9 Cuối hạ tuần tháng năm,
Đinh mão (19.05 nguyệt lịch, 20.06.1867), những ngư dân và các gia đình sống
trên sông nước ở bến thuyền Vĩnh Long thấy xuất hiện nhiều tàu chiến
Pháp sau những loạt súng trường và đại bác nổ ở phía cửa biển. Nhân dân và binh lính
nháo nhác, chuẩn bị tản cư. Nhìn cảnh tượng đó, quan kinh lược sứ
Phan Thanh Giản lập tức ra lệnh trấn tĩnh dân chúng và quân binh. Ông cho
người xuống bến thuyền để gặp người Pháp. Pháp cũng đã chuẩn bị
một phong thư viết bằng chữ Hán. Chúng trao cho lính của kinh lược sứ.
Họ tức tốc phóng ngựa về thành luỹ Vĩnh Long. Phan Thanh Giản bóc
phong thư niêm kín, bối rối đọc. Thì ra, bọn Pháp ở phủ suý Gia Định
nhắc lại, chúng đã nhiều lần cho sứ giả đến kinh đô Huế thương
thuyết, để triều đình Đại Nam giao hẳn cho chúng ba tỉnh Miền tây Nam
Kì, nhằm vun đắp “tình hoà hiếu
lâu dài (!)”, nhưng
nước ta không đồng ý (49). Nay
bọn Pháp cũng vin vào cớ cũ rích của chúng là nhân dân lục tỉnh thường
xuyên “quấy rối” (nhân dân gọi là “khởi nghĩa”)
chống lại chúng, để buộc Phan Thanh Giản giao ngay cho chúng
Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Kinh lược sứ Phan
Thanh Giản biết rõ ý định của chúng từ rất lâu: kế tằm ăn lá dâu,
người ta hay dùng chữ Hán là “tàm thực”. Chúng những muốn nuốt trọng
cả sáu tỉnh Nam Kì từ trước, nhưng khó bề một lúc lại nuốt gọn. Do
đó, chúng tính toán phải nuốt ba tỉnh Miền đông (Biên Hoà, Gia Định,
Định Tường) trước. Nuốt được ba tỉnh ấy, chúng hoàn toàn cô lập
ba tỉnh Miền tây, nhất là khi hai năm sau (1864) chúng nuốt được Cao Miên
với chiêu bài “bảo
hộ”, thực
chất “mọi
việc đều do nước Phú Lãng
Sa trông nom, tô thuế sai quan coi thu rất nặng” (62). Ba tỉnh Miền tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà
Tiên) nằm cheo leo giữa hai hàm răng cọp dữ là bọn Pháp. Không phải đến lúc
này Phan Thanh Giản mới hiểu ra ông và cả Lâm Duy Thiếp đã ngu ngốc như
thế nào khi đặt bút kí vào “hoà” ước Nhâm
tuất (1862) và
cũng vô ích biết bao khi triều đình
nhiều lần đòi đổi ba tỉnh Miền tây để lấy lại ba tỉnh Miền đông,
hoặc ít ra là lấy lại Biên Hoà, Gia Định, hoặc ít nữa cũng lấy lại
được mỗi một Biên Hoà, và khỏi phải nộp hằng năm số tiền “bồi
thường chiến phí” ngược ngạo và khổng lồ (51). Pháp biết chắc ba tỉnh
Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên “hình [thể] cách [lìa], [địa]
thế cấm [ngặt]”, “cheo leo, trơ trọi” kia chúng
chưa nuốt nhưng gần như đặt sẵn trước mồm cọp của chúng rồi.
Chúng không ngu gì lại đổi chác, trả Miền đông lấy Miền tây. Phan
Thanh Giản hiểu rõ, khi ông đặt bút kí “hoà” ước Nhâm tuất
(1862) là vô hình trung ông đã kí vào giấy nhượng
đứt cả sáu tỉnh. Hơn
nữa chấp nhận “bồi thường chiến phí”
là chấp nhận cho thực dân Pháp vét cạn kho tàng ngân
sách của triều đình và bóp nặn hầu bao nhân dân, nghĩa là vô phương sắm
sanh, chế tạo vũ khí, đạn dược cùng các thứ quân nhu khác để kháng
chiến. Chưa kể điều khoản cho chúng tự do truyền “tả đạo” để mê
hoặc nhân dân ta bằng thứ tôn giáo đã bị xuyên tạc nhằm tạo nội phản. Phan Thanh Giản trong mấy
năm gần đây càng thấm thía cái được gọi là “hoà” ước Nhâm tuất
(1862). Tất cả đại hoạ của nước Đại Nam khởi đầu từ “hoà” ước
Nhâm tuất (1862) đó, cho đến khi mất luôn cả nước từ Cà Mau đến Nam
Quan. Thế thì ba tỉnh Miền tây này đúng là đã mất từ năm Nhâm tuất
(1862) kia, chứ đâu phải đến tháng năm năm Đinh mão (1867) này! Phan Thanh Giản đã
già, không còn cưỡi ngựa được nữa. Ông ra hiệu cho lính hầu cận mang
võng đến. Nằm trên võng, một phương tiện di chuyển khá sang trọng của
quan chức già và các phú hào, ông bỗng thanh thản đến lạ lùng. Chẳng
còn gì để bàn luận nữa! Ra lệnh cho quân binh chống cự lại Pháp ư? Vô
ích! Cơ mật viện chả để nghị từ hồi tháng chín năm ngoái (1866) đó
sao: “Tướng
nước Pháp hoặc uỷ điều ước [mới], bức lấy
ba tỉnh, thì đối với ta đã là vô tình, tưởng cũng không thể trách bằng
giấy tờ [mà] được. [Việc chúng bức chiếm] chỉ khiến ba tỉnh ấy một
lòng chống giữ, hoặc sinh việc ngại khác. Xin tư cho quan kinh lược không
đánh nhau với quân Pháp, [mà] tự phải
rút lui. [Khi] việc đã rõ ràng, thì lấy ngay việc ấy cũng đủ làm cớ
để nói. Nếu người Pháp bức lấy tỉnh Vĩnh Long, thì còn hai tỉnh
An Giang, Hà Tiên, có thể dời đóng, hoặc bị người Pháp bức lấy tất
cả, thì tất phải chuyển về Bình Thuận để đợi lệnh triều đình. Đến
khi ấy sĩ dân sáu tỉnh tức giận lũ lượt
nổi lên, bấy giờ ta sẽ tuỳ cơ định liệu. Lũ tôi nghĩ đi nghĩ
lại, sự thế đến thế, tưởng phải nên như thế” (52). Vua
Tự Đức vẫn một mực dụ cho ông phải đòi lại cho
được ba tỉnh Miền đông, không để mất thêm ba tỉnh Miền tây: “Trẫm
ngày ngày mong tin ngươi thu lại ba tỉnh ấy, báo cho trẫm. [Lấy lại được]
thì ngươi giả sử có chết cũng nhắm được mắt, trẫm [có chết] cũng
yên tâm. Không thế thì [trẫm] cùng [với]
ngươi cùng mang tội đến muôn đời, không bao giờ chuộc được. [Khi chết
xuống] hồn vía không tan cũng làm hùng kiệt loài quỷ để mong báo [thù]
mới hả. Nói đến đau lòng không thể viết được nữa. Tuy cách xa
muôn nghìn dặm, [trẫm] như nói trước mặt ngươi. [Thế mà] ngươi còn
