1 Mưa tháng giêng lất phất
bay suốt cả mươi ngày qua. Sáng nay, trời hơi hửng nắng nhưng vẫn còn
những luồng gió se lạnh. Hôm qua, quan án sát Nguyễn Văn Tường dự định
mai nay, cho dù mưa hay nắng, cũng sẽ ra cánh đồng Mậu Hồng thắp những
nén hương tưởng nhớ những người thân thuộc đã khuất, nhất là trên
hai nấm mộ của cha và mẹ. Trước ngày chạp mộ trong năm, một ngôi hãy
còn xanh chưa đều cỏ và một ngôi đất đắp vẫn còn mới. Đó là những
nén hương tạ lỗi trước khi phải rời quê nhà ra đi. Ông không thể
trái lệnh của nhà vua và Bộ Lại, mặc dù rất đau lòng. Phải đành ra
đi, khi đang trong thời hạn cư tang, hai cái đại tang liên tiếp cách nhau năm
tháng ngắn ngủi, để vào kinh nhận công việc được giao phó! Với hai vành khăn
tang, hai bộ áo quần tang trắng, quan án sát và đứa con trai đầu lòng đã
mười sáu tuổi, cầm hai nén hương khói bay nghi ngút, đứng trước nấm mộ
chưa xanh cỏ, thầm khấn nguyện. Khi cắm xong nén hương
dưới chân mộ, ông nói với con trai: - Thiều, con! Con biết
đấy, cha phải vào kinh đô. Do đó, con là cháu đích tôn của ông nội và
mệ nội, con thay cha để cư tang cho tròn đạo hiếu. – Quan án sát bỗng
nghẹn lời, cắn chặt môi cho khỏi bật ra tiếng khóc –. Một lúc sau, ông mới
kìm được nỗi nghẹn ngào, lại bảo con trai: - Thiều, con! Con cũng
thừa biết, lẽ ra, ta phải cư tang trọn hai năm cộng với năm tháng. Đây
là hai đại tang. Mỗi hạn định cư tang, ít ra là phải mười hai tháng.
Nhưng… con cũng đã đọc sắc chỉ của đức vua, Bộ Lại sao lục, hôm
làng xóm hạ nêu, binh trạm đưa về… Ta cầu mong hương hồn ông mệ của
con tha thứ cho ta… - Dạ, con xin vâng lời
cha. Xin cha yên lòng. – Thiều cúi đầu, khẽ thưa –. Hai cha con vái trước nấm
đất có mộ chí tạm bằng gỗ. Trên tấm gỗ dày, có khắc mấy hàng chữ:
“Dương
Thị Liên chi mộ. Tạ thế: cửu nguyệt,
lục nhật, Quý hợi Tự Đức thập lục niên. Tử tôn đồng phụng lập”.
Quan
án sát khẽ quay người, vái vọng một lần
nữa ngôi mộ của thân phụ kề đó, đất đã khá cũ. Ông lặng nhìn nén
hương mới vừa thắp xong bên ấy, trước khi qua mộ mẹ. Người cha kính
thương của ông mất trước mẹ ông năm tháng! Tám tháng trước, cũng chính
ông đã dựng tấm bia gỗ kia, hàng chữ đen vẫn còn rõ nét trước mặt
ông (1)! Thiều đã cao đến vai quan
án sát. Hai cha con trong tang phục, giữ quy thức đội nón lá cời, đi chân
đất, bước trên lối nhỏ của khoảnh đất gò đã từ lâu được san phẳng
cạnh cánh đồng Mậu Hồng (Hồng Điền), rẽ ra con đường lồi lõm vết
móng trâu còn sũng nước mưa, đang lấp loáng màu nắng nhạt. Họ lặng lẽ
về lại nhà. Từ nghĩa trang họ Nguyễn,
về đến nhà cũng không xa lắm. Quan án sát vừa nhìn xuống đường làng
sũng bùn đất, cẩn thận bước, vừa dặn dò con trai: - Trong hai năm ở lại
quê nhà để cư tang, con phải lo học hành. Hôm qua, cha đã đến thăm nhà
của cụ cử Văn. Học trò của cụ cử khá đông, nhiều người thành đạt,
đỗ đến đại khoa. Con nhớ nối chí ta, bồi đắp gia phong bằng khoa bảng.
Đó là về văn thân. Còn về võ nghệ, con đến học ở cụ đề Nhẫn. Cụ
đã hồi hưu, nhưng còn tráng kiện lắm, đường quyền ngọn cước vẫn
đả hổ được. Nhớ đấy! - Dạ, xin cha yên lòng.
Hết hạn cư tang, con cũng xin quan huấn đạo được xét hạch, khảo khoá
để dự thi hương. - Tốt lắm! Nhớ vun đắp
gia phong như rứa! Vào đến nhà, treo chiếc
nón cời, biểu hiện của sự chịu thương chịu khó trong lúc cư tang, quan
án sát vào đứng trước bàn thờ tổ tiên, cha mẹ, thắp hương khấn niệm
để xin phép ngày mai phải lên đường vào kinh đô. Chiều hôm đó, ông đi
chào bà con, láng giềng, bạn bè thuở nhỏ. Sáng hôm sau, quan án
sát đi ngựa của binh trạm vào Huế, từ giã làng quê An Cư, mái tranh
thân thuộc và hai nấm mộ song thân còn mới… Năm trước, viên ngoại
lang Nguyễn Văn Tường mới rời Bộ Binh vào Quảng Nam, thay Ngụy Khắc Đản
làm án sát, để vị quan họ Ngụy về Nghệ An thu xếp việc nhà trước
khi sung chức bồi sứ, cùng chánh phó sứ Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ
sang Phú Lãng Sa bàn tục ước (2). Ông ngỡ là sẽ phải nhậm chức ở tỉnh
lị tại La Qua (Điện Bàn) (3) ít ra cũng phải đến lúc sứ bộ trở về
nước. Nào ngờ, năm ngoái, vào tháng năm nguyệt lịch, Quý hợi (1863), khi
sứ bộ khởi hành, cũng là lúc ông phải viết sớ xin về quê cư tang.
