posted: 30.11.2005
|
Thái Kim Lan
Trả lời và
góp ý với Trần Hải Trước hết thắc mắc của Trần
Hải cho tôi nhận ra bài viết „Tìm một ngôn ngữ hòa bình“ chưa được
người đọc hiểu toàn diện ý hướng cũng như nội dung. Ðây có thể là
một điểm giới hạn của bài viết đối với bạn đọc, trong chừng mực
„lời không (hay chưa đủ) đạt ý“. Mặc khác,
nhìn chung những điểm mà Trần Hải đưa ra có tính thực dụng riêng lẻ trong khi bài viết của
tôi nhằm triển khai khái niệm hòa bình chính trong tương quan của Phật giáo
và dân tộc, bằng cách phân tích những điều kiện khả thể để một ngôn
ngữ hòa bình được thiết lập trong tương quan này, có nghĩa là đặt vấn
đề lý thuyết về khái niệm hòa bình
trong tương quan nói trên. Bài viết đã truy cập tính „trung đạo“ của
khái niệm hòa bình trong đạo Phật, nằm trên hai đối cực chủ thể và
khách thể, theo phương pháp dựa vào định luật duyên khởi để đạt
được chính kiến, chính kiến được hiểu như tri thức đúng thực và
toàn diện, không một chiều, không giáo điều, không dành phần phải về
tôi, ngược lại nó đòi hỏi bao gồm cả những điều kiện chủ quan (ngã)
và khách quan (thế giới hay điều kiện xã hội), hội tụ những điều kiện
cần và đủ. Qui kết những
điều kiện cần và đủ cho cho khái niệm này ta thấy có bốn điểm chính:
tính nhất thể trong ý muốn chung sống hòa bình như thiện ý của mỗi người
trong một xã hội, tự do quyết định thể
cách sống hòa bình, tính bình đẳng trong xã hội trước pháp luật, từ
đó pháp luật công minh là một điều kiện cần để bảo đảm hòa
bình, sự đồng thuận dựa trên suy luận
lý trí của những công dân như một yếu tố ổn định bảo đảm hòa
bình chỉ được thực hiện bằng công khai hóa, có nghĩa là tự do công luận
phải được bảo đảm như một khả năng dự phóng hòa bình, thức tỉnh và đổi mới của mỗi người
nói riêng và nhà nước nói chung là điều kiện đủ để hòa bình được
bảo đảm dài lâu, mọi mâu thuẫn xã hội trở nên lực đẩy tiến bộ,
và „xứ xứ tức đao binh“ theo Thiền sư Pháp Thuận. Chừng nào những
điều kiện nói trên chưa hội đủ, ngôn ngữ hòa bình còn khập khiễng.
Xác nhận hiện trạng tiêu cực trong hiện tại là động cơ thúc đấy
người viết đặt vấn đề đi tìm. Ý hướng của
bài viết cũng đã được nhấn mạnh là TÌM. Tìm có nghĩa là bây giờ chưa
có. Tìm „một“ thôi! Vì đi tìm mà muốn hai ba bốn chắc chắn sẽ bị
lạc hướng mất. Ðiều đó không có nghĩa khai trừ mọi khả thể khác,
có thể có những ngôn từ hòa bình khác, như I. Kant đã đề nghị và bài
viết đã nêu ra. Ðã hẳn như
Trần Hải dẫn:
là một châm
ngôn thực dụng thông thường nói lên ý muốn hòa bình của người Việt
Nam. Nhưng có lẽ cái chìa khóa mở cánh cửa hòa bình „vừa lòng“ lại
nằm trọn ở hai chữ „lựa lời“ ấy. „Lựa lời“ bao hàm cả một
phương pháp cân nhắc, đắn đo suy nghĩ trọng khinh dựa trên kinh nghiệm
khôn ngoan trong truyền thống chung sống hòa bình của dân tộc Việt Nam. Vấn
đề có lẽ không đơn giản, khi kinh nghiệm thường nhật cho thấy nếu
„không mất tiền“ thì có thể lựa lời qua loa, bậy bạ thoa dịu người
khác, nịnh nọt quần chúng mà không thực hiện những điều thật sự làm
vừa lòng nhau. Cho nên phải TÌM cho được cái chìa khóa vàng của vấn đề. Sau đây là
góp ý những điểm mà Trần Hải thắc mắc, mặc dù ít dính dáng đến trọng
tâm của bài viết: 1. Chung quanh những
vấn đề 1963: TH đã dùng chữ sai hay hiểu sai khi nói tôi „đề cao sự lãnh
đạo của TT Thích Trí Quang“(TTQ). Tôi không „đề cao“, TTQ đã là đại
diện các nhà lãnh đạo Phật giáo (PG) trong cuộc vận động PG được gọi
là „cuộc vận động hòa bình“ với chủ trương bất bạo động tuyệt
đối khởi từ thành phố Huế. Ðó là những dữ kiện lịch sử. Cuộc vận
động này chỉ dựa vào công luận trong và ngoài nước. Cuộc vận động
này đã bị hoàn toàn tiêu diệt công khai trong chiến dịch nước lũ triệt
hạ toàn thể chùa chiền của chính quyền Ngô Ðình Diệm vào đêm
20.08.1963 bằng vũ lực trên toàn lãnh thổ miền Nam. Hầu hết toàn thể tăng
ni, gia đình Phật tử, các đoàn thể cư sĩ, giáo chức, sinh viên, học
sinh Phật tử có tham gia trong cuộc vận động đều bị giam tù cho đến
ngày 1.11.1963. Từ đó cho thấy cuộc vận động bất bạo động (ở trong
tù thì làm sao mà bạo động?) từ khởi đầu cho đến khi bị chấm dứt
và là một phong trào dân chủ đầu tiên ở miền Nam. Ðánh giá hậu quả
của cuộc vận động này đòi hỏi sự truy cập bối cảnh lịch sử toàn
diện chứ không thể phán đoán tùy tiện theo hoàn cảnh nhất thời, nhưng
khuôn khổ bài góp ý này không cho phép. 2.