không tin [lòng trẫm], tự để lụy hay sao? Từ sau có trông thấy, nghe tiếng
[về việc gì] và trù tính việc gì đều tâu vào [tập tâu] cả, chớ lại
[toàn quyền định đoạt] như trước” (54), (63). Đó
là dụ
của vua hồi tháng hai năm nay (1867)! Thật vô vọng! Xuống tàu chiến của
giặc Pháp, Phan Thanh Giản cũng nói dăm điều may chăng vớt vát, mong chúng
đừng cướp luôn kho tàng của ba tỉnh, để lấy đó bù vào số tiền phải
nộp khoản “bồi thường chiến phí”
năm
nay (1.000.000 đồng bạc) (64). Ông
lên võng về lại dinh. Giặc cũng đã ập vào bốn mặt thành. Ông ra lệnh
cho quân binh không một ai được nổ súng, rút gươm chống cự giặc Pháp. Tướng Pháp liền chiếm
gọn tỉnh An Giang vào ngày kế đến, hai mươi tháng năm (22.06.1867). Ba ngày
sau, kể từ ngày mất Vĩnh Long, hôm hai mươi ba (24.06.1867), cũng không một
tiếng súng, đường gươm, chúng nuốt luôn tỉnh Hà Tiên một cách rất
khoẻ khoắn. Quan chức hai tỉnh đều bị bắt về thành tỉnh Vĩnh Long. Và
Pháp cho tàu thuỷ chạy ra Huế báo tin cho triều đình biết (64)! Kẻ nhận
nhiệm vụ báo tin ấy, lại chính là cố đạo Trường (Legrand de la Liraye)
(65). Đó là tên thực dân đội lốt tôn giáo, trước đây cùng Charles
Duval làm quân sư, cố vấn cho tên Pierre Tạ Văn Phụng ở Bắc Kì! Quan kinh lược sứ Phan
Thanh Giản chỉ còn viết sớ trần tình, nhận lỗi, và xin gửi trả áo
mão, sắc phong chức tước ra Huế. Ông quay mặt ra Huế, lạy tạ, nhịn
ăn để chết. Vua cùng các quan bàn kế
đánh giữ. Cứ ngỡ sự thể sẽ diễn ra y như dự kiến của Cơ mật viện:
dân sáu tỉnh Nam Kì lũ lượt nổi dậy và triều đình lần này quyết
tâm đánh bật bọn Pháp ra khỏi Nam Kì. Nhưng, rất tiếc là không một phản
kháng nào! Tại sao? Phan Thanh Giản đã hiểu thị cho dân Nam Kì lục tỉnh
thế nào? Đình thần chỉ mong vua xuống dụ cho quân binh các tỉnh chỉ tăng
cường phòng thủ các tỉnh còn lại, từ Bình Thuận đến Cao Bằng, và giấu
nhẹm nhân dân cả nước sự kiện đó. Thật ra, trong khi đó,
nhân dân lục tỉnh Nam Kì “trông
tin vua như trời
hạn trông mưa” (66)! Nhà
vua cũng chỉ biết bảo quan
đạo Phú Yên (ở tả kì) cứ ứng xử bằng cách khuyên họ nên theo đúng
phép tắc, khi được tâu rằng, giám mục, linh mục và tín đồ “tả đạo”
kiêu ngạo, khinh lờn, xin đuổi đi! Khi được tâu tàu thuỷ Pháp do thám
Bình Thuận, vua cũng đành phải bảo, cứ ứng xử cho “thản nhiên”
(67)! Phải tự cứu lấy
danh dự của mình, theo như lời khẳng khái và quyết liệt của Nguyễn
Trung Trực, “bao
giờ còn một ngọn cỏ mọc
trên đất Nam Kì, thì Nam Kì vẫn còn người đánh Pháp”, phó
đốc binh Lê Đình Đường đã lãnh đạo ba trăm nghĩa
binh căn cứ Long Điền (thuộc tổng Bình Trị Thượng) phản công cuộc tập
kích của thực dân Pháp (68). Lê Đình Đường hi sinh trong chiến thắng. Sự
kiện lừng lẫy đó đã dẫn tới “sự nổi
dậy của toàn thể dân chúng” Trà
Vinh, như chính bọn
Pháp nhận định. Ngay sau đó, Pháp tấn công Cầu Ngan, cũng kề Long Điền.
Nghĩa binh xông thẳng vào đội hình giặc, phản công và rút lui. Nghĩa quân
Trà Vinh còn kháng chiến chống Pháp đến những năm sau dưới sự chỉ huy
của tán lí Lê Văn Quân, đề đốc Triều, đốc binh Say… “khiến
cho người Âu sống ở đó
phải kinh hồn táng đởm đến cực độ” (68) mà
bọn Pháp
phải ghi lại để nhớ! 10 Bang biện khâm
phái Nguyễn Văn Tường lại được chỉ dụ của nhà
vua cho người do thám hành tung của bọn Pháp ở sông Khung (Mê Kông), điều
mà từ tháng mười một năm ngoái, Bính dần (1866), ông đã tâu vào kinh
và có biện pháp khai hoang giữ đất. Thì ra, đoàn thực dân đi thám hiểm
để thăm dò địa hình, lưu lượng và dân tình ấy nay đã đến Nghệ An!
Thổ mục Trấn Ninh (Nghệ An), tên là Thiệu Ứng, ông ấy đã đi thám
thính về, tâu vào triều: “Người
Pháp đi đến đâu [cũng] vỗ về, hậu đãi
nhân dân”. Dân
tỉnh Quảng Bình tâu báo: “Người Pháp đóng
[neo] thuyền ở bến sông Khung Giang; [tại] chỗ ấy [vốn có] đóng đồn
[, trước đây vua] sai canh giữ nghiêm mật, thổ man không dám [cho] chúng
đi” (69). Những tin tức về ba tỉnh
Miền tây Nam Kì ập đến cùng với sắc dụ do thám bọn Pháp do tên
Doudart de Lagrée và FranÇis Garnier cầm đầu không phải quá bất ngờ. Tuy
có cái ông đã biết trước nhờ tin thám báo, nhưng cũng khiến Nguyễn
Văn Tường bị chấn động trong đau xót và căm giận bọn Pháp quỷ quyệt,
giở trò mua chuộc dân để cướp nước. Tình thế của Đất
nước không còn có thể phản công trừng phạt lũ ngoại xâm nữa sao! Nguyễn
Tri Phương còn nắm giữ Bộ Binh, Vũ Trọng Bình còn nắm giữ Bộ Lại,
hai bộ quan trọng bậc nhất, cũng chả làm gì được nữa sao! Không thể
được, nếu trên Tổ quốc Đại Nam này, ai cũng dễ dàng trao dân, trao Đất
nước cho bọn thực dân rồi tự sát như Phan Thanh Giản, thì vận mệnh của
Tổ quốc Đại Nam có còn tồn tại đến ngày nay với niềm tự hào như
Loa thành, như lời thề Hai Bà Trưng, như ý chí Bà Triệu, như bài thơ Nam
quốc sơn hà, như Hịch
tướng
sĩ, như Bình Ngô đại cáo,
như
câu nói
khẳng khái và quyết
liệt của
Nguyễn Trung Trực? Nguyễn Văn Tường vẫn
kiên trì kế hoạch ba điểm và sáu điểm của ông và Nguyễn Quýnh. Nó đã
trở thành kế hoạch của triều đình, vua chuẩn y và cho triển khai. Ông
đang chủ trì ở Thành Hoá này, nhưng luôn theo dõi các tỉnh từ Bình Định
