4 Tri huyện Thành Hoá
Nguyễn Văn Tường ngay tức khắc nghe được tin thực dân Phú Lãng Sa tấn
công vào Đà Nẵng khi sự biến xảy ra (29). Đó là một luồng tin tức chạy
nhanh như làn chớp khắp kinh sư, các tỉnh tả hữu trực kì và khắp cả
nước! Báo động! Báo động! Ngày hai mươi bốn tháng
bảy, Mậu ngọ (01.09.1858), năm Tự Đức thứ mười một, mười hai chiếc
thuyền binh Phú Lãng Sa và Y Pha Nho vào cửa biển Đà Nẵng, tỉnh Quảng
Nam, bắn phá hai thành Điện Hải, An Hải, mở đầu cuộc xâm lược thực
sự bằng súng đạn vào nước ta, nếu không kể vụ bắn chìm năm chiếc
thuyền chiến cũng tại nơi đó vào năm Thiệu Trị thứ bảy (1847)! Thời
điểm này, ông biết, tuần vũ Nam – Ngãi là Trần Hoằng, bố chính sứ
Quảng Nam là Thân Văn Nhiếp, và không ai khác, Lê Văn Phổ đang lãnh nhiệm
án sát. Văn Nhiếp, Văn Phổ đã bị giáng bốn cấp, lưu nhiệm! Nguyễn Văn Tường thừa
hiểu, để dập tắt những cuộc dấy loạn của “tả đạo” bên trong,
tất nhiên các vụ trấn áp của quan quân triều đình phải diễn ra, kèm với
các đạo dụ cấm đạo liên tiếp được ban hành. “Tả đạo” đã tạo
cớ cho thực dân “can thiệp” nhằm mưu toan xâm lược toàn diện nước
ta, chủ yếu là cướp bóc của cải và sức người! Hãy nhìn quanh các nước
Ấn, Miến, Hạ Châu, Cao Ly, Thanh… Hãy đọc những cái được gọi một cách
mỉa mai là “hoà
ước” bọn
Tây dương ép buộc các nước ấy phải kí! Thành Hoá đã được
khởi động việc tăng cường phòng thủ. Hơn bao giờ hết, tri huyện Nguyễn
Văn Tường nhắc nhở các đội quân thuộc huyện, đặc biệt là tham mưu
cho đội quân Định biên, phải lo đắp sửa đồn bảo, nhất là bảo Ải
Lao. Nỗi lo toan trực tiếp và lớn nhất của triều đình là bị tấn
công phía các cửa biển. Kế đó, là nỗi âu lo về khả năng thứ hai, bọn
Hồng Mao và Phú-lãng-sa từ đất Miến, Xiêm có thể vượt đất Lào,
sông Khung (Cửu Long), đánh tập hậu kinh đô đồng thời với việc uy hiếp
hai cửa biển Thuận An, Tư Hiền ở Thừa Thiên, cùng hai hải khẩu khác,
Tùng Luật, Việt Yên ở Quảng Trị. Tuy nhiên, cũng như đồn bảo sơn phòng
Ải Lao là quan trọng nhất so với các đồn sơn phòng khác, cửa biển hải
phòng Thuận An vẫn trọng yếu nhất trong bốn cửa biển kinh sư. Ở đây
đã có Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Bằng, dưới kia đã có Trần Tiễn
Thành, Nguyễn Như Thăng. Cơ Định biên của Nguyễn Bằng đã được tăng
cường quân số. Trong khi lo tiến hành
phòng thủ sinh điểm của kinh đô, Nguyễn Văn Tường ngày ngày tìm cách lắng
nghe tin tức từ Đà Nẵng, nghiên cứu các thông tư mật của triều đình.
Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương, sung làm tổng thống quân thứ Quảng Nam
(30), đã ra trận, dùng chiến thuật đào hào đánh lấn, có những trận thắng
rất oanh liệt. Ông nhận định: “Giặc
lấy chiến
làm lợi [thế], ta lấy thủ làm lợi [thế]”, và
kính kiến nghị: “Xin lấy thủ làm
chiến, đắp thêm đồn luỹ, để dần dần tiến đến gần giặc” (31). Bọn
giặc Phú Lãng Sa và Y Pha Nho đành cầm cự,
không tiến được, vì thế. Vả lại, chúng bị mắc kẹt quân ở Tàu (32). Hơn nữa, khác với lời hứa hẹn của
các cố đạo, sẽ có hằng vạn tín đồ hiệp lực, chúng không ngờ,
sự thật, “tả đạo” người Việt ở Đà Nẵng ra mặt ủng hộ chúng
chỉ vài chục người với độc nhất một đạo trưởng (linh mục) (33)!
“Tả đạo” Đàng Trong không “nhẹ dạ” như “tả đạo” Đàng
Ngoài ư? Đó là băn khoăn, thắc mắc của vua Tự Đức. Và chính Phan Thanh
Giản, sau đó, đã thưa rõ nguyên nhân: Đàng ngoài theo “tả đạo” nhiều
hơn (34)! Ở Bắc Kì, tại Hải
Dương, hai tên đầu sỏ giặc theo đạo Gia Tô, Nguyễn Đình Đường, Hoàng
Văn Điển, đều là tay chân của tú Yêm, của cố đạo Tây lấy tên Việt
– cụ Xuyên (35). Chúng đã chịu tội chết. Tại Quấy nhiễu Bắc Kì, đánh
Trung Kì, thế là rõ thủ đoạn của giặc! Chúng muốn đánh lạc hướng, chia nhỏ lực lượng phòng
thủ của ta! Tháng chín nguyệt lịch,
tri huyện Nguyễn Văn Tường được thăng tán lí Bộ Binh (37), vẫn giữ chức
vụ cũ. Với quân hàm mới này, ông đã trở thành một quan văn kiêm làm
nhiệm vụ quân đội. Lại nghe tin ở Bắc
Kì, tàu chiến Tây dương vào đỗ ở Dậu Sơn, tỉnh Hải Dương, bọn cố
đạo Đỗ Thế Hùng (cụ Thái) họp quân ở Đông Triều, cũng thuộc tỉnh
ấy! Quỷ quái hơn, chúng còn cho một kẻ ngụy xưng là hậu duệ vua Lê, với
cái tên Lê Duy Minh, có các tên giặc khác như Trần Văn Tùng, Trần Đức
Thịnh phù giúp! Ở Những tưởng với quân
hàm mới, tán lí Bộ Binh, ông sẽ được ra trận, vào tận mặt trận
nóng bỏng nhất là Đà Nẵng, nhưng Nguyễn Văn Tường cũng tự biết, không
ai có thể thay ông ở vị trí phòng thủ xung yếu này, một địa bàn ông
đã thuộc như lòng bàn tay. Ông chỉ còn biết ngoài việc tăng cường phòng
thủ, còn phải kịp thời và ra sức vận động dân sơn nguồn tìm bắt,
tìm mua voi đánh trận theo kiến nghị của Bộ Binh đã được vua chuẩn y
(41). Đầu năm Tự Đức thứ
mười hai (1859), tháng giêng, sau Tết Nguyên đán, khi Nguyễn Văn Tường bước
vào tuổi ba mươi sáu, giặc Phú và Y lại chuyển hướng, tấn công vào
Phúc Thắng thuộc Biên Hoà và các đồn bảo ở Gia Định (42)! Vũ Văn Kịch ở Hải
Dương lại quấy phá mạnh (43)! Và giặc Tây đánh chiếm
thành Gia Định! Gia Định đã thất thủ (17.02.1959) (44)! Dẫu đã trực cảm mưu
kế dương đông kích tây của giặc, Nguyễn Văn Tường không khỏi sửng sốt.
