TRẦN XUÂN AN
1 Quan tri huyện Nguyễn Văn
Tường cho chú ngựa xích thố đi nước
kiệu. Song song với ông là viên phó quản cơ Định biên. Phía sau, viên
thông lại tuỳ tùng. Cả hai cũng lỏng tay cương. Hai con ngựa thong thả soải
vó cùng xích thố, một sắc lông nâu sẫm, và một kia, màu đen hơi ửng nâu.
Họ đang quan sát cảnh núi rừng trùng trùng, điệp điệp, xanh ngắt và bảng
lảng mây sương. Quan huyện ghìm cương,
chỉ tay về hướng đông, nơi có thể phác hoạ ra con đường mòn vắt qua
các lưng núi: - Có lẽ phải chọn nơi
đó thôi. Nếu mở được con đường thứ hai, thành huyện ở Động Ngang
sẽ thoát khỏi thế cô lập. Phải làm hết sức để tránh bị chặn bít
lối độc đạo. - Dạ, bẩm, như rứa
thì bao giờ khởi công ạ? – Phó quản cơ Định biên Nguyễn Bằng hỏi
–. - Cho ta xem lại bản sơ
đồ! – Nguyễn Văn Tường xuống ngựa, buộc cương vào một thân cây ven
lối đi –. Nhưng… Cũng phải nói với nhau thêm một lần nữa thế này,
quan phó quản cơ làm ta áy náy quá. Mặc dù quan phó quản cơ trẻ hơn ta
hai tuổi, phẩm hàm còn thấp, chỉ lục phẩm, nhưng có tài năng, lại được
tạm chức khá cao. Rứa mà cứ một bẩm,
hai thưa, ba
dạ,
khiến ta thật khó xử! Cứ việc ứng xử với
nhau theo chức
vụ, có được không? Chức phó quản cơ, bình thường phải là tòng tứ
phẩm võ giai! Cũng to lắm, không đùa đâu. Ta chỉ mới tri huyện, chánh ngũ
phẩm văn giai. - Vâng… Bản triều vốn
đặt chức vụ với phẩm hàm trong sự tương xứng, nhưng vẫn có trường
hợp đặc cách, cho mượn hàm, tạm chức. Hơn nữa, vài năm nay, hơi yên,
nên triều đình rút bớt quân phiên chế của cơ Định biên. Do đó, tôi mới
được lạm dự vào chức vụ này. Thật ra, lục phẩm cũng đã là được
ơn, quá lạm rồi. Dám đâu ngông nghênh với quan huyện… – Nguyễn Bằng
khiêm tốn và chân thành đáp –. Viên thông lại Nguyễn
Công Đạo cũng đã lập tức xuống ngựa, lấy trong đãy vải sau lưng ra một
ống tre sơn đỏ, rút ra một cuộn giấy trong ống tre ấy, trao cho tri huyện
với lời bẩm đúng phép. Khi quan huyện Nguyễn Văn Tường mở tấm bản
đồ ra, đặt trên phiến đá nóng bỏng nắng, Nguyễn Bằng và Nguyễn
Công Đạo cũng đứng bên cạnh, tay giữ góc tấm giấy. Cả ba vừa nhìn
thực địa, vừa nhìn lại bản sơ đồ họ đã vẽ. Nắng buổi sáng đã
lên khá cao, mồ hôi đã rìn rịn trên lưng ngựa, nhưng sương vẫn còn vấn
vít quanh những quả đồi, trái núi trước tầm mắt họ. Bàn bạc một
lúc, quan huyện cho cuốn bản đồ lại, ông nói: - Phải ra sức thôi. Bản
đồ này ta đã đệ trình lên đức vua kèm với tập tâu. Cụ thượng thư
Bộ Binh Trương Đăng Quế đang nghiên cứu. - Bẩm, đúng là phải
phá thế cô lập và độc đạo. – Nguyễn Bằng, với con mắt, cách suy
nghĩ của võ quan, hết sức tán thành –. Tình hình ngày càng căng thẳng,
không thể không lo phòng thủ địa bàn xung yếu này, như quan huyện thường
lo nghĩ. - Ta đã bảo, Cam Lộ,
Hướng Hoá này chính là cái gáy của kinh đô. Nhưng ta chưa hỏi quan phó
quản cơ, phía gáy có huyệt nào làm bế tắc hết toàn bộ kinh mạch của
cơ thể? – Quan huyện Tường nói với giọng suy tư –. Đức vua và đình
thần rất tin cậy ở chúng ta, giao cho chúng ta quản nhiệm huyện Thành
Hoá này, nên làm sao không lo nghĩ đến sinh
điểm,
cũng gọi là tử
điểm hay
tử
huyệt
(huyệt đạo có thể gây tử vong) đó! Đúng như quan phó quản nói, tình
hình rất căng thẳng! Đối phó với nội phản “tả đạo”, quan lớn
Vương Hữu Quang phải tâu xin sáu điều xử trị đạo Gia Tô (1). Vụ biến
loạn Hồng Bảo ở kinh đô, cũng có tay bọn Thật lòng, quan huyện
rất băn khoăn, thao thức về những vụ khởi loạn ở Bắc Kì. Ai cũng biết,
ngoài đó là đất của vua Lê, kinh thành Thăng Long đã từ lâu trở thành
niềm hoài niệm, tiếc nuối của một phân số không nhỏ sĩ dân Bắc Hà.