đến Nghệ An, xem các tỉnh ấy đã phân đoạn thượng đạo để phối hợp
khai mở như thế nào. Đã nhiều lần ông với những người lính tuỳ
tùng phóng ngựa vào Thừa Thiên, tiếp xúc, vận động đồng bào Cơ Tu ở
A Sao, A Lưới, ra Quảng Bình, Hà Tĩnh bàn bạc với tổng đốc An – Tĩnh
Hoàng Tá Viêm, với bố chính sứ Ngụy Khắc Đản, cả với thuộc cấp trực
tiếp đang tiến hành. Ngụy Khắc Đản vốn là người
thổ trước (người chính gốc địa phương) Nghệ
An, vì
tình hình lương – giáo cực
kì mâu thuẫn
ở tỉnh ấy, nhà vua phải đặc biệt sử dụng ngoài lệ hồi tị để giải
quyết. Hồi tị là lệ không bổ nhiệm người chính gốc địa phương đảm
nhiệm chức quan ở địa phương ấy, nhằm tránh được tình trạng thiên
vị, khó xử, thiếu công bằng, khách quan. Nhưng, Ngụy Khắc Đản cũng
như ông, trong trường hợp tình hình đặc biệt, phải ngoại lệ. Ngụy Khắc
Đản cũng đang làm việc ở biên giới, lo mở thượng đạo xuyên Trường
Sơn (70)… Ông mở tấm bản đồ,
nhìn rõ biên giới nước ta ở vùng Quảng Trị đến Thanh Hoá, đất đai bản
triều sát liền với sông Khung (Mê Kông). Những địa danh khởi đầu từ
chữ Cam: Cam Lộ, Cam Linh, Cam Môn, “Tìm người dũng cảm,
nên tìm ở đám tội đồ”! Các
sách binh pháp viết vậy. Vua Tự Đức cũng có lần nói thế (72). Ngẫm cho
sâu mọi lẽ, quả thật là đúng, nếu ta biết “lấy
chí nhân
mà thay cường bạo”. Nhưng
phải biết phân loại những kẻ tội đồ,
không biết phân loại là sẽ hỏng bét… Quan bang biện khâm phái Nguyễn Văn
Tường thấy thương biết mấy, tiếc biết mấy những tội đồ như hai
người học trò làng Tiên Lễ, làng Lệ Sơn của huyện Minh Chính, tỉnh Quảng
Bình năm nào. Ông chợt muốn chữa lại câu binh pháp: “Tìm
người dũng cảm, trí tuệ vượt người thường
đương thời, nên tìm ở đám tội đồ”! Những ngày tháng sau sự kiện
thực dân Pháp bức chiếm ba tỉnh Miền tây Nam Kì, vốn gây chấn động lớn
trong tâm trí ông và bao người khác, vẫn phải trôi qua theo công việc cụ
thể hằng ngày, những suy tư thường nhật! Trần Đình Túc vẫn phải
ngày ngày lo khoi lại sông Vĩnh Định, tuyến đường thuỷ nối Thừa Thiên
với Quảng Bình, chảy ngang qua quê nhà, nhưng lần này là khoi đền bù vì
lần trước khoi thiếu kĩ thuật trị thuỷ (73)! Hoàng Tá Viêm cũng khoi thêm
đường thuỷ từ cửa biển Quảng Tuần đến bến đò Linh Giang (sông
Gianh), từ Man Khê đến bến đò Thuế Trường, Vĩnh Cảng ngoài Quảng
Bình, Hà Tĩnh (74)… Sau trận bão tháng tám
theo lịch mặt trăng (nguyệt lịch) ở các tỉnh phía Bắc và ở Thừa
Thiên, Quảng Trị (75), khâm phái Nguyễn Văn Tường lại nghe tin triều đình
đang tiến hành nghị xử vụ lục tỉnh Nam Kì! Vua Tự Đức ban dụ tiến
hành nghị xử theo nhận định bước đầu của chính nhà vua: “Dụ rằng: Sáu tỉnh ở
“Khâm thử (hãy kính vâng dụ này)”. Bang biện khâm phái Nguyễn
Văn Tường dẫu biết sự thể nước mình
cũng như Nhật Bản (các “hoà” ước 1842, 1858…) (22), cũng như Triều Tiên,
Trung Quốc nhà Thanh, Tây Tạng, Ấn Độ, Xiêm, Miến, Hạ Châu (Mã Lai), Lữ
Tống (Phi Luật Tân), cũng như các nước Hồi giáo Trung Á, Quách Nhĩ Kỳ
(Népal), Bố Đan (Brutan), Triết Mạnh Hùng (Sikkim), Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư
(Iran) (22)… Nhưng không thể không tiếp tục tiến hành kế hoạch thủ để
chiến, phòng thủ để sẵn sàng chiến đấu, và chỉ có chiến đấu mới
có thể giành lại nhân dân và một phần Đất nước ở Nam Kì. Nghị “hoà”
chỉ là cầm cự, và cũng chỉ là cầm cự, hoặc chỉ sa vào ảo tưởng! 11 Vua Tự Đức rất đau
xót và căm phẫn bọn Pháp về việc chúng bức
chiếm ba tỉnh Miền đông hồi năm Nhâm tuất (1862), rồi mới đây (Đinh mão,
1867), lại bức chiếm cả ba tỉnh Miền tây Nam Kì. Nhà vua thấy cần phải
chước nghị lại “hoà” ước Nhâm tuất (1862) để mong còn gỡ gạc lại
hai tỉnh Biên Hoà, Gia Định! Chọn người để lập
phái bộ, vua suy nghĩ, lấy ý kiến của các đại thần. Thượng thư Bộ Công
Trần Tiễn Thành vừa thoát khỏi danh sách nghị xử, mặc dù ông ta bị
nhóm chống đối nghị “hoà” Hồng
Tập (1864) kết tội tử hình, chỉ đứng sau Phan Thanh Giản!
Đó là một điều lạ. Nhưng ngẫm lại, cũng may cho Trần Tiễn Thành vì
ông ta chỉ có vai trò thứ hai trong việc bàn thảo rồi đi đến nhân nhượng
tục ước Aubaret (1864), tục
ước “bảo hộ” lục tỉnh
Nam Kì (77), mà
đình thần, thân phiên thấy còn đáng
quan ngại hơn cả “hoà” ước Nhâm tuất (1862), nên cuối cùng bãi bỏ,
vẫn giữ nguyên “hoà” ước Nhâm tuất (78)! Khi tục ước Aubaret không
thành thì Trần Tiễn Thành vẫn xem như được vô can! Vả lại, vua Tự Đức
hình như có một thiên vị rất đặc biệt với kẻ chủ “hoà” này
(79)! Do đó, Trần Tiễn
Thành được chọn làm chánh sứ. Vua Tự Đức vẫn theo phương châm quân
bình dịch học, muốn giữ tính cân bằng giữa “hoà” và thủ với chiến
và thủ chăng, nên theo ý của chính vua và cũng theo đề nghị của Cơ mật
viện, đình thần, nhà vua chọn bang biện huyện vụ Thành Hoá Nguyễn Văn
Tường làm tuỳ biện. Vua Tự Đức vốn đã biết rất rõ về Nguyễn Văn
Tường từ hồi ông còn làm tri huyện và phủ doãn, lại rõ hơn trong hai
năm làm khâm phái bang biện gần đây. Vua Tự Đức gặp mặt
hai sứ thần của mình với lời dặn kĩ lưỡng: “Nước ta giao hoà với
nước Pháp có định ước cũ. Nay việc bờ cõi Vua Tự Đức lại bảo
các quan hội đồng biên [chép] đúng điều ước mới “để
hoà hiếu được lâu dài” (!)
(80). Sau đó, căn cứ vào chức trách được giao phó, nhà vua ban cho mỗi người
một món bạc để chi phí riêng. Vua Tự Đức bảo Nguyễn
Văn Tường: - Trẫm đã biết tiếng
của ngươi từ lúc ngươi còn làm tri huyện ở Thành Hoá. Ngày ấy, thượng
thư Vũ Trọng Bình hiện có mặt ở đây còn đảm đương chức phủ doãn
kinh sư, họ Vũ đã chuyển trình cho trẫm nhiều bản tấu, sớ của ngươi.
Sau này, lúc ngươi làm biện lí Bộ Binh, kinh doãn, rồi mới hai năm khâm
phái bang biện gần đây, trẫm đã gặp mặt, đã đọc và phê tất cả
các tấu, sớ ngươi đệ trình. Trẫm rất mong ngươi tiếp tục phát huy
ngày càng cao, càng tài, chứ đừng thụt lùi lại. Như vậy là đã tri ngộ,
chứ không phải là vị ngộ, chưa biết, chưa gặp. – Vua Tự Đức mỉm
cười, lại bảo –. Trẫm luôn tâm niệm lời cầu hiền, cần tìm người
hiền tài giúp nước, nhất là trong lúc khó khăn, cam go này, ấy là “ai
tiến cử được người hiền tài, sẽ
được thưởng hậu; kẻ nào che giấu người hiền tài, tất sẽ bị giết” (81)… Mong rằng ngươi đi sứ chuyến này sẽ
không phụ ân
tri ngộ
của
trẫm. Ngươi cố ra sức đàm phán bằng tất cả tài năng
ứng đối giỏi xưa nay của ngươi… Nay ngươi đang bị cách tuột chức
hàm, ta chỉ cho ngươi được làm chức năng tuỳ biện. Đây
là trường hợp rất đặc biệt, phó sứ của sứ bộ một triều đình
mà không có chức hàm nào tương xứng! Thường thường, theo lệ, ít ra cũng
phải cho ngươi được mượn hàm tham tri!… Tuy vậy, vẫn cứ làm thật xứng
với nhiệm vụ được giao. Ngươi hãy tuỳ theo bản điều ước dự thảo
của trẫm và thân phiên, đình thần mà biện thuyết với bọn rợ Tây dương.
Nhớ thật kĩ lời dặn của trẫm. - Tâu hoàng thượng, thần
xin làm hết sức mình vì quốc thể và để đền đáp ân tri ngộ của
hoàng thượng. – Nguyễn Văn Tường thi lễ và đáp tạ –. Theo ý vua, đây chỉ
là cuộc đàm phán sơ bộ, sau đó sứ đoàn sẽ sang Ngoài ra, cần người
thông dịch, phải đành tìm ở các tín đồ Gia Tô. Người được chọn là
Nguyễn Đức Hậu, cửu phẩm hành nhân (82). Những ngày cuối tháng
chạp nguyệt lịch năm Tự Đức thứ hai mươi, vì yêu cầu quá bức thiết
của phía Pháp, không thể hoãn được đến sau Tết Nguyên đán, phái đoàn
sứ bộ gồm khâm sai đại thần Trần Tiễn Thành, tuỳ biện Nguyễn Văn
Tường cùng những người tuỳ tùng với một thông dịch viên đã lên tàu
thuỷ chạy bằng máy hơi nước của triều đình, vào Gia Định. Tàu cập
bến Vũng Tàu (bấy giờ vốn thuộc tỉnh Biên Hoà) vào ngày đầu năm mới,
Tết Nguyên đán Mậu thìn, mùng một, tháng giêng (25.01.1868) (82). Đô đốc De Lagrandière
đón tiếp sứ bộ một cách lịch sự. Biết đó chỉ là phép lịch sự
trong nghiệp vụ ngoại giao, Nguyễn Văn Tường và chánh sứ của phái đoàn
cảm thấy không khí thật gượng gạo, không thể không bày tỏ đây là một
việc bất đắc dĩ. Cũng có người đã không thể kìm lòng, thốt lên những
lời cay đắng. - Hình như các ngài có
điều gì bận tâm phiền muộn? – De Lagrandière nói, khi y và hai sứ thần
Đại Người thông ngôn của
y dịch ra tiếng Việt. - Làm thế nào để có
thể vui, trong khi tình cảnh thật bất lợi và thất thế đối với chúng
tôi! Chúng tôi chỉ có thể vui, không phải bận tâm phiền muộn, một khi
ngài đô đốc De Lagrandière và nước Pháp của ngài thật sự công bằng!
– Nguyễn Văn Tường thấy Trần Tiễn Thành hơi lúng túng, vội xin phép
đỡ lời –. Người thông ngôn của
ta dịch ra tiếng Pháp. De Lagrandière hơi nhếch
bộ râu vàng hoe của y, nhưng kịp giấu nụ cười nhạt. Sau đó, bước vào buổi
đàm phán thứ nhất. Trong buổi này, Trần
Tiễn Thành tố cáo sự bức chiếm ba tỉnh Miền tây Nam Kì của Pháp. Cũng
như mọi người, ông cho rằng Pháp đã vi phạm điều ước Nhâm tuất
(1862). De Lagrandière lại giở luận điệu cũ rích và ngược ngạo. Y vẫn
vin cớ nghĩa sĩ Nam Kì nổi dậy, nói theo ngôn từ của y là “bọn
phiến loạn
luôn quấy nhiễu” (82) và
các quan Đại Như phương án đã sắp
xếp, phân công trước của vua Tự Đức và triều đình, trong buổi thứ
nhất này, chỉ một mình chánh sứ Trần Tiễn Thành sẽ tranh luận với
phía Pháp. Lập luận của chúng, ta đã rõ từ lâu. Lí lẽ của ta, chúng cũng
không phải mới biết. - “Rằng các quan Đại
Nam đã đoán trước từ rất lâu, trước khi sự việc xẩy ra lâu lắm,
là sẽ không giữ được ba tỉnh Miền tây, [nhiều lắm cũng] chỉ còn giữ
một thời gian rất ngắn nữa thôi, bởi vì đô đốc muốn bảo hộ xứ
Campuchia mà lâu nay ông (83)
vẫn đặt nhiều hi vọng. Đã thế thì sớm muộn gì ông cũng thấy việc chiếm ba tỉnh
[ấy] là thuận tiện và rất có lợi, để dễ quan hệ với Campuchia và kiểm
soát vương quốc này dễ dàng hơn. Tuy nhiên, triều đình Việt - Các ngài có thể nói
thẳng những gì các ngài và đức vua của các ngài yêu cầu! – De
Lagrandière nhìn vào chánh sứ, phát biểu –. - Đức vua và triều thần
chúng tôi mong các ngài sẽ trao trả lại tỉnh Biên Hoà! - Không thể được,
thưa ngài chánh sứ! Chúng tôi chỉ đề nghị nước Đại - “Cái tiền bạc hữu
hạn, còn thổ địa thì lại vô cùng” (82). – Trần
Tiễn Thành nói nhanh –. De Lagrandière lại xoay
qua luận điệu cũ, rằng không thể trả lại cho Đại Thấy chánh sứ Trần
Tiễn Thành đã hơi xiêu lòng, Nguyễn Văn Tường liền tỏ ý muốn nói,
và ông nói ngay: - Tôi xin được phát
biểu. – Tuỳ biện Nguyễn Văn Tường nói –. Về nạn giặc Tàu Ô trên
biển, lực lượng thuỷ hải quân chúng tôi thừa sức để trừng phạt chúng
(82). Thật không nên đem điều khoản đã có từ hiệp ước cũ để gọi
là đền bù cho việc bức chiếm ba tỉnh Miền tây! Và xin trở lại vấn
đề từ đầu, ai vi phạm hiệp ước Nhâm tuất ngay cả điều khoản này?
Thử hỏi người Pháp đã giúp gì cho Đại - Tôi xin sẽ chiết
tính phí tổn của mỗi lần tiễu phỉ theo yêu cầu của Đại - Nói lại là không
nên đem điều này để đặt vấn đề nữa! Chúng tôi hiểu ý ngài đô đốc
De Lagrandière nói, phải chăng ngài muốn nhân việc đền bù bằng cách tiễu
phỉ ấy mà yêu cầu được thường xuyên tuần tiễu trên bờ biển của
chúng tôi chăng? Thế là các ngài đền bù một cách quá khôn ngoan, rất
có lợi cho các ngài, và bờ biển chúng tôi lại bị vi phạm chủ quyền.
Xin nhấn mạnh, như thế là Đất nước chúng tôi bị vi phạm chủ quyền
lãnh hải! Xin chấm dứt việc bàn bạc vấn đề tiễu phỉ trên biển
này. Chúng tôi chỉ muốn được giữ trọn vẹn Tổ quốc của chúng tôi,
lấy lại cả sáu tỉnh Nam Kì, mà quan khâm sai toàn quyền Phan Thanh Giản lỡ
kí nhượng ba tỉnh Miền đông một cách thất lợi và thất thế, hay yêu
cầu thấp hơn là đổi ba tỉnh Miền đông lấy ba tỉnh Miền tây, hoặc
giữ nguyên hiệp ước Nhâm tuất 1862, hoặc ít ra phải trả cho nước Đại
Nam hai tỉnh Biên Hoà, Gia Định, chí ít cũng một tỉnh Biên Hoà! Chúng
tôi vì yếu thế trước liên quân của các ngài, nên đành phải nhân nhượng,
từ nhân nhượng này rơi xuống nhân nhượng khác một cách đau lòng. Các
ngài phải biết dừng lại tham vọng bất chính! Buổi đàm phán thứ nhất
đành phải tạm ngưng vì lí lẽ đanh thép của Nguyễn Văn Tường và chủ
yếu là vì đã quá trưa, vượt giờ giấc quy định. Trong buổi đàm phán thứ
hai, phía Pháp đề nghị cho một số “nhân sĩ” cam
tâm làm tay sai cho chúng được vào bàn luận,
trong đó có tên nhà thơ đã bị thi sĩ cử nhân Phan Văn Trị dùng bút chiến
để vạch trần bản chất của y là làm nô bộc cho bọn ngoại xâm, ấy
là tên đốn mạt Tôn Thọ Tường. Ngoài ra, còn có một số tên tay sai người
Việt mới được thực dân Pháp đào tạo làm “viên chức” cho chúng
(82). Ngay phút đầu, chánh sứ
Trần Tiễn Thành giới thiệu tuỳ biện Nguyễn Văn Tường như một phó sứ
và là nguyên phủ doãn kinh sư Thừa Thiên – Quảng Trị! Ông ta đề nghị
những người tham dự đàm phán nghe Nguyễn Văn Tường nhắc lại các điều
khoản của cái gọi là hiệp ước Nhâm tuất 1862 và các điều khoản
trong hiệp ước dự thảo mà vua Tự Đức cùng thân phiên, đình thần đã
biên soạn sẵn (82). Một cách khúc chiết và
gãy gọn, tuỳ biện Nguyễn Văn Tường trình bày dõng dạc với một giọng
nói và cách nói dễ gây thiện cảm cho mọi người. Trên môi ông luôn
luôn có một khoé cười nhẹ, biểu thị bản lĩnh và tự tin. Khoé cười
của sứ giả thuyết khách chỉ bất giác tắt đi, trong những khi thấy cần
mở rộng các điều khoản cho dễ hiểu với giọng nói biện luận, ngữ
điệu trở nên hùng hồn hoặc bi tráng. Nguyễn Văn Tường cũng nhắc lại
những điểm thương lượng mà Trần Tiễn Thành quên, không nhớ hết. Thật
ra, đó là những điểm Trần Tiễn Thành bị hớ hoặc quá chịu lép vế
trước đối phương. - Quan chánh sứ của sứ
bộ chúng tôi, Trần Tiễn Thành, trong buổi thứ nhất có nói: “Dù
sao đi nữa, việc đô đốc chiếm ba tỉnh [Miền tây - “Cá lớn nuốt cá
bé”! Đời
vốn thế, thưa ngài phó sứ Nguyễn Văn
Tường! – De Lagrandière trắng trợn nói –. Những
tên thực dân Pháp và các tên tay sai cho chúng thảo luận từng
điều khoản của hiệp ước mới và chúng bác bỏ cả nội dung lẫn hình
thức của văn bản dự thảo ấy! Trần Tiễn Thành chỉ
còn biết nói bằng giọng điệu van nài thảm hại. Ông ta nhắc lại hình
ảnh trong câu nói của vua Tự Đức hồi mới kí kết “hoà” ước Nhâm
tuất 1862: một người cha mất con, con tìm về, lại bị buộc phải giao nộp
cho kẻ bắt chúng (84) (82)!Người cha ấy
là vua Tự Đức và con cái chính là nhân dân tìm ra tị địa Bình
Thuận, là nghĩa binh Nam Kì. Nguyễn Văn Tường thấy đó là một hình ảnh
cảm động mà chính ông cũng ứa nước mắt, nhưng vội kìm lại nỗi yếu
mềm trước đối phương đang lạnh tanh những nét mặt sắt đá. Điều đề
nghị cuối cùng của Trần Tiễn Thành là mong Pháp đồng thuận chính sách
“bảo hộ” ở sáu tỉnh Nam Kì, thay vì chính sách thuộc địa do người
Pháp trực trị. Với chính sách “bảo hộ”, quan Việt cai trị người Việt
bằng pháp luật Việt, thu thuế cho Pháp, không thiếu một xu, như chính người
Pháp trực tiếp thu (82). Với chính sách
trực trị kiểu thuộc địa, và luật pháp của thực dân Pháp, nhân
dân Nam Kì không thể chịu nổi sự hà khắc và nhục nhã (82). “Bảo hộ”,
đó chính là nội dung tục ước Aubaret 1864! Trong thời điểm 1864 ấy, ta
chưa bị mất cả ba tỉnh Miền tây! Tuỳ biện Nguyễn Văn
Tường thấy đến thế là đã cùng cực ô nhục cho quốc thể. Đường
đường sứ bộ của một nước có bốn ngàn năm văn hiến, từng đánh bại
đế quốc Nguyên – Mông hung hãn bá quyền cả thế giới, lúc này lại phải
van nài cho dân như thế. Nghĩa là cả quan lẫn dân đều làm trâu ngựa cho
Pháp! Nhưng ông cũng chẳng biết làm thế nào được! Trong thời điểm Mậu
thìn (1868) này, nội dung tục ước Aubaret 1864 lại xem ra còn dễ được
sĩ dân chấp nhận tạm thời, vì mới xem ra, nhân dân Nam Kì đỡ tủi nhục
hơn, theo cách nói thà
người Việt làm đầy tớ người Việt, còn hơn làm đầy tớ bọn da trắng bạch
tạng, bọn dạy người khác quên tổ tiên nguồn cội, chỉ biết tôn thờ
Nhi Nhu (Giê Su, Jésus) xa lạ! Ông thấm
thía một lẽ đơn giản: Phải chiến để đàm vì mọi đàm phán cũng vô
ích nếu không có lưỡi gươm, viên đạn quân lực trên chiến trường làm
hậu thuẫn. Tất nhiên De
Lagrandière và những tên Pháp có mặt tại đó đều phản đối, bác bỏ
đề nghị phương án “bảo hộ” cho lục tỉnh! Chúng đang hớn hở vì vớ
bẫm túi tiền nhân dân Nam Kì, một phần nhét vào túi riêng mỗi đứa, một
phần đưa về nước Pháp để tâng công, thăng chức. Bọn Pháp ở Paris
đang cụng chén sâm banh (Champagne) trước chiến thắng trong việc xâm lược
ba tỉnh Miền tây Nam Kì tại Viễn Đông, chiến thắng mà không tốn đến
dăm, bảy viên đạn! Chúng không chấp thuận
một nhân nhượng nào cho phía Đại Nam, ngoài việc De Lagrandière hứa hẹn
với Trần Tiễn Thành rằng chúng sẽ chỉ giảm cho số tiền “bồi thường
chiến phí” (82) khổng lồ và ngược ngạo,
số tiền ta phải trả cho kẻ xâm lược ta, bắn giết ta, gây nên cảnh
nồi da xáo thịt trong nước, và trước mắt là chúng uy hiếp, khống chế
để bóc lột nhân dân Nam Kì, đồng bào ruột thịt của ta, tận xương tuỷ! Sứ bộ Đại Sứ bộ lên tàu thuỷ
về Huế vào những ngày đầu tháng hai theo lịch mặt trời, lịch Nhi Nhu
(Jésus), 1868. Đó là những ngày Tết Nguyên đán chưa hạ cây nêu! Khi xuống tàu, một người
dân ở bến thuyền nói như hét: - Trần Tiễn Thành!