Cũng thật không ngờ và quá đỗi đau lòng, cách đây gần bốn tháng, ông
phải chít thêm một khăn đại tang khác. Hai vành khăn tang nối nhau bằng
những mũi chỉ khâu, dài tám thước ta rưỡi (40 cm x 8,5 = 3m40), dài đúng
gấp đôi tấm thân ông được sinh thành! Năm đó, Bộ Hộ và phủ
doãn kinh sư buồn thương tổng kết, Thừa Thiên – Quảng Trị tổn thất
đến ba nghìn sáu trăm (3.600) sinh mạng, chưa nói đến các tỉnh khác từ
Cao Bằng đến lục tỉnh Nam Kì (4)! Con số hẳn phải hàng vạn! Đó là đại
hoạ khủng khiếp bởi thiên tai dịch lệ, diễn ra tiếp sau nạn nước
đau lòng bởi “hoà” ước Nhâm tuất (1862)! Trên đường phi ngựa
trạm vào kinh, quan án sát bất chợt ngậm ngùi liên tưởng đến niềm cam
chịu, vô phương thuốc thang trước nghịch cảnh: cái chết bởi dịch lệ,
của hữu tham tri Nguyễn Du (5). Nguyễn Du không chịu uống thuốc nữa, bảo
là “tốt”,
chữ
“tốt”
của một người chờ mong cái chết đến với mình, khi
nghe người nhà cho biết, cái lạnh của nỗi chết đã lạnh dần từ chân
lên ngực ông, trong giờ hấp hối. Quan án sát Nguyễn Văn Tường khẽ ngâm
những câu thơ của thi hào Tố Như, họ Nguyễn làng Tiên Điền, thuở ấy,
và rưng rưng nước mắt: “Thập khẩu đề
cơ Hoành lĩnh bắc Nhất thân ngoạ bệnh
Đế thành đông” Mười
miệng đói kêu bắc núi Hoành Một
thân bệnh rụi đông thành Huế Đúng là Nguyễn Du lâm
vào cảnh túng quẫn. Đúng là không biện pháp nào, thuốc thang nào có thể
ngăn chặn được cơn lốc dịch bệnh từ bấy đến nay, thỉnh thoảng lại
bùng lên, hoành hành, khiến hàng vạn người phải chết, không cách nào chữa
khỏi. Và cũng đúng là ở Nguyễn Du, bệnh dịch đã trở nên quá trầm
kha, nhưng có lẽ Nguyễn Du còn mang một tâm trạng u uất nào đó đến mức
không thiết sống nữa chăng? Không! Phải dấn thân,
nhập thế như một Nguyễn Công Trứ, họ Nguyễn làng Uy Viễn, người đồng
huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An của Tố Như (6)! Vận nước vô vàn khốn
khó, nhà vua đang xuống chiếu cầu hiền… Đâu cần phải quỳ dâng Thái
bình thập
sách trên
đường vua Minh Mạng đang tuần du ra Bắc
như Nguyễn Công Trứ ngày xưa! Khác với hai tâm trạng kia, quan án sát Nguyễn
Văn Tường thấy lòng mình đang suy sụp, nặng trĩu bởi nỗi buồn đau
như toả ra từ hai chiếc khăn tang, tang cha rồi tang mẹ, nối nhau vấn
quanh mái đầu ông. Lúc này, cùng với tiếng vó ngựa trạm soải mạnh
trên đường thiên lí vào kinh nhận mệnh lệnh vua, ông cần những vần thơ
đầy tráng chí của Uy Viễn tướng công thuở hàn vi, vị ngộ để hâm
nóng trái tim và nghị lực: “Chí làm trai nam
bắc tây đông Cho phỉ sức vẫy
vùng nơi bốn bể Nhân
sinh tự cổ thuỳ vô tử Lưu
thủ đan tâm chiếu hãn thanh Trong trần ai, ai nhục,
ai vinh Mấy kẻ biết anh
hùng khi vị ngộ Cũng có lúc mưa dồn
sóng vỗ Quyết ra tay buồm
lái với cuồng phong Chí những toan xẻ
núi lấp sông Làm nên đấng anh
hùng đâu đấy tỏ…”. 2 Màu trời kinh đô Huế
vẫn xanh dịu trong sắc nắng giữa tháng
giêng. Huế dâng hương hoa lên bàn thờ gia tiên và ở các chùa chiền trong
lễ thượng nguyên. Đêm nguyên tiêu, vầng
trăng sáng ngần, vằng vặc, ánh trăng mênh mang, bát ngát trên dòng sông Hương,
lấp lánh. Đêm nay, kinh đô Huế bảng lảng khắp đất trời mùi trầm hương
thiêng liêng, phảng phất hương hoa tinh khiết. Quan án sát Nguyễn Văn
Tường lặng lẽ ngồi đối ẩm trên hành lang nhà tiếp tân thuộc khu vực
công đường Bộ Binh, phía bên trái của hoàng thành. Hữu thị lang Bộ Lại,
chánh tam phẩm Thân Văn Nhiếp nâng chén rượu: - Xin gửi lời phân ưu
đến quý quyến. Đúng là tai trời ách nước! Nhưng cho dẫu thế nào, cũng
mừng là quan nguyên án sát đã đem nghị lực bình sinh, dứt tình nhà, để
lìa quê vào kinh lo việc nước. – Ông đưa cao chén rượu ngang mày, và ngửa
mặt, uống cạn –. Cũng chúc mừng quan Nguyễn đã được thăng biện lí
của Bộ Binh với hàm tòng tam phẩm! - Thật lòng đa tạ lời
chia buồn và chúc mừng. Xin quan thị lang cho tôi khất chén rượu này cho
đúng lễ… Tôi đúng là người bất hiếu! Nhưng, với sắc chỉ của đức
vua, làm sao kháng chỉ được! Vả lại, kính nghĩ, hoàng thượng đã rất
khổ tâm khi ra sắc chỉ, nhưng xưa nay, từ đấng thiên tử đến kẻ cùng
đinh, ai cũng đều đặt nợ nước trên tình nhà. - Quan biện lí hẳn cũng
hay chuyện là, cách đây không lâu, chính tôi đã có lần viết sớ tâu
lên hoàng thượng về việc cư tang này. Bấy giờ, tôi xin ngài không thể
cho quan viên dứt thời hạn cư tang trước mười hai tháng (7)… Đó là việc
khi không khẩn cấp… Nhưng thôi, cái chính là đặt
nợ nước trên tình nhà, và tuỳ lúc,
tuỳ việc…
Việc kinh lí Thành Hoá không thể thiếu
quan biện lí đây được (8). Cả nước Đại Quan biện lí Nguyễn Văn
Tường im lặng nhìn ra sân. Ánh trăng nguyên tiêu ngời ngợi sáng, lóng
lánh trên các đoá thược dược và những nhánh mai vàng lộc biếc. Một
lát, ông nhìn hữu thị lang Bộ Lại họ Thân: - Tất cả chúng ta đã
chuẩn bị rồi. - Đúng vậy. Đức vua
đã duyệt y ngay trong ngày kia. Đây là đợt thăm xét dân tình, địa thế.
Tuỳ tùng chúng ta là một quản cơ (chánh tứ phẩm), ba suất đội (chánh
lục phẩm), một trăm lính biền binh ở cơ Định biên với đầy đủ vũ
khí. Rất trọng thể! Và rất nhiều vật hạng để uỷ lạo các thổ ti,
từ vải hoa Tây dương đến sa - Rất hệ trọng nên
phải trọng thể. – Quan biện lí Nguyễn Văn Tường nói, để tỏ ý mình
đang lắng nghe –. - Tháng mười hai cuối
năm Quý hợi (1863), triều đình được đức vua chuẩn y, ban sắc dụ lập
chức hương thân ở các làng thôn (9). Đó là các nhân sĩ trên năm mươi
tuổi, có đạo hạnh, không dự việc làng, chuyên đi đến các hộ dân để
nói rõ về “tả đạo” cho
dân hiểu, thuyết phục dân đừng nghe theo các “dữu dân”, cố
đạo Tây. Những
người ấy phải chiến đấu thầm lặng trên
mặt trận không có gươm đao là thế đấy. Bởi vì răng mà phải như rứa?
Ai nấy đều biết, là vì cái
“hoà” ước Nhâm tuất (1862), có điều khoản
cho bọn Phú và Y tự do truyền “tả đạo”. Ta
buộc phải nhân nhượng, nhưng chỉ nhân nhượng trên giấy tờ thôi! Ta vẫn
phải giải thích cho dân ta hiểu, đừng dại dột nghe chúng… Chúng dựng
nhà thờ đạo Chúa, chúng tuyên truyền kệ xác chúng, ta như bịt mắt, bịt
tai lại, hoặc chửi thầm chúng trong bụng! - Thửù tưởng tượng
dân ta ngỡ đức vua và đình thần, biên thần đều giác ngộ “tả đạo”
rồi, nên dân theo luôn! Nếu sự thật như rứa thì khốn! - Dân mình còn ngu lắm!
– Quan hữu thị lang Thân Văn Nhiếp, chợt buột miệng nói thẳng, như vốn
nổi tiếng là người trực ngôn –. Chúng lại tập hợp bọn lưu manh để
cho cơm áo gạo tiền… Có đứa có học còn “mượn
đạo tạo đời”, “theo đạo có gạo mà ăn” (10)
rất
đáng miệt thị! - Chúng
lấy
cái thực, không
phải
sự
thực, mà là lương
thực, ẩm
thực, để vực cái đạo. Và
truyền được cái đạo, chúng lại thực dân ta, xơi tái,
nuốt sống nước ta… Đúng
như nhà vua nói, việc
đánh, việc giữ đã khó, mà việc hoà lại khó hơn (11)… Đêm hôm ấy, biện lí
Bộ Binh Nguyễn Văn Tường nằm thao thức, bâng khuâng nhớ lại huyện miền
núi Thành Hoá. Nơi đó, hơn chín năm ông đã sống, làm việc hết mình. Nơi
đó, rất thân yêu với bao kỉ niệm, ngày mai ông lại trở về! Địa thế
ấy, dân tình ấy, thật không ai thấu hiểu và cảm thông hơn… Trong giấc
ngủ, ông chợt thấy một bọn cướp tóc râu ngô, da bạch tạng, mắt
xanh, mũi lõ, súng dao và thập giá đầy người xông vào nhà, cả nhà dốc
sức chống giữ, nhưng sức yếu, thế cô, lại có kẻ trong nhà theo “tả
đạo” làm nội phản, nên đành thua, phải tiếp chúng làm thượng khách,
để mặc chúng truyền bá “cái phong tục dã man”
(12) của
chúng cho người thân trong nhà, sau
khi phải cắn răng, rứt ruột chia nhà cho chúng ở, chia người cho chúng
sai bảo! Chiến
đấu trong thế “hoà”, thực chất là đầu hàng, trên mặt
trận không gươm đao, súng ống với thực dân “tả đạo”, quả thật,
vừa khó, vừa nhục như thế đó! Ông
thức giấc,
bàng hoàng, và không thể ngủ lại được nữa cho đến sáng. Ông nôn nao
nhớ Cam Lộ, Hướng Hoá, Đắc Krông với núi Tá Linh, Mai Lĩnh, Mai Đàn, với
dòng sông Cam chảy về tây, tuôn đổ vào sông Khung (Mê Kông), với dòng
sông Hiếu chảy về đông, tuôn ra biển Thái Bình (13). Nơi đó, những đồng
bào Bru Vân Kiều, Cơ Tu, Tà Ôi chan hoà với đồng bào Kinh, thân thương,
ngọt bùi san sẻ… Vầng trăng nguyên tiêu
ngời sáng đang lặn về phía tây trùng điệp núi rừng, nơi ấy. 3 Thân Văn Nhiếp và Nguyễn
Văn Tường cùng phái đoàn khâm sai về lại Huế, đúng vào lúc kinh sư Thừa
Thiên – Quảng Trị đang ra sức chống bão lụt. Trận bão lụt năm Giáp
tí (1864), Tự Đức năm thứ mười bảy, lại xảy ra vào tháng hai, giữa
mùa xuân (14)! Đạo Quảng Trị lại nặng nhất! Đó là một điều rất lạ
lùng, xưa nay hiếm thấy! Có vài người dân bảo: “Đổi trời rồi!”. Có
dăm người dân khác bạo miệng hơn, như không kìm
được phẫn uất: “Trời
nhào đất lộn!”. Quan đi chẩn cấp phân
vân khó xử, không biết có nên chia sẻ cho dân “tả đạo” cũng chung cảnh
khốn khó không, và nếu san sẻ thì có lỗi gì không. Vua bảo: “Bọn
kia cũng là con đỏ của ta, sao nỡ không
nuôi nấng họ?” (14). Cũng
từ đây, người ta dần
dần không còn dùng từ “dữu dân” (dân xấu như cỏ mọc trong ruộng, làm
hại lúa), “tả đạo” (tôn giáo sai lầm, theo “phong tục dã man” của
Tây Âu), mà chỉ gọi là “dân đạo”, một
từ quy
ước, với nguyên nghĩa là dân có tôn giáo, hết sức chung chung, và do đó,
gần như vô nghĩa, hoặc với nghĩa là dân
có đạo
lí, chứ không phải phi đạo lí. Nhưng
phải đến bốn năm
sau, hai từ “tả đạo”, “dữu dân” mới thực sự đổi hẳn trong thực
tế lẫn trên giấy tờ, bởi có sự khiếu nại của các giám mục Tây dương
ở Hà Nội, Nghệ An, Huế (15). Và trước đó, thời điểm sau khi “hoà”
ước Nhâm tuất (1862) bị kí kết, các quan rất sợ bị dân đạo trả thù.
Tuần vũ Nam Định Nguyễn Đình Tân, chẳng hạn, từng hạ lệnh tử hình
đến bốn ngàn tám trăm (4.800) “tả
đạo”, tâu xin cứ giam giữ bọn còn lại như cũ (16),
nhưng sự thể đã ngược với lời tâu xin đó, lệnh tha hết dân đạo đã
ban hành! Tháng hai nguyệt lịch
ấy, Đặng Hạnh thay Tôn Thất Đính làm đề đốc kinh thành (17), triều
đình đặt thêm chức phó quản đạo cho Quảng Trị (18). Và tiếp đến là
sự kiện sứ bộ Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản về nước
sau chuyến sang Ba Lê (Paris), thủ đô của nước Phú Lãng Sa, với lời hứa
hẹn về một bản tục ước (19)! Biện lí Nguyễn Văn Tường thừa biết
không thể nào dùng lời nói để chuộc lại cái đã mất! Tuy vậy, ông vẫn
chờ ngày đến kinh đô Huế của toàn quyền sứ thần Phú (cũng dần dần,
Phú đổi thành Pháp! (20)). Quả thật, ba tháng sau, khi Aubaret (Hà Ba Lí) đến
(21), bấy giờ ông còn ở công đường Bộ Binh, Nguyễn Văn Tường hiểu rõ
chỉ là vô ích chuyến đi sứ ấy, và vô vọng đối với niềm ước ao chỉ
bằng cách nghị “hoà” để chuộc lại ba tỉnh Miền đông Nam Kì (Biên
Hoà, Gia Định, Định Tường) của vua Tự Đức. Pháp vẫn muốn chiếm đóng
các thủ phủ Thủ Dầu Một, Sài Gòn, Mỹ Tho, và đồng thời “bảo hộ”
luôn cả sáu tỉnh Nam Kì, thu tóm cả tiền thuế hai triệu nguyên (2.000.000
đô-la) mỗi năm (22). Ta thu thuế bằng cách
bóp nặn dân, rồi lại trịnh trọng nộp cho chúng, để chúng dùng
tiền ấy vào việc làm giàu, mua và chế súng đạn, tàu chiến uy hiếp ta!
Vì thế, ngay sau khi Aubaret về Pháp, vào tháng sáu, đình thần dâng mật sớ
xin vua Tự Đức giữ nguyên “hoà” ước cũ vì “hoà” ước mới rất “quan ngại”. Đáng
sợ vì lòng tham nham hiểm của Pháp hay chỉ
đáng “quan ngại”? Nhưng đâu phải bọn Pháp ở triều đình Pháp tại Đất nước không thể
yên ổn, bởi không thể có thứ
hoà bình và hữu nghị như
thế! Và thực tâm thực dân cầm súng và thực dân cầm
thập giá (không phải tu sĩ chân chính!) nào muốn Tổ quốc ta, nhân dân ta
yên ổn! Phủ doãn kinh sư Nguyễn
Hữu Dương bị giáng xuống phủ thừa (án sát) (24), vì tình hình sôi lên
vấn đề lương (theo đạo thờ cúng tổ tiên và anh hùng dân tộc), đạo
(theo Thiên Chúa giáo), nhưng xem ra lúng túng trong cách giải quyết, trong khi
nguyên kinh doãn Trần Tiến Thọ bị dân kiện, đang chờ xét xử (25). Vua Tự Đức bảo đình
thần: - Thừa Thiên và Nghệ
An là hai hạt có nhiều sĩ phu văn thân nhất, cũng là điểm nóng bỏng nhất
của vấn đề dân lương và dân đạo khích bác nhau. Trẫm thấy cần cử
hai vị quan giỏi để hiểu thị, bảo ban cho dân đạo yên nghiệp làm ăn.
Các ngươi có thể tiến cử cho trẫm. - Tâu hoàng thượng,
quan giỏi hiện nay có thể đảm trách việc hoà giải lương – đạo, chủ
yếu là hiểu thị, bảo ban dân đạo, vốn gần đây chúng rất kiêu ngạo,
lên mặt đó, không ai khác hơn là Nguyễn Văn Tường và Ngụy Khắc Đản
(25). – Hầu như toàn thể các đại thần Cơ mật viện và thượng thư, tả
hữu tham tri lục bộ đều đồng thanh như vậy –. - Thật đúng ý trẫm. Cuối tháng sáu, năm Tự
Đức thứ mười bảy, Giáp tí (1864), biện lí Bộ Binh Nguyễn Văn Tường
nhậm chức kinh doãn (phủ doãn kinh sư Thừa Thiên – Quảng Trị) với hàm
chánh tam phẩm. Ngụy Khắc Đản, biện lí, cũng về Nghệ An thay Đoàn Văn
Hội làm bố chính sứ. Nguyễn Văn Tường nhậm
chức với trách nhiệm như thế trước một tình hình rất phức tạp,
không một chút đơn giản, ở một nơi tập trung văn hiến của cả nước,
nhạy cảm và nóng bỏng nhất nước. Chẳng phải mâu
thuẫn lương – giáo là
mâu thuẫn còn khó phăn, phức tạp muôn vàn lần hơn mâu
thuẫn giữa ta với bọn xâm lược
cầm súng vốn khác ngôn ngữ, khác màu da? Dẫu
sao, ở nước ta, dân theo Thiên Chúa giáo của Tây dương
cũng là dân Việt, máu có đổ thì ruột cũng mềm, nhưng đồng bào lại
mê muội đến mức triều đình vô phương chữa trị! “Sát tả” đã phải
đổi thành phương thức “hoà giải”, trong điều kiện quan quân triều
đình nước ta thất bại trên chiến trường, phải xót xa, tủi nhục kí
nhượng ước, nếu không dùng từ hàng ước! Không những sĩ phu, nhân
dân phẫn uất, ngay cả hoàng thân, tôn thất và quốc thích cũng sục sôi
niềm căm giận. 4 Cái được gọi là “hoà”
ước Nhâm tuất (1862) và tục ước “bảo
hộ” Nam Kì (mặc dù không thành) (1864) thổi bùng niềm
phẫn uất, căm giận khắp nước, nhất là tại kinh đô Huế. Hai năm nay, công tử Hồng
Tập, con trai của Miên Áo quận công, không thể ăn ngon ngủ yên. Chuyến
đi sứ sang Pháp của sứ bộ Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản,
mọi người đều biết là vô ích. Và tục ước Aubaret vừa rồi, Trần Tiễn
Thành chỉ tán thành những điều mà triều thần, từ Nội các đến các
nha, đều thấy đáng “quan ngại” hơn. Hồng Tập biết mình và những người
cùng quan điểm với ông phải làm gì, nhất là sau khi gặp Nguyễn Văn Viện,
một sĩ phu Bình Định, và phò mã Trương Văn Chất, con trai của tổng đốc
Trương Văn Uyển. Cũng không khác Hồng Tập, Nguyễn Đình Cán, Nguyễn Đình
Long, hai người con trai của nguyên tuần vũ Nam Định, thượng thư Bộ Binh
Nguyễn Đình Tân cũng thế (26). Quan lớn Nguyễn Đình Tân, nay chỉ được
triều yết, không tham dự chính trị theo lệ ngoại thích mới đặt ra,
cũng đã nói với con rể là vua Tự Đức, theo cách nói khiêm tốn, tự hạ
mình: “Việc
giảng “hoà” là vô ích, thần hằng dâng sớ nói đến. Vẫn biết là
có tội, nhưng cũng do tự tấm lòng ngu tối mà ra thôi”. Mặc
dù vua Tự Đức trả lời: “Thời
thế không làm thế không được” (27), ông
cũng ngầm tán thành kế sách của những người
chống nghị “hoà”, thứ “hoà” lừa bịp và đầu hàng ấy, trong đó
có hai con trai của mình. Trong khu vườn xanh um
những lá và đủ loại hoa của phủ Miên Áo quận công, nhất là trong các
tán cây nhãn trĩu cả mấy chục lồng trái, tiếng ve mùa hè rất đặc biệt
ở kinh đô trỗi lên, lắng xuống, lại trỗi lên, cứ như thể âm thanh của
những làn gió trầm bổng. Công tử Hồng Tập, phò mã Trương Văn Chất,
ngồi đối diện với một sĩ phu thường dân Bình Định, đồng hương với
cụ thượng hồi hưu Nguyễn Đình Tân. Đó là một người tầm thước, nét
mặt luôn trầm tĩnh. - Anh cứ yên tâm trình
bày thật cặn kẽ kế sách! Nơi đây rộng và thoáng, khó có kẻ lạ mặt
lai vãng! – Công tử Hồng Tập nhìn Nguyễn Văn Viện và khẽ nói –. - Vâng, tôi tin rằng
hai vị công tử, phò mã đây sẽ vui lòng lắng nghe cho. – Với giọng
Bình Định, dáng vẻ tự tin, Nguyễn Văn Viện nói –. Tôi từ quê nhà, vượt
đèo lội sông đến kinh, may mắn được hai vị tiếp. Tôi vô cùng cảm
kích. – Ngừng lại, giọng nói của ông có vẻ cả quyết hơn –. Không sợ
đầu lìa khỏi cổ, liên lụy đến ba họ nhà tôi, xin thưa với hai vị cùng
những ai tâm huyết với nước non này tại Huế: Tôi
cam đoan không phải phiền đến binh
đao, thuyền chiến Tây dương cũng phải rút lui; không phải chém giết theo
lệnh “sát tả”, bọn dân đạo cũng bỏ đạo của Tây tà (26). Xin nói
ngay, không phải bằng pháp thuật phù
chú. - Nói ngay đi! – Sốt
ruột, Hồng Tập ngắt lời –. Ta cũng như phò mã họ Trương đây thật
lòng không thích thói khoác lác đâu. Nhìn ông, ta cũng biết ông không phải
kẻ tầm thường. Hãy nói rõ! - Theo tôi, tất cả là
do các đại thần, mà đứng đầu là Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành! Phải
giết hai tên đầu sỏ này ngay lập tức (26)! Giết chúng xong, tất cả
tàu đồng, súng thép của bọn Pháp và Tây Ban Nha (Y Pha Nho, Espagnol) sẽ
không dám bén mảng, tất cả bọn dân đạo đều hết nuôi lòng phản trắc
vì hết chỗ dựa. - Nhà ngươi muốn nói,
Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành là nội gián? Chúng là tay chân của bọn
Pháp và Tây Ban Nha? – Công tử Hồng Tập hỏi dồn –. - Vâng, chính vậy! - Bằng cớ? - “Hoà” ước và tục ước! - Hỏi nhà ông rứa
thôi. Chúng ta đây cũng không nghĩ khác hơn nhà ông. Tất cả sự thể gọi là nghị “hoà” đều là
ý kiến của bọn đại thần gốc Tàu phương Bắc, phù Minh diệt Thanh ấy!
Không phải là ý kiến của đức vua Tự Đức (26). Thật đáng sợ thay! - Kế hoạch như thế nào?
Chỉ nói suông rứa cũng không làm răng khử được Phan Thanh Giản, Trần
Tiễn Thành! Trong bóng râm cây nhãn
lồng, trong tiếng hoà âm với gió mùa hè của đàn ve sầu, họ cẩn thận
vạch kế hoạch. Cuối cùng, kế hoạch vạch ra cũng cần đến binh đao,
cũng phải bắn pháo lệnh, chia quân một cánh đi bắt hai đại thần, các
cánh khác đi khắp các làng Kim Long (Kim Lung, Huế), An Truyền, An Vân, An
Hoà càn quét dân theo đạo Chúa (26). Hoá ra, cách nói của Nguyễn Văn Viện
chỉ là cường điệu, mới nghe qua, tưởng chừng chỉ là ám sát, thích
khách hai đại thần. - Nói cho đúng, với sự
tuần hành cẩn mật của đề đốc Đặng Hạnh, sự cẩn trọng của phủ
doãn Nguyễn Văn Tường, sự kĩ lưỡng của phủ thừa Nguyễn Hữu Dương,
nhất là Đặng Hạnh với trách nhiệm trực tiếp về quân binh, về canh
gác, ta rất khó thực hiện ám sát, thích khách. – Nguyễn Văn Viện nói,
hết sức chậm rãi –. - Vả lại, chúng ta phải
thấy ý nghĩa của kế hoạch táo bạo này. Cổ nhân có nói: “Sát
thân thành nhân”, tự
giết mình để thực sự thành con người
xứng đáng là người! Có
thể thấy trước, chúng
ta sẽ bị lăng trì (xẻo thịt, phanh thây), trảm đầu (chém đầu) hay ít
ra cũng bị xử giảo (thắt cổ)… Cái chính là phải đánh động khắp cả
nước, để muôn vạn sĩ dân nước Đại Không phải chỉ có những
người khởi xướng, chủ chốt ấy, với sự đồng thuận ngầm của cụ
thượng thư chỉ được triều yết là Nguyễn Đình Tân, trong nhóm tạo
nên vụ biến ngày mùng hai, tháng bảy, năm Tự Đức thứ mười bảy, Giáp
tí (1864). Ngay đêm khởi sự, chính đề đốc Đặng Hạnh cho quân bắt
ngay từ những phút đầu những gương mặt không xa lạ gì với Tôn nhân
phủ và đình thần: công tử Hồng Ty (con trai Vĩnh Tường quận vương),
Lương Sính (con trai Kiến An vương), tri huyện Hương Trà Tôn Thất Thanh, hộ
vệ thân binh Tôn Thất Thừa, Tôn Thất Kiêu, Tôn Thất Thán… Ngoài ra,
còn có Trần Cận, Nguyễn Duy Cơ, Nguyễn Đức Tuấn, Vũ Đức Vỹ, Nguyễn
Quán, Nguyễn Văn Đoan, cháu họ thúc bá của tổng đốc Trương Văn Uyển
là tú tài Trương Văn Quỳnh, hiệp quản Lê Trứ, suất đội Bùi Viết
Tân, Nguyễn Văn Thịnh, Ngô Thịnh, Phạm Lương… Phủ doãn Nguyễn Văn
Tường biết lòng dân, sĩ phu, hoàng thân, quốc thích và quan lại thực sự
căm phẫn như ông cũng đã và đang căm phẫn về “hoà” ước Nhâm tuất
(1862) lẫn tục ước đáng
“quan ngại” không thành năm Giáp tí (1864). Nhưng vụ biến lại xảy ra
trong địa hạt kinh đô Huế, nơi ông vừa nhậm chức tháng trước! Ông
không thể không có trách nhiệm trong địa hạt ông được nhà vua và đình
thần giao cho để quản lí! Ông biết, Hồng Tập và những người đồng tâm,
đồng chí của công tử này không phải là bọn thiếu ý thức trung quân
ái quốc. Họ trung thành với vua Tự Đức, và rất mực yêu nước, tất
nhiên họ vô cùng căm thù bọn Pháp, Tây Ban Nha lẫn bọn cố đạo Tây dương
giả danh tôn giáo, bọn người Việt “mượn
đạo tạo đời”, phản quốc.
Phủ
doãn Nguyễn Văn Tường hoàn toàn đồng tình
với họ, nhưng về sự chọn lựa cách hành động, ông không tán thành bạo
động chỉ giới hạn trong mục
tiêu đánh động ý thức chính trị như
thế. Vả lại, dù muốn dù không, trách nhiệm
và chức vụ đã kìm giữ ông với một mức độ nào đó… Phải bình tĩnh, sáng
suốt, nhìn ra xa rộng hơn, ít ra là các nước quanh mình (28)… Dẫu sao, suy nghĩ của
nhóm Hồng Tập, Nguyễn Văn Viện hãy còn quá đơn giản, nóng vội, không
phải không có những khía cạnh nhận định quá khích, sai lầm. Và đồng thời, đâu
chỉ phản ứng của nhóm Hồng Tập! Sĩ tử trường thi hương Thừa Thiên
ở cửa Ninh Bắc trong kinh thành, trong đó có sĩ tử Quảng Trị, Quảng Bình,
cũng dán bích chương phản đối nghị “hoà” (29)! Với phủ doãn Nguyễn
Văn Tường, tận trong thâm tâm, tuy cùng ý chí với sĩ tử và nhóm lãnh đạo
vụ biến, nhưng ông cũng không tán thành sự “càn
quét dân giáo” của
nhóm Hồng Tập. Đành rằng, một bộ phận trong dân đạo cuồng tín đến
mức sẵn sàng mất nước ở cõi tạm này để cầu mong được về nước
Chúa vĩnh hằng trên trời, một bộ phận khác, quả thật, “mượn đạo tạo đời”…
Không,
chỉ tử hình những tên đầu sỏ thực sự
theo giặc Pháp và Tây Ban Nha. Hết kẻ đầu sỏ, kẻ nhẹ dạ cũng như rắn
không đầu! Ông ở thế rất khổ
tâm, khó xử, mặc dù đề đốc Đặng Hạnh là người trực tiếp lo tuần
canh, và tuần canh nghiêm mật, phát giác được vụ biến ở phút đầu tiên.