Nhưng hầu như dư âm, vang bóng nhà Lê chỉ là cái cớ. Nhà Lê, một triều
đại ngót hai trăm rưỡi năm (1556 – 1789) trung hưng chỉ là bù nhìn trong
tay ngụy
chúa họ Trịnh! Nếu
thật tâm hoài
Lê,
sao sĩ dân Bắc Kì không nổi dậy đánh đổ họ Trịnh, để phục hồi
quyền lực thực sự cho vương triều do Lê Thái Tổ sáng nghiệp trong sự
nghiệp vĩ đại đánh đuổi giặc Minh phương Bắc, giành độc lập cho Tổ
quốc? Không, sĩ dân Bắc Kì thật tâm không hoài Lê! Mặc
dù họ thừa biết chúa Trịnh chỉ mượn danh phù Lê để thâu
tóm hết quyền hành vào phủ chúa, họ vẫn dửng dưng! Có lẽ sĩ dân Bắc
Kì thây mặc các triều vua, triều chúa, họ chỉ muốn kinh đô mãi mãi là
Thăng Long chứ không phải tỉnh Hà Nội, và sĩ dân Bắc Hà mãi mãi được
trọng dụng, không bị phân biệt đối xử! Quan huyện Nguyễn Văn Tường
còn thừa hiểu sự xung đột ngấm ngầm giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài
sau hai trăm năm chia cắt. Ông lặng lẽ suy nghĩ, không muốn chia sẻ với
ai điều này. Ông chua chát mỉm cười, tự bảo: “Tả đạo”, hoài Lê
không phải là nỗi niềm tôn giáo, trung quân
chân chính, đích thực, cũng không phải là hậu quả do sự áp bức của
triều Nguyễn, đặt cán cân sưu cao thuế nặng dồn hẳn về phía Bắc
Kì! Có
phải như vậy không? Quan huyện Nguyễn Văn Tường nhớ mãi câu nói của
tiên đế Gia Long khi ban lời cho nhà thơ Nguyễn Du: “Nhà
nước dùng người, chỉ cần người hiền, vốn
không phân biệt Nam, Bắc; ngươi cùng với Ngô Vỵ đã được đối đãi hậu,
làm quan đến á khanh, nên [điều] biết thì phải nói, để hết chức phận,
há nên do dự rụt rè, chỉ cốt dạ vâng làm gì”(6). Nhưng
Nguyễn Du vốn mặc cảm bất
trung với nhà Lê, lại kiêu ngạo, tự phụ về tài thơ mặc dù mới đỗ
tam trường (tú tài). Phải chăng bên trong thâm tâm là vậy, tuy bề ngoài tỏ
vẻ kính cẩn, sợ hãi không nói được nên lời? Thi hào ấy luôn luôn u uất,
bất đắc chí, cho dù được phong đến Cần Chánh điện đại học sĩ!
Ồ,… Tể tướng (tham tụng) Nguyễn Khản (7), anh ruột Nguyễn Du, thờ vua
Lê hay thờ chúa Trịnh? Nguyễn Du hoài Lê hay hoài Trịnh?… Có phải như vậy
không? Và cử nhân Phan Huy Vịnh, mới đây, làm quan triều Nguyễn đến chức
gần tột bậc, tham tri! Phan Huy Chú không đỗ đạt gì, vẫn được gọi bổ
nhiệm (8). Như thế là thế nào? Sao cử nhân Cao Bá Quát lại thế? Có phải
như vậy không? Cao Bá Quát đã phạm tội dùng muội đèn chữa bài cho sĩ
tử, phải án chém, lại được xét tha. Sao lại khởi nghịch? Bất mãn vì
tài cao phận thấp (9)? Nguyễn Văn Tường hiểu rằng có những cuộc nổi
dậy được sử gia ca ngợi, nhưng cũng có cuộc khởi binh bị các nhà sử
luận lên án. Liệu giai đoạn lịch sử này có yêu cầu phải nổi dậy như
thế với chiêu bài hoài
Lê, phù Lê?