Nghe đây! “Người khách” thì lo làm khách, chớ tranh làm chủ! Nước Đại
Kẻ vừa bắc loa tay
nói như hét ấy chạy nhanh vào chợ, biến mất. Toán lính toan chạy theo bắt
lại, nhưng quan chánh sứ Trần Tiễn Thành chỉ lắc đầu, đỏ bừng mặt,
nghẹn giọng, bởi ông ta biết chạy theo để bắt người ấy là vô ích!
Là một người khôn ngoan, ông không muốn để cái sảy nẩy cái ung! Ông
chỉ biết hăm doạ những người lính theo hầu cận phái đoàn với giọng
rất khẽ: - Về kinh đô Huế,
chúng mi đừng bao giờ kể lại chuyện ni nghe! Hãy liệu cho cái đầu trên
cổ mỗi đứa chúng mi! Thật ra, chánh sứ hiệp
biện đại học sĩ, thượng thư Bộ Công Trần Tiễn Thành còn ngầm răn
đe những quan chức khác trong sứ bộ Đại Khi tàu thuỷ ra đến
biển khơi, quan hiệp biện đại học sĩ cũng chẳng nói gì. Ông ta đăm
chiêu nghĩ ngợi. Không phải lần đầu tiên ông nghe đến hai chữ “người
Khách” hoặc “Hoa kiều”. “Kiều”
có nghĩa là khách trú mà thôi. Chính bản thân ông và
người Hoa, kể cả số người Hoa được gọi là Minh Hương, đều nói thế,
và luôn tâm niệm “nhất
thịnh phạn, bất vong cố quốc”, không
bao giờ quên nước cũ, Tổ quốc của mình là Trung
Hoa. Thế mà… Cứ hình dung người Đại 12 Thời điểm đàm phán
bị Pháp bức ép, ngay ngày Tết Nguyên đán, chứng tỏ chúng thiếu tinh thần
tôn trọng văn hoá của dân tộc khác. Nội dung cuộc đàm phán cũng không
mang đến một kết quả nào. Thực dân Pháp chỉ muốn chúng hoàn toàn có
lợi và ngày càng có lợi nhiều hơn! Non hai tháng sau, Trần
Tiễn Thành bị giáng xuống một bậc, tả
tham tri Bộ Công. Tuy thế, ông ta vẫn được giữ chức năng thượng thư bộ
ấy (85). Nhưng Nguyễn Văn Tường lại được vua và thân phiên, đình thần
đánh giá cao. Đó là nghị luận, bình xét về cuộc đi sứ, đàm phán vào
dịp áp Tết và đúng ngày Tết cổ truyền mừng năm mới của nước ta. Vua Tự Đức thấy cần
chủ động đặt vấn đề tiếp tục đàm phán, nhưng chưa biết phải tiến
hành thế nào để khỏi tốn công vô ích. Phủ suý Pháp tại Gia
Định từ sau ngày bức chiếm được ba tỉnh Miền tây Nam Kì, chúng đã dự
thảo “hoà” ước mới, “định lại điều
ước mới, đem tờ thay đổi đến bắt ta phải đóng ấn kí tên” (86) như
Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp đã làm! Phủ
suý Pháp còn đề nghị triều đình Đại Vua Tự Đức và triều
đình đã thảo luận, đề ra mục đích của chuyến đi sứ này: Trong sáu
tỉnh Nam Kì bị Pháp bức chiếm, phải biện thuyết thế nào để chúng trả
lại ba tỉnh, đồng thời hoàn toàn bãi bỏ điều khoản về số tiền “bồi
thường chiến phí” khổng lồ và ngược ngạo. Lần này, vua cùng đình
thần cũng bàn việc đề cử. Thượng thư Bộ Lễ Nguyễn Văn Phong, người
Tuy Viễn, Bình Định, có văn tài rất hứa hẹn là văn tài lớn nhưng thi
hoài không đỗ (87), làm chánh sứ. Tả thị lang Bộ Lễ, sung làm việc ở
Nội các Phan Đình Bình, người huyện Quảng Điền, Thừa Thiên, hội
nguyên tiến sĩ khoa Bính thìn (1856) (88), làm
phó sứ. Và bồi sứ, nhân vật thứ ba của sứ bộ, là bang biện khâm
phái Thành Hoá, cử nhân Nguyễn Văn Tường, người vừa được gia hàm thị
độc học sĩ (chánh tứ phẩm) trong dịp này. Sứ bộ không những sang thủ
đô nước Pháp mà còn đi các thủ đô nhiều nước ở châu Âu, như Anh, Tây
Ban Nha để vận động ủng hộ Đại Khi được chiếu chỉ
triệu về triều phụng mệnh sung vào sứ bộ,
Nguyễn Văn Tường đau lòng cảm thấy việc đó cũng chỉ vô ích. Với
kinh nghiệm sau nhiều lần chứng kiến sự đàm phán ngoại giao ở Huế cũng
như trực tiếp biện thuyết ở Gia Định vừa rồi, Nguyễn Văn Tường đã
đau xót thấm hiểu, không chiến và thủ, sẽ
không đàm được gì hết. Thắng lợi ở bàn đàm phán là do chiến
và thủ có kết quả ở mặt trận. Nguyễn Văn
Tường và mọi người, từ quan đến dân, đều hiểu điều đó. Đàm
phán với ý thức giữ gìn quốc thể của một nước, không thể van nài,
kêu xin bọn thực dân rũ lòng thương hại được. Chính trong dịp Tết
Nguyên đán Mậu thìn (1868) vừa rồi, ông đã thấy tận mắt và thấm
thía điều đó. Vả lại, đây là âm mưu của bọn tướng tá Pháp và tay
sai của chúng tại Gia Định. Chúng chỉ mong triều đình nước ta kí vào
“hoà” ước mới để chúng được hợp thức hoá chủ quyền trên cả lục
tỉnh Nam Kì. Triều đình đã bị nhân dân Biên Hoà, Gia Định, Định Tường
kết án là “khí dân”, bỏ rơi dân trong tay bọn cướp nước. Nay nếu bị
mắc mưu chúng lại kí tiếp, thì chứng tỏ triều đình đã cam tâm nhượng
đứt, nếu không muốn nói là “bán đứt” để mua thời gian cầm cự.