Sự phân hóa
trong hàng ngũ PG không những sau 1963 mà cho đến ngày hôm nay là một vấn
nạn lớn cho người Phật tử. Vấn nạn này cũng chính là một trong những
yếu tố thúc đẩy người viết đặt vấn đề với tư cách một Phật tử.
Một Phật tử nhìn đạo pháp trong toàn diện của giáo lý bao gồm: Phật
– Pháp – Tăng. Ðồng thời với tư cách là một Phật tử Việt Nam, người
ấy đã có một truyền thống gắn liền với dân tộc. Khi truy cập một vấn
đề, chúng ta – như trong bài viết đã nêu – có thói quen đi tìm một
„ông chủ“ để buộc tội mà quên đi những điều kiện nội tại và
ngoại tại khách quan, như thế lực chính trị, thế lực ngoại bang, thế
lực vật chất, và ngay cả những cộng đồng khác trong tổng thể tương
quan phức tạp của chúng. Phương pháp nhìn duyên khởi hay chùm điều kiện
liên hệ để phán đoán đúng một sự việc đã là đề nghị của Ðức
Phật với lời dặn khai sáng: „Hãy tự thắp đuốc lên mà đi“. Không
những Phật tử mà người không theo Phật sẽ bất công và phiến diện
khi chỉ nhìn một trường hợp Tăng mà bỏ quên Phật và Pháp, một giáo
lý hòa bình đã được thực chứng trong lịch sử nhân loại. Truy cập lại
vấn đề này có nghĩa thức tỉnh để nối tiếp truyền thống hòa bình
ấy trong lòng dân tộc, chính vì hạnh lạc cho dân tộc ấy. Ðó là niềm
hi vọng của người Phật tử khởi từ hiện trạng phân hóa như một chứng
bệnh cần phải chữa trị. 3. 3.1.
Về thái độ của các nhà sư sau 1975: khi đánh giá hành động của những
vị sư, cần phải biết rõ hiện trạng lịch sử của thời điểm ấy.
Ngay sau 1975 chính TTQ cũng đã bị quản thúc tại chùa. Tôi cho rằng sự im
lặng của TTQ trong hoàn cảnh chính trị từ đó đến nay là một cơ may
cho Phật giáo Việt Nam trên tinh thần, chứ không phải hời hợt như nhận
xét của TH. Sự im lặng này là dấu hiệu PGVN chưa thể bị thế lực ngoại
tại phân hóa đến tột cùng. Có lẽ một thông tin cần thiết để TH hiểu
thêm về „tịnh khẩu“ của PG và của TTQ: trong khoảng thời gian bị quản
thúc, vị sư này đã dịch từ Hán tạng sang tiếng Việt trên 25 bộ kinh lấy
tên là Pháp Ảnh lục, một đóng góp lớn lao cho nền văn học Phật
giáo Việt Nam nói riêng và cho gia sản văn học Việt Nam nói chung. Hiện
nay từ Bắc đến Nam tăng ni, Phật tử đều ưa thích sử dụng bản dịch
này vì văn từ minh bạch dễ đọc tụng. Ðó là một khía cạnh của ngôn
ngữ hòa bình. Và nếu có đề cao TTQ thì tôi sẽ đề cao chính ở điểm
này chứ không vì một chức lãnh đạo nào cả. 3.2.