Thế là rõ! Ở Bắc Kì, cố đạo
Tây dương, làm cố vấn quân binh, cùng “tả đạo”
Việt khởi loạn là chính. Quân Phú và Y không dám xâm chiếm
Bắc Kì bởi chúng sợ đụng đầu với quân Thanh. Vả lại, cần chiếm
Nam Kì để làm bàn đạp đánh chiếm Cao Mên và Lào. Mên, Lào dẫu sao cũng
dễ nuốt hơn Vân Suốt ngày đêm, Nguyễn
Văn Tường suy nghĩ về mưu kế của bọn xâm lược da trắng. Có những
điều trước đó chỉ mới là trực cảm trong nhận thức ông. Nhưng rồi phải trút hết
tâm lực của mình theo lệnh vua: phòng thủ kinh đô! Vũ Văn Thục được
tăng cường về làm tuyên phủ sứ, Nguyễn Tán làm lãnh binh đạo Quảng
Trị. Hai cửa biển Việt Yên, Tùng Luật được tăng cường lính hải
phòng (45). Nguyễn Văn Tường tập hợp các tổng lí, tri châu, già làng để
thông báo: Triều đình cho bảy nghìn bảy trăm sáu mươi (7.760) nhân khẩu
đồng bào Thượng thuộc chín châu tại huyện nhà được hoãn thuế năm
(5) năm nữa (46). Ông nói rõ với đồng bào, thời điểm chiến tranh này,
các nơi đều phải tăng các khoản nộp ngoài thuế nhằm phục vụ quân
nhu, riêng đồng bào thiểu số huyện nhà chúng ta lại được ưu đãi đó. Sau cuộc họp dân, tin
chiến sự lại ập đến: Bọn Phú và Y lại đánh phá Thạch Than, tại Đà
Nẵng (47)! Chúng mở ra ba mặt trận: Trung, Bắc và Thành Gia Định thất
thủ gây chấn động cả nước. Triều đình mở rộng các cuộc đình nghị
với các tập tâu của các đình thần, các thần, nha thần: Chiến? Hoà? Thủ? Chiến? Hoà? Thủ? Có
ba loại ý kiến dâng tâu. Nguyễn Văn Tường sung sướng khi nghe tin bạn
ông, Nguyễn Đăng Điều, con rể của cụ thượng thư Bộ Binh Trương
Đăng Quế, kiên quyết giữ ý kiến chiến và thủ, trong khi đó nhiều quan
lại lừng chừng, hoà và thủ. Vua Tự Đức phải nói: “Các
ngươi biết việc đánh, việc giữ
là khó, mà không biết việc hoà lại càng khó hơn”, bởi
hoà, thực chất là phải nhân nhượng một số điều khoản có lợi
cho giặc, như mở cửa biển cho chúng buôn bán thu lợi, lại cho chúng tâm
công vào dân ta bằng cách truyền bá “tả đạo”…
Nhà vua cũng không dứt khoát điều gì, đến nỗi Bùi Quỹ mới
từ Bắc công cán về, thấy như thể kẻ cầm dầm, người cầm chèo,
trái khoáy, ngược chiều nhau trước vận nước, phải tâu lên: Xin
nhà vua quyết đoán
(49). Trong lúc Quảng Trị đang lo mua
đá núi, gỗ cây cho việc đào sông, phòng thủ (50) dưới sự chỉ đạo của
quan quản đạo và của phủ doãn Phan Đình Tuyển, trong lúc nhân dân Quảng
Trị lập kho nghĩa thương chẩn cấp hộ điêu háo, lo lạc quyên gạo, chở
vào mặt trận Quảng Nam phục vụ chiến sĩ (51), trong lúc tri huyện Thành
Hoá Nguyễn Văn Tường khéo léo thuyết phục trưởng bang châu Tá Bang Lĩnh
Tuấn tiến dâng một thớt voi trận và chiêu tập đồng bào thiểu số tốt
(52), thuyền chiến Tây dương lại đốt năm chiếc thuyền vận tải của
triều đình và ba chiếc thuyền buôn của dân ta ngoài biển Quảng Trị, Quảng
Bình (53)! Quan tri huyện Nguyễn
Văn Tường rất xúc động khi nghe tin Trần
Đình Túc đã từ Phú Yên ra mặt trận Quảng Nam với quân hàm, trong tháng
chín Kỉ mùi (1859) này (54). Vậy là ở mặt trận Nam Kì, có tri phủ Định
Tường Trần Xuân Hoà (55), có cả tuần vũ