Hai câu “Bình Dương, Bồ
Bản vô Nghiêu, Thuấn Mục Dã, Minh Điều
hữu Vũ, Thang” Bình
Dương, Bồ Bản không Nghiêu, Thuấn Mục
Dã, Minh Điều, có Võ, Thang trên
ngọn cờ phù
Lê của
Cao Bá Quát, liệu có tự mỉa mai không? Tại sao không đánh đổ chúa Trịnh
ức hiếp vua Lê đến ngót hai trăm rưỡi năm, bè lũ đã biến vua Lê
thành con sâu xanh trong tổ tò vò? Cao Bá Quát sinh ra đời muộn đến năm,
bảy mươi năm ư? - Hình như có tiếng
vó ngựa! Viên thông lại Nguyễn
Công Đạo hốt nhiên nói, tay nắm vào chuôi gươm, khiến chuỗi suy tưởng
của quan tri huyện trong cái nhìn xa xăm phải bất giác ngừng lại. - Ta thuộc tiếng vó của
từng con ngựa! Yên tâm. Không phải ngựa của bọn phỉ Lào và phỉ Xiêm
đâu, cũng không phải ngựa của bọn Hồng Mao (Anh-cát-lợi) Tây dương! Tiếng
vó ngựa nhà đấy! – Phó quản cơ Nguyễn Bằng ung dung mỉm cười –. Quả thật, từ phía
tây, nơi thành luỹ của huyện, trên con đường mòn độc đạo, một bóng
ngựa đang phi nước đại về hướng ba người. Khi nhận rõ, đó là một
người lính định biên thuộc huyện, quan huyện cười sảng khoái. Ông
nói lớn: - Quan phó quản đúng
là nhà võ nòi! Ta thật lòng cảm phục! Nghe tiếng đàn, tiếng thơ đến mức
vi diệu là hiếm, còn quan phó quản nghe tiếng vó ngựa đến mức tinh tường
siêu việt như vậy quả là độc nhất vô nhị! - Quan huyện quá khen!
Xin đa tạ. – Phó quản Nguyễn Bằng đan tay xá –. Viên lính định biên vội
nhảy xuống ngựa, thi lễ và bẩm báo: - Thưa, quan huyện có
khách. Hình như người trong kinh đô Huế… - Ai đến tìm ta ở chốn
sơn lam chướng khí này? - Bẩm, tiểu tốt
không được cho biết danh tính… - Lần sau, nhớ gặn hỏi
cho ra danh tính, mới bẩm báo nghe! Bốn người lên ngựa,
phi về thành huyện, trong cái nắng tháng chín chói rực, lúc gần giờ ngọ.
Dọc đường, bầy khỉ chạy ra khọt khẹt chơi đùa, nhác thấy bóng ngựa,
chúng vụt biến vào rừng rậm. Thành huyện Thành Hoá
đóng ở xứ Động Ngang. Thành bằng đất, đắp cao đến sáu thước năm
tấc ta, dày một trượng, chu vi một trăm ba mươi tám (138) trượng lẻ. Hào
bốn xung quanh rộng một trượng, sâu năm thước ta. Thành có ba cửa, mở
ra ba phía (10). Phi ngựa từ đằng xa, nom thấy thành luỹ cũng đầy vẻ uy
nghiêm. Bốn người đang cho ngựa chạy nước đại, theo con đường dẫn về
Động Ngang. Họ về đến thành huyện,
cho ngựa phi lên cầu dài hơn một
trượng bắc qua hào, vào cửa tiền. Hai viên lính đứng hai bên, cầm giáo
sáng quắc, lưng gần sát với cửa thành được xây bằng gạch đá, thoắt
ở trong tư thế nghiêm chào. Trao dây cương ngựa
cho người lính phụ trách, quan tri huyện Nguyễn Văn Tường bước lên tam
cấp, vào tiền sảnh của công đường. Lát sau, người khách được đưa
vào gặp ông. Hoá ra, thật không ngờ, “người từ kinh đô ra” lại là Trần Đình Túc. - Hết sức ngạc
nhiên, cũng rất ư chi là vui mừng! Xin chào quan quản đạo Phú Yên! –
Quan huyện Tường cười rất tươi –. - Xin chào! Thôi, đừng
bày ra sự khách khí nữa! Chúng ta vẫn như ngày nào, thuở còn học hành
thi cử. – Sau khi đan tay chào, quan nguyên quản đạo Trần Đình Túc mỉm
cười nói –. Ông ngồi xuống trường
kỉ, đặt ngay giữa tiền sảnh, ở phía trước án thư và cách án thư một
khoảng rộng. Nguyễn Văn Tường ngồi
đối diện với bạn. Ông thấy người bạn lớn hơn ông đến mười sáu
tuổi vẫn như cách đây mười ba năm, tuy có già dặn hơn xưa, tóc đã chớm
bạc. Tính từ kì thi hương năm ông mười tám tuổi, bị tội đồ vì tên
trùng với quốc tính không chịu đổi, cũng là kì hương khoa Túc đỗ
hương tiến (cử nhân), đến nay cũng ngót ngét mười ba năm rồi còn gì!
Trần Đình Túc đã trải qua tri huyện Bất Bạt, tận ngoài Sơn Tây, lại
thăng chủ sự Bộ Hộ, rồi được bổ tri phủ Vĩnh Tường cũng ngoài Bắc,
tiếp đến về kinh làm viên ngoại lang Bộ Binh, trước khi đảm nhiệm chức
thự quản đạo Phú Yên (11)! Trần Đình
Túc cũng đã bốn mươi bảy tuổi! - Nghe tin ông anh xin về
quê một thời gian để phụng dưỡng cha mẹ già yếu, cho trọn chữ hiếu,
nhưng mình không biết cách nào để rời khỏi chốn này mà khỏi bị
trách cứ. Cách đây bốn, năm tháng, khi đưa một số dân dinh về giúp cho
huyện Triệu Phong đào sông từ làng Vệ Nghĩa đến làng Đại Hào (12), mình định quay ra Hà Trung, Do Linh thăm hai
cụ và ông anh, nhưng rồi vẫn không đi được. Thật đáng trách!
Nay đang tìm dịp, thế nào cũng phải ra Hà Trung, lại may mắn được ông
anh trèo núi vượt non lên thăm! - Đường sá không đến
nỗi chi, cũng không mệt nhọc gì! Lại may là nhà có ngựa, cũng rủ vài
đứa gia nhân cùng đi. Trước là đi thăm, sau nữa cũng đi cho biết. Hai người bạn ngồi
chuyện trò, nhắc lại chuyện cũ học trò, và không thể không bày tỏ những
suy tư về thời cuộc. - Bây chừ, phủ doãn
Thừa Thiên kiêm Quảng Trị mình là Nguyễn Văn Phong, còn Vũ Trọng Bình đã
ra Bắc, lãnh tuần phủ Hưng Yên (13)! Ông anh có biết tin gì ở Hưng Yên
không? - Vũ Trọng Bình mới
được thưởng vì dẹp được tàn quân Lê Duy Cự. Hậu duệ nhà Lê này bị
án chém từ tháng tư năm Ất mão (1855) năm ngoái (14). Cao Bá Quát khởi nghịch
vào tháng tám, sau bốn tháng, cũng đã chết từ cuối mùa đông Giáp dần
(1854) năm kia (15)! - Tin đó triều đình
cho thông tư khắp nước! – Quan huyện Tường vừa căm giận vừa luyến
tiếc –. Thật uổng cho một nhà thơ có tài, nhưng hành xử kiêu căng và
chỉ gây rối việc thêm cho Đất nước! Đất nước đang đương đầu với
“tả đạo” Tây dương, nội phản, lại chuẩn bị đối phó với thực
dân Phú Lãng Sa (France), Y Pha Nho (Espagnol), Hồng Mao (Anh Cát Lợi, England), Mỹ
Lợi Kiên (US. - Ồ, còn bọn thổ phỉ
Tàu, hải tặc Tàu! Bọn giặc
khách ấy
ghê gớm lắm! Chú chưa ra Bắc, nên chưa rõ đó thôi! Bọn “tả đạo”
cũng như ong, như rươi! “Tả đạo” ở Quảng Trị mình ăn thua chi! Ngó
rứa nhưng các xứ theo “tả đạo” Quảng Trị chưa hề khởi nghịch bằng
vũ trang! Ở Bắc, đã bắt được mấy tên quân sư của bọn chúng là người
Tây… Hóa ra, bọn Tây nhúng tay vào cả vụ Đinh Bảo (Hồng Bảo)! Lần gần
đây nhất, chính quan kinh lược đại sứ Nguyễn Tri Phương khám phá, bắt
được thuộc hạ Đinh Bảo. Đinh Bảo tự xé vải mùng thắt cổ nơi trại
giam, Đào Trí Phú bị lăng trì xử tử! - Hồi sáng nay, cùng với
viên phó quản cơ Định biên và thông lại, tôi cũng có bàn luận với
nhau chuyện này! Thật là thời cuộc quá căng thẳng! Ông anh làm quan ngoài
Bắc, trong - Tháng trước, Phú
Lãng Sa lại sinh sự ở cửa biển Đà Nẵng, ném một phong thư gọi là “xin
thông thương” lên bãi cát, nhưng nội dung lại de doạ gây chiến (16). Cũng
tháng chín Bính thìn (1856), Tự Đức năm thứ chín này, Phú Lãng Sa lại
đưa thư yêu sách, khiêu khích ở cửa biển Thuận An (17)! Thật quá quắt! - Đúng là bọn Tây dương
thật quá quắt! Phong trào Thái Bình thiên quốc của Hồng Tú Toàn bên Tàu
cũng do bọn Tây giúp súng đạn, phải rứa không (18)? Tháng chín, cũng năm
nay, sứ bộ ta đáo lệ lại sang, nhưng tắc đường, phải hoãn. Ba, bốn năm
trước, sứ bộ Phan Huy Vịnh cũng phải kẹt đến ba năm mới về nước
được. – Nguyễn Văn Tường chợt ngừng lại –. Anh có hay tin ất phó sứ
Nguyễn Hữu Huyến, con trai thứ của cụ thượng thư, nhà lịch pháp, toán
học Nguyễn Hữu Thận (người Hải Lăng), đi sứ năm Tự Đức thứ năm
(1852), khi về, đã chết vì nghẽn đường do Thái Bình thiên quốc chưa
(19)? - Chú ở nơi đồn ải
heo hút này lại thạo tin tức hơn cả tôi! - Khách thương Hai người bạn bỗng lặng
im nghĩ ngợi, trong khi mâm cơm đã được hầu cận xin phép để được
bưng lên. Họ chợt thấy chuyện quốc sự trong thời điểm này không thể
nào rời khỏi tâm trí. Dẫu vậy, trong những
ngày Trần Đình Túc ở lại Thành Hoá này chơi, họ đã trao cho nhau đọc
những tập thơ của mình, và cùng nhau ngâm vịnh. Nguyễn Văn Tường có đến
ba thi tập, sáng tác từ năm mười bảy tuổi đến nay. 2 Trong năm Tự Đức thứ
chín, Ất mão (1856), trước dịp Trần Đình Túc lên huyện Thành Hoá thăm,
Nguyễn Văn Tường đã có hai lần cùng với đồng sự được triều đình
khen thưởng. Lần tháng ba theo lịch mặt trăng, ông được thưởng một thứ
kỉ lục (20). Lần tháng tám, lại một thứ kỉ lục sau khi ông đã được
thăng thực thụ tri huyện (21). Nhưng niềm vui lớn nhất, đó chính là đã
cứu giúp được những con người ông thương mến. Hôm ấy, ở công đường
của huyện, một người đàn bà khóc rưng rức vì không dám khóc lớn.