TH nói về ngôn ngữ hòa bình của các tổ chức nhân quyền quốc tế đã
cứu các vị sư ra khỏi tù đày. Nói như thế là đã phiến diện, và bỏ
quên những vận động của toàn thể Phật tử trong và ngoài nước về vật
chất cũng như tinh thần. Tôi đã chứng kiến quí sư bà, quí sư cô của
các chùa không phân biệt thống nhất hay quốc doanh, vì các vị ở cả hai
bên, đã đi quyên góp, kêu gọi, bới xách, ngay cả đút lót cai ngục, cán
bộ, lo lắng tận tình cho những vị bị tù đầy với một lòng thân
kính. Một đóng góp nhỏ cũng là đóng góp, dù không vĩ đại và không phải
là cơ quan nhân quyền quốc tế.
3.3.
Sau 1975, Viện Ðại học Vạn Hạnh do thầy Thích Minh Châu (TMC) thành lập
đã bị tịch thu. Chỉ còn lại một Thiền viện đơn sơ tại đường Nguyễn
Kiệm. Dưới chế độ toàn trị và những biện pháp giới hạn về tôn
giáo trong 30 năm, thầy đã không ngừng công việc hoằng pháp, giáo dục tăng
ni trẻ. TH chỉ nhìn thấy những chức vụ bên ngoài của vị sư, mà bỏ
quên sự tận tâm của người cho nền văn hóa Phật giáo từ sau 1964/65, bất
cứ ở thời nào. Có thời có người cho rằng Thầy theo ông Thiệu, là CIA
khi thành lập Ðại học Vạn Hạnh, ngày nay có người cho rằng Thầy theo
cộng sản. Cả hai đều không muốn nhìn rõ đóng góp to lớn của vị sư
đã dịch toàn bộ kinh tạng Pali sang tiếng Việt, đã đắp nền giáo dục
Phật giáo cao lên dù trong ba đào sóng gió. Nếu đánh giá về ngôn ngữ
hòa bình này thì phải nói đó là một trong những gia sản quí báu nhất của
nền văn hóa Việt Nam cho thế hệ tương lai. Hiện nay người kế thừa Viện
Ðại học Vạn Hạnh và Trung tâm Nghiên cứu Phật học lại chính là Thầy
Trí Siêu, tức Gs. Lê Mạnh Thát. Nếu hết
lòng kính phục sự can đảm các Thầy Huyền Quang, Quảng Ðộ, Tuệ Sĩ, Trí
Siêu của GHPGVNTN thì cũng nên thấu hiểu và tôn trọng công việc Phật sự
chân chính của GHPGVN trong việc gìn giữ nền tảng đạo pháp trong những
giai đoạn pháp nạn nguy nan. Hiển nhiên,
chúng ta có thể phê phán gắt gao và đòi hỏi sự trung thực trong hàng ngũ PG, có lẽ đây cũng là ý hướng của TH
khi đưa ra những thắc mắc vừa đề cập. Phê phán cũng là một thái độ
hòa bình trong nghĩa xây dựng để đổi mới tiến bộ, nhưng phê phán cần
nhiều khách quan tính và có phương pháp thì sẽ đem đến lợi ích chung
thay vì tùy tiện theo nhận định chủ quan. 4.
Cuối cùng
nghi vấn về „Nam Mô Ðấu Chiến Thắng Phật“ trong lá thư của Tỳ kheo
Thích Quảng Ðức (TK TQĐ) với lời dẫn về Tôn Ngộ Không. Không hiểu TH
có nhầm lẫn chăng? Bởi vì Tây du ký không phải là kinh tạng thực
sự của giáo lý Phật giáo mà chỉ là một tiểu thuyết giả tưởng lấy
từ câu chuyện của nhân vật có thực, một vị sư đời Ðường tên Trần
Huyền Trang, tục gọi Ðường Tam Tạng qua Ấn Độ thỉnh kinh. Tôn Ngộ
Không là một nhân vật tưởng tượng cũng như Sa Tăng và Trư Bát Giới,
hoàn toàn không liên hệ với Ðức Phật Như Lai trong lịch sử Phật giáo.
Quả nhiên giáo lý Phật giáo có đề cập đến khái niệm Ðấu Chiến Thắng.
Trong „Kinh 42 bài“ (TTQ dịch), ý niệm chiến đấu và thắng trận được
đưa ra: „Phật nói:
hành đạo là như một người chiến đấu với muôn người“ (đd, bài
33). Không phải chiến đấu thắng kẻ địch hay giết hại ai mà trước hết
là chiến đấu với chính tham sân si của mình. Một người đã tự thắng
mình thì không ai thắng nổi, dù cho ma vương ngạ quỉ, thiên thần..:
Và:
Tỳ kheo TQÐ đã niệm lên ý
chí „thắng mình“ trước khi tự thiêu, đây là một thái độ tôn giáo
giúp người vượt lên trên nỗi sợ chết là tính tự nhiên của con người.
Chúng ta nên kính trọng giây phút ấy thay vì phỏng đoán những dụng ý
sai lạc, căn cứ vào những chuyện giả tưởng mà ngỡ là thật. |
In ra @
© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: