan họ Phạm này vào
kinh làm hữu tham tri Bộ Lễ (36). Cũng dịp đó, triều đình đồng thời
cho giải thể phủ Cam Lộ, vốn kiêm nhiếp cả huyện Thành Hoá thưa thớt,
ít ỏi dân cư. Huyện Hướng Hoá cách đây ba năm đã thành huyện Thành
Hoá, rồi lại được sáp nhập thêm một số châu, xã của các huyện lân
cận khác để mở rộng địa bàn. Nay Thành Hoá đã là một huyện ngang tầm
với các huyện khác trong địa hạt kinh đô. Tháng sáu năm Quý sửu ấy,
thầy thuốc, thầy giáo Nguyễn Văn Tường nhận sắc chỉ do Bộ Lại sao lục
gửi vào, chuẩn bị về lại Quảng Trị quê nhà, giữ chức tri huyện ở
vùng đất xung yếu ấy, vùng đất mà không một ân chiếu nào không nhắc
đến, với một sự ban ơn đặc biệt của triều đình cho nhân dân ở đấy,
nhất là đồng bào thiểu số. Nguyễn Văn Tường hiểu rằng anh
được nhà vua tin cậy, tin vào sức bền chịu đựng,
vượt lên gian khổ, thử thách nơi anh. Hướng
Hoá – Cam Lộ, nơi thuở ấu thơ cùng gia đình cha mẹ có dăm năm gắn bó,
mưu sinh, nên cũng có thể nói anh là người thổ trước
(người địa phương) ở
đấy, hoặc ít ra, cũng là người đã
có kỉ niệm thân thương bám
chặt (trước) với
vùng đất
(thổ) đó
(37). Nay Nguyễn Văn Tường với chức trách quan tri huyện
đầu tiên của Thành Hoá, tuổi tròn ba mươi, lại trở về chốn cũ, vào
một ngày tháng chín nguyệt lịch, một ngày cuối thu. Ở Thành Hoá, một
vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở, có nhiều buôn làng nhân tộc đồng bào
ít người, ngoài việc chu tất với nỗ lực trong nhiệm vụ của một huyện
lệnh, nhiều lần được vua Tự Đức khen thưởng, thăng cấp, anh vẫn là
một lương y, một thầy thuốc tốt. Như một niềm đam mê, y học với tri
huyện Nguyễn Văn Tường, từ năm mười chín tuổi, đến lúc này, vẫn
là tâm nguyện “hành
đạo trợ dân”.
Ấy vốn là ý thức nhập môn của nho sĩ, nhưng ở Nguyễn Văn Tường, đó
còn là một thôi thúc nội tâm. Viết
đến dòng chữ này lúc 16 giờ kém 03 phút, ngày
22.08.2002 (14.07
Nhâm ngọ, năm thứ 2 công nguyên Hoà Bình [HB.2]). TRẦN
XUÂN AN
(1)
Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam thực lục, chính biên
(ĐNTL.CB.),
bản dịch Viện Sử học, tập 26, Nxb. KHXH., 1972, tr. 253 – 258. Xem thêm: Trần
Trọng kim, Việt
nam sử lược
(VNSL.),
bản 1964, Nxb. Tân Việt, tr. 468 – 469; Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối
diện với Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVP.
& TH.), UB.KHXH. TU. Tp. HCM. xb., 1993, tr. 93 – 99.
(2)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 32 – 33. (3)
Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam nhất thống chí (ĐNNTC.),
bản dịch Phạm Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh, tập 1, Nxb. Thuận
Hoá, 1992, tr. 149. (4)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 39 – 40. (5)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 117. (6)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 69; Quốc sử quán triều Nguyễn và Cao Xuân Dục, Quốc
triều hương khoa lục
(QTHKL.), bản dịch: Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự
Thanh, Nxb. Tp. HCM., 1993, tr. 155. (7)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 70 – 71. (8)
QTHKL.,
sdđ., tr. 294. (9)
ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 88. (10) ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 91. (11) ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 111 – 112, tr. 423. (12) Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam liệt truyện
(ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 476 –
477; NĐNĐDVP. & TT., sđd., tr. 58 – 61. Nhân đây, xin trình bày cách phiên
âm tiếng các nước Âu Mỹ: Nếu Quốc sử quán triều Nguyễn đã phiên
âm và chúng ta quen dùng, tôi vẫn giữ nguyên để
tiện việc tra cứu, đối chiếu với ĐNTL.CB. và ĐNLT., nhưng có
chua thêm tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, chẳng hạn như Bá Đa Lộc (Pigneau de
Béhaine), Gia Tô (Catholisme), Mỹ Lợi Kiên (US. America)… ; nếu gặp trường
hợp phiên âm theo một trong các cách hiện nay và cũng đã quen dùng, mà
cách được đa số chấp nhận là có dấu ngang nối tách âm, tôi cũng theo
cách như thế, ví dụ như Na-za-rét (hoặc Na-gia-rét, theo Kinh thánh), Lê-nin
(Lénine), Ăng-ghen (Engels), I-rắc (Iraq); có khi lại để nguyên tiếng Âu Mỹ,
đơn cử như Pierre Tạ Văn Phụng thay vì Phê Rô Tạ Văn Phụng… Tuy nhiên,
cũng tuỳ văn cảnh, nhất là tuỳ ngôn ngữ nhân vật thế kỉ XIX, tôi
linh hoạt về cách phiên âm; hoặc tên các nhân vật chưa hề được nhắc
đến dưới dạng phiên âm (chỉ thấy trong sách nước ngoài hoặc sách xuất
bản tại nước ta ở Miền Nam trước 1975 hay từ sau Đổi
mới), tôi
để nguyên tiếng nước ngoài, chẳng hạn: Charles Duval… Ngoài ra, đối với
trường hợp người Pháp có thêm tên tiếng Việt, tôi chua thêm tên tiếng
bản ngữ của họ, như cố đạo Trường (Legrand de
la Liraye)… Nói chung, cho dù cách nào đi nữa, cũng cố gắng chua thêm
để tiện tra cứu. (13) NĐNĐDVP.
& TH., sđd., tr. 52. (14) ĐNTL.CB.,
tập 1, bộ sđd., tr. 154; tập 17, tr. 243; tập 26, tr. 276, 385. (15) ĐNLT.,
tập 4, sđd., tr. 312 – 313. (16) Trần
Quang Chu, Hành
hương La Vang
(HHLV.), tập 1, tác giả tự in vi tính, 1999, tr. 5 – 122. (17) ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 185. (18) ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 186 – 187. (19) QTHKL.,
sđd., tr. 219 – 310. (20) QTHKL.,
sđd., tr. 297. (21) ĐNTL.CB.,
tập 27, sđd., 1973, tr. 300. (22) ĐNLT.,
tập 4, sđd., tr. 416. (23) ĐNLT.,
tập 4, sđd., tr. 399. (24) ĐNLT.,
tập 4, sđd., tr. 26 – 27. (25) ĐNLT.,
tập 2, sđd., tr. 491 – 540. (26) HHLV.,
tập 1, sđd., tr. 35. (27) Viện
Văn học, Từ
điển văn học
(TĐVH.), tập 2, Nxb. KHXH., 1984, tr. 530: Văn Thiên Tường (1236 – 1282). (28) Cao
Xuân Dục (biên tập viên), Quốc
triều đăng khoa lục
(QTĐKL.), bản dịch: Trúc viên Lê Mạnh Liêu, TTHL. Bộ VHGD. & TN. xb.,
Sài Gòn, 1961, bản in 1971, tr. 118. |