Bên cạnh bà là người chồng phờ phạc và buồn khổ. Họ đã đi tìm đứa
con mới ba tuổi bị bắt cóc khắp những nơi có thể đi. Cùng đường, họ
lần mò lên đây, xin các quan thuộc huyện giúp đỡ. Lập tức quan tri huyện
Nguyễn Văn Tường gọi lính định biên và các thuộc cấp vào bàn bạc. Ở huyện Thành Hoá,
có chín châu người nhân tộc thiểu số: Mường Vang, Na Bôn (Sê Bôn), Thượng
Kế, Tầm Bồn, Mường Bổng, Ba Lan, Tá Bang, Xương Thịnh, Làng Thìn. Đó
là chín châu ki mi được triều đình chủ trương cho hưởng chế độ cởi mở, không
ràng buộc chặt chẽ như người Kinh (22). Có một
khó khăn chung nhưng khó khăn ấy trở nên thậm tệ đối với các châu ấy,
đó là thiên tai dịch bệnh. Mất mùa, đói kém, dân các sách, các chiềng
phải xiêu tán, có khi phải chạy
đói, trốn con ma đói, qua
tận xứ Lào. Dịch thổ tả và các dịch bệnh khác
lây lan, họ cũng phải xiêu tán, chạy
bệnh, trốn con quỷ bệnh, qua
tận xứ Xiêm. Nhân số cứ hao mòn, thất lạc dần. Hai châu Mường Vang,
Na Bôn đông dân nhất, mỗi châu khoảng hai ngàn người, nhưng bị hao mòn,
xiêu tán, có thời điểm chỉ còn vài chục, vài trăm! Sinh nhiều, trẻ nuôi
được lại ít. Sinh suất nhiều, tử suất ở lứa tuổi già lại cao hơn!
Do đó, đồng bào nhân tộc rất thích nuôi trẻ đã hai, ba tuổi. Có người
cho trẻ, bán trẻ, họ mừng rỡ, lập tức xin ngay hoặc mua, hoặc đổi chác
liền tay bằng hiện vật. Quan huyện Nguyễn Văn
Tường cho lính và thuộc cấp xuống các châu, không quên dặn dò phải
tìm gặp các thổ tri châu, các già làng trước, và vạch phương án đối
phó với nạn giấu trẻ vào rừng. Chính quan huyện cũng lên ngựa đến vài
châu có khả năng mua trẻ nhất. Sau vài ngày, quan huyện
nắm rõ: Nguyễn Quyền, tên côn đồ người Kinh đã bị bắt nhiều lần
ở các huyện khác, cũng nhiều lần lọt lưới, lần này lại tiếp tục bắt
cóc trẻ con bán cho đồng bào Thượng. Y đã bị lính định biên bắt được,
đang giải về. Đứa con của hai vợ chồng người Kinh dưới xuôi đã được
tìm ra. Cả hai mừng trào nước mắt, tạ ơn các quan huyện đến nghẹn lời. Quan tri huyện Nguyễn Văn
Tường biết mình gặp phải một nỗi đau chung. Một trận dịch quét qua,
cả làng, cả huyện ở các xứ người Kinh trắng màu vôi bột sát trùng,
cũng trắng màu tang chế chết chóc. Triều đình chẳng phải đã nhiều lần
ban dụ khuyến khích sinh đẻ đó sao? Chẳng phải nơi nào sinh sôi, cư dân
ngày một đông vui, quan sở tại sẽ được trọng thưởng đó sao? Một lần vào dịp
tháng tám nguyệt lịch, phủ thần Thừa Thiên Nguyễn Văn Phong vui mừng tâu
lên đức vua Tự Đức: Huyện Thành Hoá của Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Bằng,
Nguyễn Công Đạo đã chiêu phủ đồng bào thiểu số xiêu tán trở về
thành công. Họ phải qua tận Lào thuyết phục dân, phải tổ chức nơi
sinh sống để đón dân chạy con ma đói, trốn con quỷ bệnh trở về. Lần
này, công lao khó nhọc của thông lại Nguyễn Công Đạo là lớn nhất.