Thực dân Pháp cầm được “hoà” ước mới, sĩ dân ba tỉnh Miền tây
Nam Kì sẽ hết đường ăn nói với bọn chúng, không biết vin vào đâu để
đấu tranh bằng hình thức này hay hình thức khác với chúng. Thực ra, sứ
bộ không thể đàm phán theo mục tiêu của triều đình là buộc Pháp trả
lại ba tỉnh trong sáu tỉnh và xoá bỏ khoản “bồi thường chiến phí”
được! Muốn đàm phán đạt mục tiêu ấy, sĩ dân phải lũ lượt nổi dậy,
quân binh triều đình phải tấn công đánh bại chúng ở nhiều nơi, với
nhiều trận thắng. Nhưng, thực tế trận mạc là đáng buồn! Dã tâm của bọn phủ
suý Pháp tại Gia Định là chúng chỉ muốn ép
ta, lừa ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán mà thôi! Ai chẳng rõ điều
đó. Nhưng hơn ai hết, Nguyễn Văn Tường quá hiểu điều này. Ông xác định
rõ và còn phải xác định mãi: Nếu không chiến và thủ
thì đừng đàm phán, thương thuyết làm gì! Chỉ tốn công vô ích. “Hoà”
nghị để lấy lại ba tỉnh đã mất và khỏi
“bồi thường chiến phí”, khoản “bồi thường” theo yêu cầu ngược
ngạo của chúng, chỉ là ảo tưởng! Kinh nghiệm lịch sử đã bao đời đúc
kết: Đấu tranh bằng phương thức “hoà” nghị, lấy lẽ phải, đạo lí
để đấu tranh với tham vọng cuồng bạo là ảo tưởng, trong tình huống
cán cân lực lượng, giữa chính nghĩa chống ngoại xâm là ta và phi nghĩa
thực dân là địch, quá chênh lệch! Vào đến Huế, ông viết
ngay bản sớ kính trình vua Tự Đức, với sự đồng thuận của Nguyễn
Văn Phong, Phan Đình Bình: “Ba tỉnh Vĩnh Long, An
Giang, Hà Tiên đã vào trong bụng người,
hình [thể] cách [lìa], [địa] thế cấm [ngặt], ta đã khó giữ được, mà
người Tây cũng coi là vật ở trong túi. Năm trước Dô Du Anh Đê [-Luy]
[Drouyn de Lhuys, ngoại trưởng nước Pháp – ct.] thường cùng Phô Na [Bonard
– ct.] từng đến yêu cầu ta giao cho. Gần đây Gia Lăng [De Lagrandière –
ct.] lại nói là sáu tỉnh ấy không thể cắt đứt được. [Xem thế] thì
mưu kế thôn tính, tưởng [vua, tướng] nước ấy cùng hội bàn [với nhau]
từ lâu. Tỉnh Gia Định hiện nay, sửa sang nền nếp đã thành, nước ấy
mới lấy đấy làm thế trọng yếu. Tuy ta có phí nhiều lời khúc chiết,
[chúng – ct.] đâu có chịu bỏ. Nếu [chúng] hư ứng [:vờ đồng ý], nhất
thời nhường giả ít nhiều, rồi [chúng] lại bội ước mà lấy, tưởng
cũng như việc tỉnh Vĩnh Long trước mà thôi. Huống chi sinh việc cầu
công [:gây việc hòng lập công] là thói thường của quan ở biên giới
[:biên thần; ở đây, chỉ tướng Pháp tại Gia Định thuộc Pháp – ct.],
mà ghen công tranh giỏi cũng là lòng người tất có. Tướng Pháp mà còn
ở lại Gia Định, thì sứ thần đến thẳng [Ba Lê ( Trộm nghĩ, từ xưa nghị
hoà, yếu mà xin hoà thì có. Nước Pháp đối với ta, [chúng đang] chiến
thắng, đánh đâu được đấy, thì khó gì mà [chúng] cùng ta ước hẹn
[:giao ước]! [Chẳng qua] bởi vì [bọn
Pháp] vượt mấy lần biển mà đến, ở đất nước ta, [chúng] thấy sĩ dân
ta phần nhiều đem lòng ngờ vực [chúng], cho nên [nước Pháp – ct.] tất
muốn được khoán ước [:“hoà” ước] của ta, cho khiến nước ta
tự nhận là trái, [và] để
[ta –
ct.] cô phụ [:bỏ mặc trong cô lập – ct.] tấm lòng mong mỏi
của sĩ dân. Không thế thì hoà ước năm trước, rõ ràng biết là nhường nào, mà nay [chúng] cho là hư văn hết,
[chúng] lại cầu [mong] định lại [“hoà” ước]. Một lần [định ước]
đã là quá lắm, còn làm lại sao được! Thà rằng [cứ để cho bọn Pháp
– ct.] tạm bợ mà thành [:không có khoán ước (tức là không có “hoà”
ước) – ct.], mối lo [của Pháp, khi chúng chiếm cứ ba tỉnh Miền Tây –
ct.] không gì lớn bằng [vì dân lục tỉnh còn có cớ nổi dậy – ct.]
.[Còn nước ta, việc chấp nhận kí kết “hoà” ước] sao bằng không thể
giữ được thì bỏ đi, mà [không kí kết thì còn có lí lẽ để] lo toan
về sau. [Xin trộm nghĩ, ngay]
kinh sư là nơi căn bản, đồn luỹ đã kiên cố chưa? [Cả nước] khí
giới đã sắc bén chưa? Chí quân lòng dân đã hăng hái chưa? Đường thuỷ,
đường bộ phòng bị đã chu đáo, bền vững chưa? [Tỉnh Bình Thuận
đương xung yếu, các tỉnh
khác cũng có hải phận – ct. (86)]. Lương quân, khí giới làm sao cho đầy
đủ? Hào mục, sĩ dân làm thế nào cho cố kết? Chỗ nào hiểm yếu mà phải
giữ thì phải canh giữ bằng cách nào cho tất bền vững? Hoặc nên đặt viên quan chuyên trách để uỷ làm việc ấy, hoặc
nên sai người địa phương để cho [dễ] am hiểu. Phàm những việc ấy tưởng nên tính kĩ, cho thi hành ngay, ngõ
hầu khỏi ngại về sau. Hoặc thế của ta còn có thể đợi, xin [đức
vua] làm quốc thư, [và] cả thư của viên Thương bạc, mỗi thứ một
bức, đưa cho tướng [Pháp] ấy, xem nước ấy trả lời thế nào mới được”
(86). Vua
Tự Đức sau khi nghiền ngẫm, suy nghĩ và bàn bạc với Cơ mật viện,
thân phiên, đình thần xong, liền vời Nguyễn Văn Tường cùng hai sứ thần
kia vào điện Cần Chính để hỏi thêm ý kiến. - Ngươi, Nguyễn Văn
Tường! Trẫm cùng các đại thần đã đọc rất kĩ bản sớ của ngươi.