Biên Hoà Nguyễn Đức Hoan (56). Đó là ba người đồng hương Quảng
Trị đang đứng trên các vị trí chiến đấu. Nếu nghĩ rằng sự luận bàn
phương lược ở triều đình vừa rồi cũng là một cuộc chiến đấu trên
lĩnh vực lí luận chỉ đạo, thì Quảng Trị của Nguyễn Văn Tường có một
Nguyễn Đăng Điều (57). Tri huyện tán lí Bộ Binh Nguyễn Văn Tường những
mong ba người bạn của anh và tiến sĩ Nguyễn Đức Hoan sẽ đóng góp sức
mình cho Tổ quốc một cách thật trí tuệ, hào tráng. Và Hoàng Hữu Xứng
nữa, người đồng hương đỗ cử nhân sau ông một khoa, nghe đâu cũng
đang là một huấn đạo được vua Tự Đức cho quyền nhiếp tri huyện,
điều động binh thứ, mặc dù được bổ nhiệm làm nhà giáo chỉ mới bốn
tháng (58)… 5 Tháng giêng ở huyện
miền núi Thành Hoá vẫn còn mưa bay, lạnh buốt. Sang tháng hai, cây cỏ mới
thực sự phơi phới trong nắng xuân. Đất trời có tình hay vô tình, không
rõ lắm, nhưng cái nắng tươi tắn, non tơ giúp cho Thành Hoá tỉnh táo lại
sau những ngày tháng căng thẳng vì đao binh trên Đất nước. Tri huyện Nguyễn Văn
Tường, cùng với hai vị quan từ kinh đô ra xứ này công cán, bước trên
lối nhỏ chạy men theo phía trong thành luỹ. Một người là bạn cùng
làng, Nguyễn Đăng Điều, hiện đảm nhiệm một nha, trực thuộc một bộ
trong lục bộ, sung làm chức năng khâm phái. Một người khác, Nguyễn Túc
Trưng (59), hồi còn là giám sát ngự sử tả kì, đã khiến tham tri Phạm
Khôi, nguyên tuần vũ Trị – Bình, cũng phải một phen bị ông tâu hặc,
phải chịu phạt bổng đến sáu tháng do vợ bìu con ríu trong lúc cùng ông
ra hữu kì phía Bắc thăm xét tình cảnh dân bị lũ. Người nổi tiếng là
ngôn quan dám nói thẳng ấy cũng đã từng viết sớ can vua Tự Đức không
nên sửa chữa hành cung lúc nhân dân khốn khó, tai biến xảy ra luôn, lại
khuyên vua cần đổi mới nếp đế vương, nên kiệm ước trong mọi sinh hoạt,
và đã được vua khen. Đó là một người Nam Kì, quê ở Hắc Lăng, huyện
Phước Yên, đỗ cử nhân thời Thiệu Trị, năm thứ ba, tại trường thi
Gia Định. Bây giờ ông đã sắp chuyển qua làm thự phủ thừa kinh sư. Không biết đang liên tưởng
điều gì, Nguyễn Túc Trưng mỉm cười: - Quan huyện có biết
vì sao mình đổi tên từ Nguyễn Văn Hưng thành Nguyễn Túc Trưng không? - Có lẽ trùng tên với
quan lớn Nguyễn Văn Hưng thời tiên đế Thiệu Trị? – Nguyễn Văn Tường
cũng mỉm cười, nhớ lại chuyện cũ năm mười tám tuổi –. - Vậy là ông nhớ rõ
rồi! Thời gian cũng nhanh thật!… À, vậy là quan huyện cũng đã bảy,
tám năm nhậm chức ở đây? - Vâng, đúng vậy. - Tuyên phủ sứ Vũ
Văn Thục làm việc tốt chứ? – Khâm phái Nguyễn Đăng Điều khẽ hỏi
–. Trước đây, ông ta có tâu xin rút quân Định biên Quảng Trị vốn đã
được điều động vào đóng tại kinh đô ra lại, để trấn giữ Bảo Đài
(giáp Quảng Bình). Mặc dù đồn ấy không quan yếu, nhưng vua cũng chuẩn
cho (60). Quan yếu bậc nhất vẫn là đồn bảo Ải Lao… Phải ra sức chú
ý tăng cường ở Ải Lao… - Vũ Văn Thục cần mẫn…
Quan yếu nhất vẫn là lòng dân. “Việc nước cốt
ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. –
Quan tri huyện Nguyễn Văn Tường đáp –. Cụ Nguyễn Trãi bảo thật chí
lí. Việc nước, cốt yếu là phải lấy dân làm gốc, dân
vi bản.