Ông được thăng thưởng thực thụ lại mục. Và mùa xuân, tháng
giêng Đinh tị (1857), năm Tự Đức thứ mười, trong những ngày còn vương
vấn tiết trời lành lạnh và không khí nồng ấm của Tết Nguyên đán nơi
huyện miền núi bạt ngàn hoa cỏ này, quan tri huyện Nguyễn Văn Tường đã
lặn lội cùng chàng trai người nhân tộc Lâm Ngô, con của thổ tri châu
Lâm Kiềm, thuyết phục được hai trăm bảy mươi (270) người thiểu số Vân
Kiều đói rét, xiêu tán trở về để hưởng cái Tết muộn. Quan huyện đã
chuẩn bị thịt tươi, dưa món, bánh tét, bánh chưng và dĩ nhiên, cái
không thể thiếu được, là những ché rượu cần để hâm nóng câu chuyện,
những thanh củi khô nỏ để dành cho các bếp lửa. Ông cũng đã viết tập
đệ trình lên phủ doãn kinh đô Đỗ Quang theo ý nguyện của thổ tri châu
Lâm Kiềm: Lâm Kiềm đã già yếu, xin trao lại chức cho con trai là Lâm
Ngô. Phủ doãn họ Đỗ, người làng Phương Điếm, huyện Gia Lộc, ngoài Bắc,
đã thay phủ doãn trước là Nguyễn Văn Phong, cũng vui mừng thông tư: Vua Tự
Đức đã chuẩn y cho. Trong những ngày tháng
giêng vất vả, rét mướt và nồng ấm đó, viên phó quản cơ Định biên
Nguyễn Bằng, một người có giác quan quân sự bén nhạy, luôn luôn song
hành, góp sức đắc lực cho quan tri huyện. Họ được vua Tự Đức thưởng
mỗi người ba tháng lương để cùng dân hồi hương hưởng Tết muộn (23). Ngoài chín châu mường
ki
mi,
ở Thành Hoá còn có một số buôn làng không phải là châu
thuế dân,
mà thuộc loại châu hoặc sách cống dân. Các
châu làm nghĩa vụ thần dân là nộp thuế, gặp
khi đói rét, dịch lệ sẽ được chẩn cấp. Đó là các châu mường. Các châu bạn (sách bạn)
không
phải là cộng đồng thần dân,
họ chỉ chịu cống lễ theo hạn định, không có nghĩa vụ gì, cũng chẳng
có quyền lợi gì. Họ được xem ở ngoài cõi
giáo hoá của
triều đình! Ba tháng sau, tri huyện
Nguyễn Văn Tường và phó quản cơ Nguyễn Bằng phái thí sai tri bạ Trần
Hựu đến châu bạn Ba Ngạn giáp giới đất Lào để gặp Âm Bôn, trưởng
châu, bàn bạc. Âm Bôn đồng ý thần phục triều đình và hiến một con
voi dạy đã thuần, còn hứa sẽ tiến cống hàng năm. Ba trăm lẻ bốn
(304) người thiểu số châu Ba Ngạn đều trở thành thần dân ki mi. Vua Tự
Đức nghe tin, rất vui mừng và thưởng Âm Bôn cùng các dịch mục hàm chức,
áo quần, tiền bạc, lại chỉ thị cho quan quản đạo mời yến ẩm, đồng
thời cho giảm lệ cống, từ hằng năm xuống ba năm một lần. Kỉ niệm
ấy đối với Trần Hựu còn là dịp được thăng thực thụ, đối với
Nguyễn Văn Tường và Nguyễn Bằng là mỗi người hai thứ kỉ lục (24). Hai tháng sau, vào tháng
năm nguyệt lịch, chàng trai thổ tri châu Lâm Ngô và cha lại cung tiến một
thớt voi (25)! Nguyễn Văn Tường và
các đồng sự cảm thấy tình cảm gắn bó giữa người Kinh, người thượng
du “Tiên thiên hạ
chi ưu nhi ưu Hậu thiên hạ chi
lạc nhi lạc” Lo
toan trước cái lo toan của nhân dân Vui
mừng sau cái vui mừng của nhân dân (26) Kẻ
sĩ, nhà nho nhập thế, dấn thân tham dự vào chức trách chính quyền,
kinh điển Nho giáo chẳng từng khuyên dặn như thế đó sao? Nguyễn Văn Tường
tiếp thụ kinh điển theo cái tình, cái tâm riêng của ông. 3 Một ngày cuối tháng mười
một, ở vùng rừng núi này, mưa cứ lâm thâm kéo dài, gió lạnh cóng cả
cây cỏ. Quan tri huyện Nguyễn Văn Tường ngồi sau án thư, nhìn ra khoảnh
sân trước công đường, trông những làn mưa bay trên cội mai già đã trụi
lá, trên những chậu cúc xanh mượt đang chờ nắng để trổ nụ, bừng
hoa. Thỉnh thoảng, ông cúi
xuống, đưa đầu bút lông vào nghiên mực nho đặc sánh, vê nhẹ. Ngón giữa
và ngón cái cặp vào thân bút, ngón trỏ tì nhẹ vào chỗ gần cán bút,
ông viết những dòng thơ. Đang ngập ngừng tìm một
chữ cho thật đắt, thật đắc địa, ông trông thấy hai người lính
choàng áo tơi, cầm giáo, dẫn hai người khác, thoắt trông thấy là đoán
được ngay: phạm nhân tội đồ. Một người lính định
biên của huyện, sau khi cởi áo tơi, cất nón, bước vào, hai tay cầm ống
tre sơn đỏ đựng công văn. Anh ta thi lễ, trình báo: - Bẩm quan huyện, tỉnh
Quảng Bình, phủ Thừa Thiên và đạo Quảng Trị đã thừa lệnh thi hành
án. Lính kinh phủ và lính dinh quản đạo mới giải giao hai tên phạm đã
chịu phạt trượng lên đây kèm theo công văn của Ty Tam pháp ở kinh. Viên
lính thuộc đạo Quảng Trị làm nhiệm vụ giải giao đang chờ lệnh. - Đưa ta xem. Quan huyện Tường mở dấu
khằng, lấy tờ giấy có ấn triện, đọc và thoáng nghĩ ngợi. - Bảo chúng vào đây. Trong khi chờ họ thi lễ,
trình báo, quan tri huyện nhận thấy hai kẻ phạm pháp này đúng là mặt trắng
học trò. Theo công văn, họ không phải mắc các tội thường phạm. - Các ngươi quê quán
ở đâu, tại sao phạm pháp? – Thừa biết, nhưng quan huyện cứ hỏi để
nghe cung cách trả lời của họ và xem xét thêm một vài khía cạnh khác
–. - Dạ, bẩm quan, chúng
tôi người chính gốc làng Tiên Lễ, làng Lệ Sơn, đều thuộc huyện Minh
Chính, tỉnh Quảng Bình ạ (27). – Giọng
nói yếu ớt –. - Làm gì mà lại can phạm?
– Quan huyện từ tốn hỏi –. Một án lại đến một trăm trượng, đồ
ba năm! Một án lại chín chục trượng, đồ hai năm rưỡi! Tại sao? Người phạm nãy giờ
im lặng bỗng lên tiếng: - Bẩm, dạ thưa quan
huyện, chẳng qua là cũng muốn góp lời, góp tâm huyết, kính mong được
hoàng thượng cải đổi chính sách ruộng đất để yên dân, để chống Tây,
chống “tả đạo” thôi… Dạ, nào ngờ… – Giọng anh ta run run, có lẽ
do một trăm trượng đã lãnh, vết sưng nhức chưa khỏi –. - Hai ngươi là học
trò? Tâu lên hoàng thượng những gì? - Dạ, bẩm quan, lũ học
trò chúng tôi chỉ dám viết
đơn phong kín tố cáo người
trong hạt ngầm theo bọn ngoại quốc, mưu làm việc phi pháp. Kính
xin nói rõ hơn, nội dung thế này: Xét thấy người giàu,
kẻ nghèo mức sống, tài sản không đều nhau. Do thực trạng đó nên các
đạo trưởng Gia Tô đã đem chuyện hoạ
phúc trên trời, dưới đất, còn gọi là thiên đường, địa ngục, để
lừa bịp người giàu, lấy tiền bạc gạo cơm của họ, rồi đồng thời,
lại lấy tiền gạo dụ dỗ ấy mà mua được, dùng được công sức kẻ
nghèo. Từ nhận thức về sự thực đó, chúng tôi xin đức vua lập
ra phép chia ruộng bình quân. Nếu thi
hành phép chia ruộng bình quân thì người giàu, kẻ nghèo đều nhau về tài
sản, về mức sống. Và nhờ vậy, người nước ngoài không thể dẫn
dụ dân ta được (27). Dạ,
bẩm quan, chỉ có như rứa thôi ạ. – Anh ta thưa, có nhiều lúc như đứt
hơi vì mệt –. Quan huyện Nguyễn Văn
Tường hơi giật mình, nghe như có một luồng điện chạy dọc sống lưng.
Ông nhận ra ngay, đó không phải là kiến nghị tầm thường, tuy đâu dễ
gì thực hiện! Ông cũng kinh ngạc khi nghe thấy và chính mắt đọc các
dòng chữ bên cạnh bản án của họ: “đem
lời góp nhặt để cầu tiến là tội nhẹ, lừa dối [về
thực trạng giàu, nghèo…] là tội nặng, không thể không trừng trị được”
(27). Đó
lại là lời châu phê của nhà vua
trên cơ sở bản xét nghĩ của Ty Tam pháp! Dẫu sao, cũng đúng như hai người
học trò kia nói, họ chỉ góp
lời, góp tâm huyết. - Thế giới đại đồng
trong thiên Lễ
ký của
kinh điển Nho giáo ư?… Lí thuyết đại đồng xã hội viễn tưởng (chủ
nghĩa xã hội không tưởng) bên
Tây Âu ư? Lễ ký thì
các người đều học. Có phải
các ngươi nghe các khách thương nói về đạo Cơ Đốc (Christ, Tin Lành) biến
tướng, pha trộn với lí thuyết đại đồng xã hội
viễn tưởng (chủ nghĩa xã hội không tưởng) ở Hồng Tú Toàn và Thái
Bình thiên quốc bên nước Thanh? Hay chỉ nghe nói về lí thuyết đại đồng
xã hội viễn tưởng (chủ nghĩa xã hội không
tưởng) bên Tây Âu? Các ngươi chắc đã biết, phe phái vương tướng
Hồng Tú Toàn, khởi đầu được Phú, Hồng Mao viện trợ, nhưng nửa chừng
chúng lại bỏ rơi, xoay qua giúp nhà Thanh? Bây giờ nội bộ triều đình
Thái Bình thiên quốc cũng đã chia rẽ, sát hại lẫn nhau, đang dần dần
biến chất thành phỉ… - Dạ, bẩm quan huyện,
lũ học trò chúng tôi chỉ nhìn thấy thực trạng và suy nghĩ, mạo muội kính
tâu kiến nghị thôi, chứ ở quê kiểng có sách nhiều mô mà đọc, khách
thương cũng ít người lai vãng… - Tại sao bản sao
trích lục giải giao cải huấn lại ghi rõ là “góp nhặt”? – Quan
huyện Tường chìa mấy tờ giấy –. Thôi… Được rồi,
ta đã hiểu tội trạng… Các ngươi cứ yên tâm. Bây giờ cho ta biết: Ai
là Lương Trợ Lý? Ai là Hoàng Hữu Phu (27)? Người trình bày
khá cặn kẽ về nội dung tập đơn phong kín kia chính là Lương Trợ Lý.
Trong hai người, Lương Trợ Lý là kẻ bị phạt với mức án cao nhất. Nhìn kĩ gương mặt trẻ
trung học trò của họ một lần nữa, quan huyện Nguyễn Văn Tường ôn tồn
bảo: - Các ngươi nhớ chấp
hành án tốt, có thể sẽ được tâu xin giảm án. Nhớ chấp hành thật tốt
đấy! Thôi, theo người lính kia về trại giam. Ngày mai ta sẽ xét… Lát nữa,
sẽ có người mang thuốc đến để tẩm, bóp vào chỗ sưng nhức! - Xin đa tạ quan huyện
ạ… – Giọng nói của họ có chút vui mừng, hơi nghèn nghẹn –. Tại sao? Tại sao lại
trừng phạt hai viên học trò đầy tâm huyết kia, cho dù biện pháp bình
quân ruộng đất là rất khó khăn? Sau khi bảo viên thư lại làm
tờ biên giải giao và tiếp nhận với tên thuộc lại đạo Quảng Trị,
quan huyện Nguyễn Văn Tường ngồi lặng lẽ đọc lại những giòng chữ bản
sao trích lục án trong tập lưu cải huấn phạm nhân, ông thừ người suy
nghĩ. Ông đứng dậy, bước tới khung cửa, nhìn ra ngoài sân. Mưa đang lất
phất bay, lạnh buốt. Không, ông tự nhủ, bây giờ
cái chính là suy nghĩ cách đối phó với bọn thực dân Phú Lãng Sa, bọn
“tả đạo” giả mạo tôn giáo! Ông cũng mới vừa nghe tin, ở Hưng Yên,
Nam Định, cuối tháng mười một năm Tự Đức thứ mười (1857) này đây,
bọn giặc theo đạo Gia Tô đang quấy nhiễu (28)! Truyện
kí thứ ba (còn tiếp)
(1)
Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.),
tập 27, sđd., tr. 423; Yoshiharu Tsuboi, Nước
Đại Nam
đối diện với Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVP.
& TH.), sđd., tr.
170 – 178. (2)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 9 – 10. (3)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 60 – 61. (4)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 62 – 82. (5)
Xem
chú thích (34). (6)
Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại
(7)
Viện
Văn học, Từ
điển văn học
(TĐVH.), tập 1, sđd., tr. 129. (8)
ĐNLT.,
tập 3, sđd., tr. 344 – 345. (9)
ĐNLT.,
tập 4, sđd., tr. 510 – 512. (10)
Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại
(11)
ĐNLT.,
tập 4, sđd., tr. 235 – 238. (12)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 253. (13)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 202. (14)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 112. (15)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 84 – 85. (16)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 275 – 277. (17)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 282 – 283. (18)
Phan
Khoang, Trung
quốc sử lược
(TQSL.), ấn quán Hồng Phát, Chợ Lớn, 1958, tr. 353 – 368, tr. 376. (19)
ĐNLT.,
tập 2, sđd., tr. 447 – 450 (20)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 217. (21)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 271. (22)
ĐNNTC.,
tập 1, sđd., tr. 103 – 109. (23)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 314 – 315. (24)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 324. (25)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 335. (26)
Vũ
Đức Sao Biển, bài “Đọc
thơ Nguyễn Văn Tường”,
trong Nhóm chủ chiến triều
đình Huế và Nguyễn Văn Tường (NCCTĐH.
& NVT.), kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996,
tr. 72. Xin xem thêm: Trần Xuân An (biên soạn), Kì
Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người,
tâm hồn và tư tưởng (PCĐT.
NVT., VNVCN., TH.
& TT.), bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản). Thơ Nguyễn
Văn Tường, do hậu duệ sưu tập, chỉ còn lại 65 bài. (27)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 381 – 382. (28)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 384, 38, 392…
à
xem tiếp truyện kí thứ 3 (P. 2) |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com