1105-gd.gif (2402 bytes)

posted: 30.11.2005

 

 giao diem copyright

giaodiem

 
 

Thái Kim Lan

Trả lời và góp ý với Trần Hải

Trước hết thắc mắc của Trần Hải cho tôi nhận ra bài viết „Tìm một ngôn ngữ hòa bình“ chưa được người đọc hiểu toàn diện ý hướng cũng như nội dung. Ðây có thể là một điểm giới hạn của bài viết đối với bạn đọc, trong chừng mực „lời không (hay chưa đủ) đạt ý“.

Mặc khác, nhìn chung những điểm mà Trần Hải đưa ra có tính thực dụng riêng lẻ trong khi bài viết của tôi nhằm triển khai khái niệm hòa bình chính trong tương quan của Phật giáo và dân tộc, bằng cách phân tích những điều kiện khả thể để một ngôn ngữ hòa bình được thiết lập trong tương quan này, có nghĩa là đặt vấn đề lý thuyết về khái niệm hòa bình trong tương quan nói trên. Bài viết đã truy cập tính „trung đạo“ của khái niệm hòa bình trong đạo Phật, nằm trên hai đối cực chủ thể và khách thể, theo phương pháp dựa vào định luật duyên khởi để đạt được chính kiến, chính kiến được hiểu như tri thức đúng thực và toàn diện, không một chiều, không giáo điều, không dành phần phải về tôi, ngược lại nó đòi hỏi bao gồm cả những điều kiện chủ quan (ngã) và khách quan (thế giới hay điều kiện xã hội), hội tụ những điều kiện cần và đủ.

Qui kết những điều kiện cần và đủ cho cho khái niệm này ta thấy có bốn điểm chính: tính nhất thể trong ý muốn chung sống hòa bình như thiện ý của mỗi người trong một xã hội, tự do quyết định thể cách sống hòa bình, tính bình đẳng trong xã hội trước pháp luật, từ đó pháp luật công minh là một điều kiện cần để bảo đảm hòa bình, sự đồng thuận dựa trên suy luận lý trí của những công dân như một yếu tố ổn định bảo đảm hòa bình chỉ được thực hiện bằng công khai hóa, có nghĩa là tự do công luận phải được bảo đảm như một khả năng dự phóng hòa bình, thức tỉnh và đổi mới của mỗi người nói riêng và nhà nước nói chung là điều kiện đủ để hòa bình được bảo đảm dài lâu, mọi mâu thuẫn xã hội trở nên lực đẩy tiến bộ, và „xứ xứ tức đao binh“ theo Thiền sư Pháp Thuận.

Chừng nào những điều kiện nói trên chưa hội đủ, ngôn ngữ hòa bình còn khập khiễng. Xác nhận hiện trạng tiêu cực trong hiện tại là động cơ thúc đấy người viết đặt vấn đề đi tìm.  

Ý hướng của bài viết cũng đã được nhấn mạnh là TÌM. Tìm có nghĩa là bây giờ chưa có. Tìm „một“ thôi! Vì đi tìm mà muốn hai ba bốn chắc chắn sẽ bị lạc hướng mất. Ðiều đó không có nghĩa khai trừ mọi khả thể khác, có thể có những ngôn từ hòa bình khác, như I. Kant đã đề nghị và bài viết đã nêu ra.

Ðã hẳn như Trần Hải dẫn:      

Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

là một châm ngôn thực dụng thông thường nói lên ý muốn hòa bình của người Việt Nam. Nhưng có lẽ cái chìa khóa mở cánh cửa hòa bình „vừa lòng“ lại nằm trọn ở hai chữ „lựa lời“ ấy. „Lựa lời“ bao hàm cả một phương pháp cân nhắc, đắn đo suy nghĩ trọng khinh dựa trên kinh nghiệm khôn ngoan trong truyền thống chung sống hòa bình của dân tộc Việt Nam. Vấn đề có lẽ không đơn giản, khi kinh nghiệm thường nhật cho thấy nếu „không mất tiền“ thì có thể lựa lời qua loa, bậy bạ thoa dịu người khác, nịnh nọt quần chúng mà không thực hiện những điều thật sự làm vừa lòng nhau. Cho nên phải TÌM cho được cái chìa khóa vàng của vấn đề.

Sau đây là góp ý những điểm mà Trần Hải thắc mắc, mặc dù ít dính dáng đến trọng tâm của bài viết:

1.

Chung quanh những vấn đề 1963: TH đã dùng chữ sai hay hiểu sai khi nói tôi „đề cao sự lãnh đạo của TT Thích Trí Quang“(TTQ). Tôi không „đề cao“, TTQ đã là đại diện các nhà lãnh đạo Phật giáo (PG) trong cuộc vận động PG được gọi là „cuộc vận động hòa bình“ với chủ trương bất bạo động tuyệt đối khởi từ thành phố Huế. Ðó là những dữ kiện lịch sử. Cuộc vận động này chỉ dựa vào công luận trong và ngoài nước. Cuộc vận động này đã bị hoàn toàn tiêu diệt công khai trong chiến dịch nước lũ triệt hạ toàn thể chùa chiền của chính quyền Ngô Ðình Diệm vào đêm 20.08.1963 bằng vũ lực trên toàn lãnh thổ miền Nam. Hầu hết toàn thể tăng ni, gia đình Phật tử, các đoàn thể cư sĩ, giáo chức, sinh viên, học sinh Phật tử có tham gia trong cuộc vận động đều bị giam tù cho đến ngày 1.11.1963. Từ đó cho thấy cuộc vận động bất bạo động (ở trong tù thì làm sao mà bạo động?) từ khởi đầu cho đến khi bị chấm dứt và là một phong trào dân chủ đầu tiên ở miền Nam. Ðánh giá hậu quả của cuộc vận động này đòi hỏi sự truy cập bối cảnh lịch sử toàn diện chứ không thể phán đoán tùy tiện theo hoàn cảnh nhất thời, nhưng khuôn khổ bài góp ý này không cho phép.