Việc
quân, cũng thế, đồng thời, trước hết phải trừ tham quan ô
lại bạo ngược… Đó là cách phòng thủ tốt nhất. Lâu nay, tôi vẫn xem
đó là tôn chỉ của huyện. - Vừa đi, ta vừa đàm
luận với nhau về “tả đạo” ở huyện nhà nhé! – Khâm phái Nguyễn
Túc Trưng nói –. Tháng chạp năm kia, Kỉ mùi (1859), sau khi ban bố đạo dụ
cấm quan lại theo đạo Gia Tô (61), Quảng Trị ta là nơi không có vấn đề
gì trong quan chức… Nhưng, khi ban hành các sắc dụ cấm dân theo “tả
đạo”, dân tình ở huyện nhà thì thế nào? Chậm rãi bước như ba
người đang bách bộ ngắm cảnh, họ cùng đang nghĩ ngợi. Quan huyện Nguyễn
Văn Tường cười: - Quan khâm phái hỏi
ở dân, chắc họ cũng trả lời như tôi: Huyện tôi cũng có vài chục hộ
như ở xã Ngọc Đường, tỉnh Hưng Yên ngoài Bắc, đã tự nguyện tu sửa
lại đình làng, nhà thờ tộc, thắp hương khấn niệm trời đất, ông bà
tổ tiên, không lặn lội đi nhà thờ Chúa nữa (62)… – Quan huyện lại hỏi
–. Hình như các khoa đạo có phát hiện ra quan lại lén lút theo “tả đạo”? - Có đấy! – Khâm
phái Nguyễn Đăng Điều gật đầu trả lời –. Tất nhiên, những kẻ ấy
đã bị trị tội. Đây là đợt thanh lọc hàng ngũ quan chức. Tình hình Đất
nước rất căng thẳng. Bọn Phú và Y liên minh với nhau, quyết đánh ta
phen này. Không ngờ thành Gia Định binh lực hùng hậu đến thế cũng thất
thủ rất nhanh! Ông Nguyễn Văn Tường chắc đã nghe tin, kinh lược sứ
sung tổng thống quân thứ Nguyễn Tri Phương bị trọng thương, ngay trong trận
đại đồn Chí Hoà tỉnh Gia Định (25.02.1861) (63)? Thật là tin sét đánh
ngang tai! Đức vua sửng sốt, gầy rạc người. Quan huyện Nguyễn Văn
Tường lặng người, không biết nên nói gì. Một lúc lâu, ông khẽ nói: - Xưa nay, ai cũng tin cậy
vào quan kinh lược họ Nguyễn. Đó là một danh tướng lừng lẫy chiến
trường ở nước Miên. Nhưng với bọn bạch tạng Phú, Y này… Đối phó với súng thép, tàu đồng của
chúng, quả thật, ta không dụng kế là không đánh nổi. - Thật đúng ý mình!
Đồn luỹ kiên cố cũng bó tay! – Khâm phái Nguyễn Đăng Điều chỉ vào
thành đất cao hơn sáu trượng, dày hơn một trượng bên cạnh lối đi –.