Nguyễn Hữu Dương là phủ thừa (án sát kinh sư), trước tiên phải thụ
lí vụ án, trình đạt lên Bộ Hình, Tôn nhân phủ, đình thần. Ông là phủ
doãn (bố chính sứ kinh sư), vẫn chịu trách nhiệm chính. Ông không trốn
chạy trách nhiệm trước nhà vua, trước công luận, mặc dù ông thừa biết
sự đánh giá của nhà vua và công luận ở một bộ phận sĩ dân nào đó
là trái ngược nhau. Ông chịu trách nhiệm chính, nhưng không trực tiếp chạm
tay vào sự thể khổ tâm này… Ồ, cần phải bình tĩnh,
vụ biến cần phải được phủ thừa điều tra kĩ hơn. Mức án nào sẽ
được Bộ Hình và đình thần tuyên phạt? Ông biết mình rơi vào
bi kịch chung của triều Nguyễn và cũng là bi kịch của các nước Thanh,
Ấn, Miến, Xiêm, Hạ Châu, Nhật Bản, Cao Ly… và bao nước khác ở châu
Á Tế Á (Asie, Asia), châu A Phi Lị Gia (Afrique, Africa), ở Nam Mỹ Lợi Kiên
la-tinh (Sud Amérique, South America latin)… 5 Những ngày tháng cam go
lại kế tiếp. Với công việc của một phủ
doãn kinh sư, ông vừa lo cho cả Thừa Thiên lẫn Quảng Trị quê nhà. Không
những cùng các quan Khoa đạo lo đi phát chẩn cho dân bị bão lụt, gặp cảnh
mưa rét, màn trời chiếu đất, quan phủ doãn còn phải tuyển dụng tráng
đinh bổ sung cho Đội Nội cần thiếu ngạch lính đánh cá (30). Ông tận tụy
đi thăm xét các lượt dân đói kém từ Quảng Nam, Quảng Ngãi xiêu tán ra,
tập hợp họ lại, phân loại, để đưa những người còn khoẻ mạnh cho
doanh điền sứ Trần Đình Túc, tổ chức cho họ sản xuất với phụ cấp
bước đầu, và để giao những người già yếu, những trẻ nhỏ cho Sở Dưỡng
tế lo liệu chẩn cấp (31). Phủ doãn Nguyễn Văn Tường xin mở cửa kho,
cho bần nông vay thóc, vay tiền trong mùa mưa rét, lại viết tập tâu xin
vua đồng thuận cho sửa chữa đường sá bị sụt lỡ do bão lụt, vừa tiện
việc giao thông, vừa tạo công ăn việc làm cho số dân xiêu tán ấy (32).
Ông cũng lo xây dựng nghĩa trang ở kinh đô cho những người chết đường
chết chợ, cải táng những mộ không ai thăm viếng (33). Phủ doãn lại đề
nghị xin tạm lãnh trước tiền công các công trình ấy, lấy đó thu mua trước
hoá đơn gạo lương của các quan viên, lại dịch; đồng thời lo chẩn cấp
cho xã Thai Dương bị hoả tai; xuất tiền vốn, bán thóc cho dân nghèo Quảng
Trị đi đẵn gỗ (34). Những ngày trong tháng
mười một lạnh buốt, mưa gió dầm dề của năm Giáp tí (1864) sắp qua,
ông lãnh mệnh vua, kiêm luôn chức khuyến nông sứ, đi kinh lí khắp Thừa
Thiên, Quảng Trị xem xét tận mắt địa thế từng chỗ để tuỳ từng
nơi, xác định một cách khai khẩn, gieo trồng phù hợp (35). Không thể quên huyện
Thành Hoá, ông cũng góp phần tâu xin vua theo ý kiến của tri huyện Nguyễn
Duy Tự, mặc dù Nguyễn Duy Tự khác ý kiến với quản đạo Quảng Trị
Đinh Văn Khoa, và cuối cùng vua Tự Đức chuẩn cho việc đình bãi đánh
thuế trường mậu dịch ở huyện miền núi ấy (36). Điều khiến phủ doãn
Nguyễn Văn Tường rất tự vui lòng nữa, trong tháng cuối năm, ấy là việc
vua cho miễn thuế đinh cho dân nghèo Quảng Trị (36). Những gì quan phủ
doãn làm được cho dân đó cũng phần nào xoa dịu nỗi khổ tâm trước tình
hình chính trị vẫn chưa hề lắng lại. Đó là vụ Hồng Tập hồi tháng
bảy, cùng lúc với phong trào sĩ tử ở trường thi hương Thừa Thiên, đồng
loạt chống nghị “hoà” với
Pháp, bằng
cách dán bích chương phản đối,
làm sôi động
khắp nơi trong nước. Phong trào này còn truyền lửa đến tháng mười
trong sĩ tử hai trường thi Hà Nội, Nam Định. Các quan tỉnh đạo Nam Định,
Hà Nội như Doãn Khuê, Cát Văn Tụy, cũng bị cách, giáng, lưu nhiệm (29)! Với phủ doãn Nguyễn
Văn Tường, ông thật khổ tâm… Và không chỉ là khổ tâm, cứ như là sự
xấu hổ, khi cùng đồng sự, Đặng Hạnh, Nguyễn Hữu Dương, mỗi người
được thưởng gia một cấp và được tặng một chiếc nhẫn nạm pha lê,
lóng lánh như trêu ngươi! Ông thấy lẽ ra phải dồn sự thăng thưởng này,
nếu cứ gọi là thăng thưởng, cho đề đốc Đặng Hạnh thì đúng hơn! Ông mở cửa tủ
đựng hồ sơ, giấy tờ, công văn, ném chiếc nhẫn nạm pha lê lóng lánh mới
được đức vua Tự Đức tặng thưởng, đóng tủ lại. Lát sau, ông lại
mở tủ ra, cầm chiếc nhẫn lên, tần ngần, ngại những kẻ xấu mồm vu
vạ ông chê bai, khinh khi, phạm thượng, ông lại đeo vào ngón tay của
mình. Phủ doãn Nguyễn Văn
Tường bất giác đập mạnh bàn tay ấy xuống mặt án thư. Trong những ngày cuối
năm, khi ôn lại những gì đã làm cho kinh sư trong mấy tháng nhậm chức phủ
doãn, ông vẫn thấy cộm lên bốn chữ “Vạn niên cát địa” (37) hồi
tháng chín, mặc dù đây không phải thuộc phần hành của ông. Đó là
công tác của Bộ Công! Bộ Công điều động phu thợ lành nghề và thu gom
vật liệu tốt khắp trong tả hữu kì và cả ngoài Bắc! Có điều, việc
nhà vua chuẩn định chuyển dân ở làng Dương Xuân Thượng để lấy đất
xây trước lăng mộ cho mình ấy, không thể không đụng chạm đến dân
thuộc phạm vi kinh sư, vì làng Dương Xuân Thượng đâu phải xa xôi gì! Quả
thật, ông không hiểu vì sao trong những ngày tháng lòng dân chưa nguôi căm
phẫn vì “hoà” ước Nhâm tuất (1862), tục ước Giáp tí (1864), đến nỗi
sĩ tử bùng lên cuộc phản đối và suýt nổ ra vụ biến Hồng Tập, nhà
vua lại khởi công xây dựng lăng Vạn Niên, đến nỗi nhân dân ta thán: “Vạn Niên là Vạn
Niên nào Thành xây: xương lính!