Trẫm nghe nói, nhiều kẻ ở ngoài cũng có ý kiến như vậy. Ngay cả tên
giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ, mấy tháng trước và cách đây mươi ngày nằng
nặc kiến nghị lập sứ bộ đi Pháp, bây giờ cũng đổi ý kiến, xin bãi
bỏ chuyến đi sứ (89). Nhưng trẫm biết, những kẻ kia và tên Nguyễn Trường
Tộ cũng nhận định tình hình là bế tắc nhưng nói điều đó với mục
đích khác, ý hướng khác. Còn ngươi, ngươi phân tích rất sâu, vạch trần
rất rõ âm mưu của bọn rợ Pháp ở Nam Kì. Đúng như ngươi nói, Gia Lăng
(De Lagrandière) chỉ muốn lừa sứ bộ ta sang Pháp, trong khi hắn đã về trước
để đấu hót trước rồi! Hắn ngỡ trẫm lại một lần dại dột nữa
như hồi cử sứ bộ Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp! Đúng như bản sớ của
ngươi, quả thực dã tâm của chúng là muốn ta lần này lại kí kết “hoà”
ước để “khí dân” (bỏ rơi dân), “cô phụ” (bỏ mặc trong cô lập)
lòng mong mỏi của dân ba tỉnh Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên, để rồi đến khi chúng đã cầm “hoà” ước
mới trong tay, chúng tha hồ thao túng,
bóp nặn dân, dân chẳng biết kêu ai, vin vào đâu để còn chống đỡ
được chúng. Đúng như ngươi viết trong bản sớ, ta quyết không kí thêm
một “hoà” ước nào nữa. Chúng bức chiếm ba tỉnh rồi cả sáu tỉnh,
chứ ta không thuận, lại không kí kết gì thêm cả, để sau này ta còn có
lí lẽ mà tranh biện với chúng và với công luận các nước. Trẫm còn thấy
đúng như bản sớ ngươi viết, chúng nuốt vào họng rồi, ta khó bề moi
ra được. Muốn lấy lại sáu tỉnh hoặc ba tỉnh ấy, chỉ còn một cách
là chém đầu nước Pháp, mổ bụng moi ra! Nhưng ta chưa đủ sức! Tình
hình Bắc Kì lại rất nước sôi lửa bỏng! Nguyễn Văn Tường thi
lễ và tâu: - Tâu hoàng thượng, không thủ để chiến thì không thể đàm phán được. Vả lại, vận động rợ Anh Cát Lợi, rợ
Tây Ban Nha và các nước Tây Âu thế nào được trong khi chúng đang
liên minh với nhau để xâu xé nước ta và các lân bang da vàng máu đỏ láng
giềng với nước ta. – Nguyễn Văn Tường lại tiếp tục tâu –. Nhưng
thần cũng kính mạn phép trình bày trong sự ngu dốt của thần, kính mong
được bệ hạ soi sáng thêm. Muôn tâu hoàng thượng, thủ để chiến và
chiến được mới đàm được với bọn rợ Pháp. Điều đó thần không
dám nói suông. Thần đã kính trình bày ở đoạn kết của bản sớ rồi
ạ. Và, về tình hình Bắc Kì hiện nay, ít nhiều thần cũng có biết đến.
Muôn tâu… - Trẫm và các đại thần
còn biết tình hình lương – đạo ở các tỉnh, đạo thuộc hữu trực kì,
hữu kì nay lại gay gắt lắm! Nay mai thượng thư Vũ Trọng Bình lại còn
phải ra kinh lí, trấn dẹp, vỗ về ngoài ấy… Vua
Tự Đức nghe theo bản sớ ấy của Nguyễn Văn Tường, sai viên Thương
bạc viết thư cho tướng Pháp, rồi lại phát quốc thư đưa đến nước
Pháp. Nhà vua cũng bảo Nguyễn Văn Tường
trở về Cam Lộ làm việc như cũ (86). 13 Thế là gần đúng hai
năm dài, Nguyễn Văn Tường về Thành Hoá làm
bang biện khâm phái. Dẫu sao, ông cũng mở
thêm được một con đường để Thành Hoá thoát khỏi thế độc đạo và
dễ bị cô lập, đồng thời đã tâu xin và được chuẩn y để cùng các
tỉnh tiến hành mở con đường thượng du xuyên Trường Sơn, nối Bình Định
với Nghệ An và nhiều tỉnh
khác. Huyện Thành Hoá (Cam Lộ, Hướng Hoá, Đắc Krông) đã được mở
rộng phạm vi địa bàn và số lượng dân cư. Cùng với thượng đạo xuyên
Trường Sơn, ông đặc biệt tâm đắc với những làng gia binh, “ngụ binh
ư nông, ngụ binh ư lâm” tại đây,
quê hương thứ hai của ông. Những làng gia binh ấy hoàn toàn là
lính tuyển mộ thuộc các cơ Định biên, võ nghệ giỏi, tư cách đạo đức
và sức khoẻ tốt. Đó là lực lượng cơ bản. Ông cũng cảm thấy rất
vui lòng với những làng tự tân. Thực tế cho thấy, trừ những kẻ
can phạm đáng tội chết và đã bị niết ty (dinh án sát), Bộ Hình
xử tử hình, thực sự những tù phạm chỉ ở mức tội đồ, án đày ải
khổ sai tột bậc là ba năm, trong thực tế họ rất dễ được cảm hoá.
Và cũng thực tế cho thấy, có nhiều phạm nhân ông phải giấu lòng kính
trọng trí tuệ và tâm huyết của họ đối với Tổ quốc như Lương Trợ
Lý, Hoàng Hữu Phu (90). Dẫu sao, ông đã đổ
mồ hôi sôi nước mắt, đội mưa lội bùn với nhân dân và đất ruộng,
núi rừng Thành Hoá. Dẫu sao, nơi đây đã
hoàn toàn có thể là một căn cứ địa kháng chiến chống Pháp. Chín năm hơn, một huyện
miền núi ấy! Gần hai năm, cũng một
huyện miền núi ấy! Thế mà nay mai ông phải
từ giã để lần này ra Bắc, lao vào trận mạc. Luyến tiếc, thương mến,
nhưng ông không thể không từ giã nơi đây để thật sự cầm gươm xung
trận. Trong năm Tự Đức thứ
hai mươi mốt, Mậu thìn (1868) này, từ tháng hai, trước khi ông được chiếu
chỉ vào kinh sung vào sứ bộ mà ông đã dâng sớ xin thôi, Nguyễn Văn Tường
đã biết tình hình phía biên giới Bắc nước ta rất gay gắt với nạn giặc
Cờ và phỉ, trong đó các tên Ngô Côn (91), Tô Tứ là những đầu sỏ thật
hung tợn, giảo quyệt, thoắt xin hàng, ăn yên ở yên, thoắt lại giết
chóc, cướp phá, xưng hùng, xưng bá! Mới tháng tư nhuận vừa rồi, lúc huyện lị Minh Linh (Vĩnh Linh) của tỉnh nhà từ Dan Duệ dời đến Kinh Môn (92), thượng thư Bộ Lại, hiệp biện đại học sĩ Vũ Trọng Bình đã ra Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An để xử trí việc lương – đạo, mâu thuẫn giữa hai thủ lĩnh nho sĩ Văn thân là thầy trò tú tài Trần Tấn, Đặng Như Mai với các linh mục, giám mục như tên Ngô Gia Hậu (Gauthier) (93). Thực chất của các cố đạo này rất mực “tả đạo”, do đó xảy ra các vụ đốt nhà thờ Chúa, đốt nhà dân đạo. Chính các tỉnh, đạo thần Hoàng Tá Viêm, Ngụy Khắc Đản, Bùi Thái Bút cũng xin chỉ xử nhẹ cho các nhà nho Văn thân (93)… Thêm vào đó, sĩ tử chuẩn bị khảo kho |