Thành này làm sao sánh với thành Gia Định, đại đồn Chí Hoà. Một phần
mười, một phần hai mươi! Muốn đánh chúng, phải dụ chúng vào sâu trong
sông, trong đất liền rồi mới cận chiến. Phục kích, cận chiến, là
cách loại bỏ súng trường, súng liên thanh, súng đại bác có sức công
phá mạnh của chúng. Phải giáp lá cà, súng ngắn của chúng không kịp trở
tay. Phải thanh
dã kế, vườn không nhà trống. Thế
mà có nhiều người vẫn bàn hoà! –
Nguyễn Đăng Điều cười khẩy –. Hòa trong thế bại là hàng, ít ra cũng
nhân nhượng đến mức không chịu nổi. - Phục kích, cận chiến,
ta không thể thua chúng, đồng ý. Cũng đồng ý không cậy đồn luỹ, phải
thực hiện kế
thanh dã, vườn không nhà trống. Tuy
nhiên, về lâu về dài, ta cũng phải súng
thép, tàu đồng như chúng. – Quan huyện Nguyễn Văn Tường nói –. Đoản
binh, trường trận đều phải tính đủ! Khâm phái Nguyễn Túc
Trưng gật gù, một thoáng lại cau mày: - Quan huyện chắc chưa
rõ, bọn Phú và Y đã đỗ thuyền chiến ở Ngao Châu, có lẽ chúng sắp đánh
Vĩnh Long! Thế mà tháng giêng ta năm ngoái, thống soái Va Du (Page) đưa “hoà”
ước mười một điều đến quân thứ Gia Định (64)! Bọn giặc bạch tạng
này muốn đánh nữa để bức ép triều đình phải kí! – Ngừng lại, ngẫm
nghĩ, ông cảm khái –. Mình là người Nam Kì, không thể ngồi yên ở kinh
đô được! Mình đã làm sớ tình nguyện xin đức vua cho mình vào quân thứ
Nam Kì sống mái với chúng một phen. Tiến sĩ, hồng lô tự khanh, biện lí
Bộ Binh Đỗ Thúc Tĩnh, người Hoà Vang, Quảng Nam, cũng tình nguyện như mình…
Nhưng các ông không đi được đâu. Không ai thay các ông được! Mình rành
từng mô đất, lòng sông quê mình, cũng như các ông rành rõi từng ngọn
núi, bờ nương xứ kinh sư này. – Ông ngừng lại, nén tiếng thở dài, bức
bối –. Ồ, bọn giặc Hồi cờ trắng tràn qua cướp phá Bảo Thắng, Thuỷ
Vĩ ngoài Hưng Hoá (65), bọn Cao Mên phản loạn qua đóng đồn ở Chu Ức,
Trà Bông trong Gia Định (66)! Đủ thứ giặc! Tình hình gay go lắm, kể cả
lương thực. Ba người vẫn bước
theo con đường men theo thành luỹ. Vừa bàn luận, chuyện trò, hai khâm
phái triều đình vừa quan sát hệ thống phòng thủ của Thành Hoá. Nắng
đã lên khá cao trong không khí dịu mát miền núi. Lát sau, họ về đến
công đường huyện. 6 Cũng thật không ngờ,
tiếp sau đó một tuần trăng, tri huyện Nguyễn Văn Tường đau xót trong niềm
bi tráng khi hay tin tri phủ kiêm binh bị Định Tường Trần Xuân Hoà bị giặc
Phú bắt được, tra khảo. Chúng tra tấn phục thù người đã có sáu lần
đánh tan tác bọn chúng và ma tà. Ông không chịu nhục, đã cắn lưỡi tự
sát. Trần Xuân Hoà tử tiết, thành Định Tường cũng thất thủ
(12.04.1861) (67)! Nguyễn Bá Nghi thay Nguyễn
Tri Phương lại chỉ chuyên bàn “hoà”: “Sự thế
Đầu năm Nhâm tuất, năm
Tự Đức thứ mười lăm (1862), Nguyễn Văn Tường lại nghe một lúc hai
tin về đồng liêu và đồng hương: Tháng mười âm lịch (1861), Hoàng Hữu
Xứng được khen thưởng, vì tiêu diệt thành công bọn cố đạo Tây xúi “dữu dân” Tuy
Viễn (Bình Định) quấy phá hậu phương; tháng ba âm
lịch năm nay, huấn đạo Xứng sẽ được thăng tri huyện Hà Đông (Tam