Hào đào: máu dân!” Đó không phải là những
gì nhân dân tưởng tượng hay nghe tin đồn của bọn giặc miệng chuyên
tuyên truyền đầy ác ý! Bởi công trường xây dựng Vạn Niên cơ là cái
diễn ra trước mắt nhân dân, công của lấy từ xương máu họ! Rồi năm mới Ất sửu
(1865) cũng đến! Tháng giêng hai cắn tay không ra máu vì buốt rét và vì đói
kém! Dân Quảng Phủ doãn Nguyễn Văn Tường
thấy nỗi khổ, một phần lớn vì cái đói do thời tiết thất thường, mùa
màng thất thu, nhưng phần khác, nỗi khổ trở nên lớn hơn, chính là vì Vạn
niên cát địa! Ông đã tận tụy hết mình, nhưng khó lòng giảm nhẹ nỗi
khổ cho nhân dân. Nhân một dịp, ông xin về
lại Thành Hoá, chứ không thể cứ mãi chịu đựng nỗi khổ tâm này. Tri
huyện Thành Hoá Nguyễn Duy Tự, người Quảng Nam, đệ gửi tập tâu xin
đi kinh lí bảo Ải Lao, và luôn thể thăm ba châu bạn thiểu số ở đấy.
Bàn với các đại thần Bộ Binh xong, vua bảo: “Nguyễn
Duy Tự không phải là người trọng hậu,
tựa như người hiếu sự; ở nơi biên viễn, mà không được như Nguyễn
Văn Tường, thì lợi chưa thấy mà hại đã sinh ra, hối làm sao kịp”
(40). Vua
Tự Đức sai Thân Văn Nhiếp và
Nguyễn Văn Tường suy xét, bàn luận với nhau. Cuối cùng, Thân Văn Nhiếp
tâu xin vua cho Nguyễn Văn Tường và Trần Đình Túc cáng đáng công việc
đó, lại đặt thêm chức tuyên phủ sứ, chọn người thổ trước (người
địa phương Quảng Trị) để sửa sang công việc (40). Phủ doãn Nguyễn Văn
Tường biết đây là dịp để ông xin từ chức một cách khéo léo, không
bị nhà vua trách là trốn việc ở kinh phủ. Không phải ông không muốn giữ
những chức vụ lớn lao, đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhưng thật lòng ông
không thể chịu nổi nỗi khổ tâm trong cảnh dân đói rét, sĩ tử phản
đối “hoà” nghị, và sĩ dân cùng hoàng thân, ngoại thích của nhà vua nổi
dậy mưu sát Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, mà phía ông, ông khó lòng
hành xử khác hơn, phía nhà vua, nhà vua vẫn cứ cho xây dựng lăng Vạn Niên
đồ sộ, quá tốn kém công sức, của cải của nhân dân! Suy nghĩ thật cẩn trọng,
ông viết tập tâu dâng lên vua Tự Đức:
“Các
châu ở Thành Hóa đất liền với kinh đô, đời đời làm phên che giúp
đỡ, sản vật có thể dùng được, dân phong có thể sai khiến được, há
nên cho là các châu nên ràng buộc qua loa”
(40). Phủ
doãn Nguyễn Văn Tường, trong vài năm gần đây, ông thấy
không thể để đồng bào thiểu số Vân Kiều, Pa Kô, Tà Ôi thân thương của
huyện Thành Hoá cứ ở trong cảnh ki mi, cởi mở, mà cần đưa đồng bào
vào sự giáo hoá, để từng bước một thoát khỏi tình trạng hoang sơ,
thoát khỏi tình trạng cứ bị gọi theo cách gọi ước lệ là “man”
mãi. Chính ông cũng còn bị câu thúc bởi từ ngữ hiện thời! (Ngay người
Pháp, Tây Ban Nha, khác văn minh với ta, ta đều gọi chúng là “man”, bọn
mọi rợ). Danh từ ấy phải dần dần xoá bỏ. Muốn xoá bỏ, lại cần vận
động đồng bào vào mô thức được gọi là cõi giáo hoá của triều đình.
Ông nghĩ mình phải có trách nhiệm về việc đó một cách cụ thể hơn. Ông lại vê đầu bút
lông trên thành nghiên mực xạ, viết tiếp tập tâu: “Còn về rừng sâu
khí núi độc, thì có người đã ở quen, chịu đựng nổi; dân Man không
biết gì, thì lấy sự dễ dãi để thân cận họ; biên viễn là việc quan
hệ, thì đã có viên đại viên để trông coi; lại khoan cho kì hạn, cho
được tùy nghi, sửa sang dần dần mới mong có thành hiệu. Các điều khoản như
Thân Văn Nhiếp đã tâu xin, tưởng công việc ngày nay, chủ chốt không qua
các điều ấy. Trần Đình Túc chưa từng
kinh lịch nơi đó nhưng địa thế, dân tình ở phủ hạt ấy rất là biết
rõ. Thần sinh trưởng ở đất ấy [Quảng Trị – ct. (41)], trước kia đã
làm tri huyện ở đó [huyện Thành Hóa ( Ông tự nguyện từ chức
kinh doãn để lại lao vào chốn sơn lam chướng khí. Nhưng vua Tự Đức muốn
có thời gian để rõ hơn tài năng chính trị của ông ở chức trách kinh
doãn. Tháng sáu năm ngoái, nhà vua chẳng tham khảo ý kiến các quan và đã
chọn được vị quan giỏi để phụ trách kinh sư đang nóng bỏng vấn đề
mâu thuẫn lương – đạo đó sao! Không, không thể chọn ai thay Nguyễn Văn
Tường làm phủ doãn được. Theo nhà vua và đình thần, chỉ có Nguyễn Văn
Tường mới đủ trình độ, bản lĩnh để hiểu thị, bảo ban dân giáo! Rốt
cùng, vua Tự Đức vẫn giữ nguyên chức của Nguyễn Văn Tường, đồng thời
chấp thuận có sự hợp tác của Trần Đình Túc để bàn định công việc
doanh điền, kể cả việc chọn lựa viên quan quản đạo Quảng Trị, các
viên tri huyện trong kinh sư (40). Nhờ việc toàn quyền chọn lựa các quan
trực thuộc, ông chọn Nguyễn Quýnh (42), một cử nhân Quảng Nam, làm quản
đạo Quảng Trị dưới quyền mình. Trong những ngày tháng
hai, năm Tự Đức thứ mười tám (1865), quan phủ doãn Nguyễn Văn Tường
không thể không suy nghĩ về vua Tự Đức, trước sự quan tâm, trọng thị
của nhà vua đối với ông. Trong thời tuổi trẻ bị án treo “bất đắc
ứng thí”, trí tưởng của chàng trai vừa đỗ tú tài đã bị gạch bỏ
tên, bị phạt tội đồ thuở ấy đã vẽ vời nên một đấng minh quân
nhà Nguyễn. Tất nhiên mộng tưởng bao giờ cũng cao cả hơn, tốt đẹp
hơn thực tại. Thực tại là vua Tự Đức, nổi tiếng về văn chương và