Kì, Quảng Nam). Tháng giêng (1862), tuần vũ Biên Hoà Nguyễn Đức Hoan, người
đã cùng Nguyễn Thế Trị (làng Hương Liễu) làm rạng danh đại khoa cho Quảng
Trị, đã bị cách chức, về quê với nguyên tịch (không bị tước học vị
tiến sĩ), vì Biên Hoà thất thủ (18.12.1861), Bà Rịa bị giặc chiếm
(07.01.1862), không tập hợp được sĩ dân (73)! Và lại những tin tức
phấn chấn tiếp theo tin đau lòng lại ập về kinh sư, thông tư ra Quảng
Trị! Gần đúng một năm từ
ngày hai khâm phái Nguyễn Đăng Điều, Nguyễn Túc Trưng ra Thành Hoá kinh
lí, trận Nhật Tảo (74) ở Nam Kì
gây rúng động quân Phú và Y. “Hoả hồng Nhật
Tảo oanh thiên địa Kiếm bạc Kiên
Giang khấp quỷ thần” Lửa
hồng Nhật Tảo lừng trời đất Gươm
trắng Kiên Giang rúng quỷ thần! Nhưng, chẳng bao ngày
sau, thành Vĩnh Long thất thủ
(23.03.1862) (75)! Và đau đớn thay, Phan
Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp đã nhanh chóng kí “hoà” ước Nhâm tuất
vào đầu tháng năm (09.05 âm lịch, 05.06.1862) (76), trong niềm phẫn uất của
sĩ dân Nam Kì: “Phan, Lâm mại quốc Triều đình khí
dân” Phan,
Lâm bán nước Triều
đình bỏ dân! trong
lời than thống thiết của vua Tự Đức: “Thương
thay con đỏ của triều đình,
nào có tội gì! Rất đau lòng! Hai viên này không những là người có tội
của bản triều, mà là người có tội của nghìn muôn đời vậy!” (77). Chẳng lẽ nhà vua, đình
thần và các quan không chịu trách nhiệm gì sao? Phải chăng bọn “tả đạo”
người Việt không phải là người Việt nữa? Nhà vua dùng người sai lầm
như về sau đã từng tự trách (78)? Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp, hai người
nhân dân đã nguyền rủa ấy, thường khi họ luôn tự răn lòng: “nhất thịnh phạn,
bất vong cố quốc” (mỗi
bữa cơm ngon, không
quên nước cũ). Trách họ ư? Trách ta ư? Những người ấy nào đã sâu nặng
gì với Tổ quốc này, non sông đất nước này? Họ đã kí những gì với
giặc, để hi vọng sau khi kí xong, “có thể ngồi mà trông
thấy giàu mạnh” (79)? Thật
lòng, Nguyễn Văn
Tường không dám và không nỡ trách ai, nhưng không phải không nghĩ rằng lời
nguyền rủa ấy là không thể không đúng (?)… -
Phú
và Y được tự do truyền “tả đạo”. -
Mất
hẳn cho giặc Phú ba tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường và đảo Côn
Lôn; thuyền chúng được tự do ra vào trên sông Mê Kông. -
Muốn
giao thiệp hoặc nhượng đất cho nước nào, phải được giặc Phú thuận
cho. -
Mở
ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho Phú và Y vào buôn bán. -
Phải
nộp cái gọi là “bồi
thường chiến phí” cho
Phú và Y 4.000.000 nguyên; chia ra mỗi năm giao nộp 400.000. Mỗi nguyên (đô-la)
là 0,72 lạng bạc ròng. -
Phú
sẽ trả lại Vĩnh Long khi triều đình nước ta rút hết quân thám báo, nhưng
chúng vẫn đóng quân ở tỉnh lị. Không còn gì đau đớn,
xót xa, tủi nhục hơn! Ngay trong những ngày
chuẩn bị kí “hoà” ước, lãnh binh quan Nguyễn Tán đã vào kinh, với chức
vụ chưởng vệ, quyền chưởng doanh Hùng Nhuệ, bảo vệ kinh thành (80).
Tôn Thất Đính mấy năm trời vào Nam Kì quyết tâm đánh giặc, cũng phải
chuẩn bị về kinh đô thay Nguyễn Sơn làm đề đốc kinh thành (81), để lo trấn giữ lòng dân phẫn uất!
Ông đang rơi vào bi kịch… Tri huyện Thành Hoá
mang quân hàm tán lí quân vụ Nguyễn Văn Tường cũng rời vùng đất xung yếu
ấy, sau thời gian suốt chín năm hơn bảo vệ sinh
điểm
(cũng gọi là huyệt
đạo tử
vong)
của kinh đô và của cả nước, để vào kinh giữ chức
viên ngoại lang Bộ Binh (tòng tứ phẩm). Chẳng bao lâu, ông lại vào Quảng
Nam làm án sát sứ, không kịp về quê hương Quảng Trị dự lễ khởi công
xây đền thờ người anh hùng trung nghĩa Trần Xuân Hoà, theo sắc dụ của
vua Tự Đức (82). Nguyễn Văn Tường rời
huyện miền núi Thành Hoá trong niềm đau về vận nước, trong nỗi ngậm
ngùi xa biệt một nơi đã trở thành quê hương thứ hai của ông, nơi đã
cho ông bao kỉ niệm thời thơ ấu và những tháng năm cường tráng nhất của
đời người. Trong tâm hồn thơ ca của tri huyện Nguyễn Văn Tường mãi sừng
sững ngọn núi Tá Linh (Voi Phục), vọng sơn của tỉnh, mãi thơm ngát hương
hoa mai vàng và trắng trên núi Mai Lĩnh, núi Mai Đàn, mãi in dấu động Tam
Thai với hình tượng “chúa ngồi tôi
đứng”, mãi
mãi lưu giữ bao giờ khắc ông suy tư
bên đầu nguồn sông Hiếu chảy về đông, biển Thái Bình, bên đầu nguồn
sông Cam chảy về tây, sông Khung (Mê Kông) (83). Nhưng trên tất cả, đó
là sự chan hoà, sum vầy, đông vui ngày càng thêm của ngót tám ngàn đồng
bào Thượng bên cạnh những xóm làng trù phú của đồng bào Kinh, trên
vùng đất Cam Lộ, Hướng Hoá, Đắc Krông, được gọi chung là Thành Hoá thân thương
trong
trái tim ông. Hơn chín năm, một huyện
miền núi ấy!
TRẦN
XUÂN AN
(29)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 424. (30)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 456. (31)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 466. (32)
Dương
Kinh Quốc, Việt
(33)
NĐNĐDVP.&TH.,
sđd., tr. 71. (34)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 472. (35)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 454. (36)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 455. (37)
Gia phả, sđd.;
xem thêm:
Lê
Tiến Công,
“Niên biểu Nguyễn Văn Tường”,
trong tập Các
báo cáo khoa học
(CBCKH.), Hội
thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường,
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học
lịch sử Thừa Thiên – Huế, 02.07.2002., tr. 141. (38)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 464, 459, 466, 468, 473… (39)
ĐNLT.,
tập 4, sđd., tr. 187. (40)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 473. (41)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 470. (42)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 9, 11. (43)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 12. (44)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 12 – 13. (45)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 17. (46)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 19. (47)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 25 – 26. (48)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 35. (49)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 37 – 41. (50)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 42 – 45. (51)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 74. (52)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 48. (53)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 57. (54)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 71. (55)
ĐNLT.,
tập 4, sđd., tr. 399. (56)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 11. (57)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 39. (58)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 245, 293 – 294. (59)
ĐNTL.CB.,
tập 28, sđd., tr. 252, 366; tập 29, sđd., tr. 203. Xem thêm: Quốc
triều hương khoa lục
(QTHKL.), sđd., tr. 245 – 246. (60)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 80 – 81. (61)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 91. (62)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 438. (63)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 184. (64)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 99. (65)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 167. (66)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 119. (67)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr.197. (68)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 208 – 213, 226 – 228. (69)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 239. (70)
NĐNĐDVP.
& TH., sđd., tr. 250 – 251. (71)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 263 – 264. (72)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 255 – 256. (73)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 279 – 280. (74)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 283 – 284. (75)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 286 – 289. (76)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 297 – 305. (77)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 302. (78)
ĐNTL.CB.,
tập 31, sđd., tr. 270. (79)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 322. (80)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 296. (81)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 346. (82)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 318 – 319. (83)
ĐNTL.CB.,
tập 29, sđd., tr. 318 – 319.
à
Xem tiếp truyện kí thứ 4 © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com