hơi gầy yếu, có tấm lòng với người hiền tài nhưng bó tay trước vấn
nạn của xã tắc. Vua Tự Đức vừa mất lòng dân với “hoà” ước Nhâm
tuất, nhất là vì Vạn niên cát địa, nhưng đâu phải nhà vua không có đôi
mắt dõi tìm người nặng lòng với Đất nước, nhân dân! Quan phủ doãn
nhận ra ở vua Tự Đức một điều rất rõ: ấy là một vị vua thủ
thành, sinh trưởng trong nhung lụa, uy quyền, chứ không phải là vị vua
sáng nghiệp, trưởng thành trong chiến trận. Do đó, nhà vua không hề biết
đến việc nằm gai nếm mật, không từng khổ đau như nhân dân khổ đau. Vạn niên
cát địa, đối
với vua Tự Đức chỉ là lẽ đương nhiên của bậc
đế vương, cũng như lẽ đương nhiên của thiên tử là phải lo toan đêm
ngày cho vận nước! Những ý nghĩ ấy bỗng
bị chèn vào một mảng bóng tối, như vài giọt mực xạ rơi trên trang chữ,
chảy lem, vội thấm bằng giấy dậm, lại loang rộng ra. Đó là vụ biến
Hồng Bảo, lại vụ biến Hồng Tập. Cả hai đều là Hồng, chữ thứ hai
trong Đế hệ thi, một người là anh ruột, một người là anh em chú bác của
nhà vua. Vụ biến bị định
danh là vụ án, xảy ra từ ngày mùng hai tháng bảy năm ngoái, đến tháng
chạp bản án đã thành. Hồng Tập và Nguyễn Văn Viện đã phải ra pháp
trường, bị chém bêu đầu (43). Tháng hai
năm nay, giờ đây, âm hưởng vụ ấy vẫn chưa nguôi. Các quan Khoa đạo
(Đô sát viện) gồm Phạm Huy Khiêm, Trần Gia Huệ, Biện Vĩnh đã dâng tập
sớ xin vua minh oan cho Hồng Tập (Vũ Tập), mặc dù ông ta đã bị chém. Họ
tâu: Nghe Hoàng Diệu (Hoàng Kim Tích), một tri huyện mới ở huyện Hương
Trà, người ở trong hội đồng thi hành án ở pháp trường Bắc Dã (An
Hoà), kể lại, chính Hoàng Diệu nghe lời cuối cùng của Hồng Tập trước
khi lưỡi đao của đao phủ bổ xuống: “Vì tức
giận về hoà nghị mà bị tội, xin chớ khép vào tội bội nghịch” (44).
Nhưng
vua vẫn cho lời nói ấy được dựng lên, bèn
ra lệnh hỏi Phạm Huy Khiêm và Hoàng Diệu. Cả hai phải nói là nghe bóng
gió mơ hồ không rõ (44)! Phủ doãn Nguyễn Văn
Tường bảo viên thư lại mở tủ công văn tìm lại bản thông tư sao lục
bản án, Bộ Hình gửi đến phủ và gửi khắp các tỉnh, hồi tháng chạp
năm ngoái. Ông lặng lẽ đọc lại:
“…
Vua sửa lại, giảm bớt đi; cho Vũ Tập mượn
việc mưu toan ý khác, không nghĩ đến việc hoà hiệp; Nguyễn Văn Viện là
kẻ bôn tẩu, cạnh tranh, nham hiểm, giảo quyệt, đứng đầu tội ác; chuẩn
đều chém ngay, bêu đầu để răn bảo kẻ khác…”. “… Trương Văn Chất,
cùng [bốn người bị “cải tòng mẫu tánh” khác:] Trần Thanh, Quan phủ doãn thở
dài, bất giác lại đập tay xuống mặt bàn. Ngón tay giữa có chiếc nhẫn
nạm pha lê do vua tặng thưởng khiến ông cảm thấy đau. Ông ngẩng mặt,
tự nhủ thầm: Dẫu sao, Hồng Tập, Nguyễn Văn Viện và những người
trong nhóm vẫn là những người chống Pháp và bọn thực dân đội lốt “tả đạo”. Ông
biết nói gì đây khi vua đã xuống dụ tự phê bình (tự trách),
và trông mong lời nói thẳng của quan và của dân (45). Phủ doãn Nguyễn Văn
Tường rời khỏi án thư. Ông bước ra hành lang công đường, đi chậm rãi,
suy tư. Biết bao công việc có tên, rồi sẽ nổi cộm trong sử kí, hoặc
nói như vua Tự Đức, “việc
quan hệ đến muôn đời công nghị” (44), và
cũng biết
bao công việc không tên khác, thường ngày và bình thường, trong phạm vi
kinh sư Thừa Thiên – Quảng Trị, điểm nóng của mâu thuẫn lương – đạo,
đã và đang diễn ra, mà ông biết rằng, ông đang giữ trọng trách. Ông chậm
rãi bước, bước hết hành lang, lại quay gót bước lui, rồi lại bước tới.
Cứ thế, thỉnh thoảng ông dừng lại, nhìn hoa cỏ, nghĩ ngợi. Ông chợt đứng lại,
tưởng niệm một đại thần ông có dịp được tri kiến hồi mười tám
tuổi: Trương Đăng Quế. Cụ thượng họ Trương sau khi về hưu từ tháng
ba Quý hợi (1863), đến nay, tháng hai Ất sửu (1865) này, mới chưa tròn hai
năm, giờ đã thành người thiên cổ (46)! Quan phủ doãn lặng người trong
tưởng tiếc.
(1)
Tư
liệu “Gia
phả chi phái Nguyễn Văn làng An Cư, Triệu Phong, Quảng Trị” chúng
tôi hiện có chỉ ghi là: Ông Nguyễn Văn Dậu
mất năm Quý hợi (1863), bà Dương Thị Liên, huý nhật: 06 tháng 9 âm lịch
(không thấy ghi năm mất). Chúng tôi đãi lọc thêm chi tiết có thể gần
đúng (xem như tương đương với loại chi tiết hư cấu)
ở một cuốn sách có nhiều sai lầm, xuyên tạc:
Phan Trần Chúc, Vua
Hàm Nghi
(VHN.), Nxb. Chính Ký, Hà Nội, 1951, Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1995, tr. 20. (2)
Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.),
tập 30, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1974, tr. 21 – 25. (3)
Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam nhất thống chí (ĐNNTC.),
bản dịch Phạm Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh, tập 2, Nxb. Thuận
Hoá, 1992, tr. 340 – 341. (4)
ĐNTL.CB.
(Đại
(5)
Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam liệt truyện
(ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 336. (6)
Nhiều
tác giả, Từ điển văn học (TĐVH.), Nxb. KHXH., tập 2, 1984, tr. 53, 54;
ĐNNTC. (Đại
Nam nhất thống chí), tập
2, sđd., tr. 126: huyện Nghi Xuân nay thuộc
tỉnh Hà Tĩnh. |