2.

Sự phân hóa trong hàng ngũ PG không những sau 1963 mà cho đến ngày hôm nay là một vấn nạn lớn cho người Phật tử. Vấn nạn này cũng chính là một trong những yếu tố thúc đẩy người viết đặt vấn đề với tư cách một Phật tử. Một Phật tử nhìn đạo pháp trong toàn diện của giáo lý bao gồm: Phật – Pháp – Tăng. Ðồng thời với tư cách là một Phật tử Việt Nam, người ấy đã có một truyền thống gắn liền với dân tộc. Khi truy cập một vấn đề, chúng ta – như trong bài viết đã nêu – có thói quen đi tìm một „ông chủ“ để buộc tội mà quên đi những điều kiện nội tại và ngoại tại khách quan, như thế lực chính trị, thế lực ngoại bang, thế lực vật chất, và ngay cả những cộng đồng khác trong tổng thể tương quan phức tạp của chúng. Phương pháp nhìn duyên khởi hay chùm điều kiện liên hệ để phán đoán đúng một sự việc đã là đề nghị của Ðức Phật với lời dặn khai sáng: „Hãy tự thắp đuốc lên mà đi“. Không những Phật tử mà người không theo Phật sẽ bất công và phiến diện khi chỉ nhìn một trường hợp Tăng mà bỏ quên Phật và Pháp, một giáo lý hòa bình đã được thực chứng trong lịch sử nhân loại. Truy cập lại vấn đề này có nghĩa thức tỉnh để nối tiếp truyền thống hòa bình ấy trong lòng dân tộc, chính vì hạnh lạc cho dân tộc ấy. Ðó là niềm hi vọng của người Phật tử khởi từ hiện trạng phân hóa như một chứng bệnh cần phải chữa trị.

3.

3.1. Về thái độ của các nhà sư sau 1975: khi đánh giá hành động của những vị sư, cần phải biết rõ hiện trạng lịch sử của thời điểm ấy. Ngay sau 1975 chính TTQ cũng đã bị quản thúc tại chùa. Tôi cho rằng sự im lặng của TTQ trong hoàn cảnh chính trị từ đó đến nay là một cơ may cho Phật giáo Việt Nam trên tinh thần, chứ không phải hời hợt như nhận xét của TH. Sự im lặng này là dấu hiệu PGVN chưa thể bị thế lực ngoại tại phân hóa đến tột cùng. Có lẽ một thông tin cần thiết để TH hiểu thêm về „tịnh khẩu“ của PG và của TTQ: trong khoảng thời gian bị quản thúc, vị sư này đã dịch từ Hán tạng sang tiếng Việt trên 25 bộ kinh lấy tên là Pháp Ảnh lục, một đóng góp lớn lao cho nền văn học Phật giáo Việt Nam nói riêng và cho gia sản văn học Việt Nam nói chung. Hiện nay từ Bắc đến Nam tăng ni, Phật tử đều ưa thích sử dụng bản dịch này vì văn từ minh bạch dễ đọc tụng. Ðó là một khía cạnh của ngôn ngữ hòa bình. Và nếu có đề cao TTQ thì tôi sẽ đề cao chính ở điểm này chứ không vì một chức lãnh đạo nào cả.

3.2. TH nói về ngôn ngữ hòa bình của các tổ chức nhân quyền quốc tế đã cứu các vị sư ra khỏi tù đày. Nói như thế là đã phiến diện, và bỏ quên những vận động của toàn thể Phật tử trong và ngoài nước về vật chất cũng như tinh thần. Tôi đã chứng kiến quí sư bà, quí sư cô của các chùa không phân biệt thống nhất hay quốc doanh, vì các vị ở cả hai bên, đã đi quyên góp, kêu gọi, bới xách, ngay cả đút lót cai ngục, cán bộ, lo lắng tận tình cho những vị bị tù đầy với một lòng thân kính. Một đóng góp nhỏ cũng là đóng góp, dù không vĩ đại và không phải là cơ quan nhân quyền quốc tế.    

3.3. Sau 1975, Viện Ðại học Vạn Hạnh do thầy Thích Minh Châu (TMC) thành lập đã bị tịch thu. Chỉ còn lại một Thiền viện đơn sơ tại đường Nguyễn Kiệm. Dưới chế độ toàn trị và những biện pháp giới hạn về tôn giáo trong 30 năm, thầy đã không ngừng công việc hoằng pháp, giáo dục tăng ni trẻ. TH chỉ nhìn thấy những chức vụ bên ngoài của vị sư, mà bỏ quên sự tận tâm của người cho nền văn hóa Phật giáo từ sau 1964/65, bất cứ ở thời nào. Có thời có người cho rằng Thầy theo ông Thiệu, là CIA khi thành lập Ðại học Vạn Hạnh, ngày nay có người cho rằng Thầy theo cộng sản. Cả hai đều không muốn nhìn rõ đóng góp to lớn của vị sư đã dịch toàn bộ kinh tạng Pali sang tiếng Việt, đã đắp nền giáo dục Phật giáo cao lên dù trong ba đào sóng gió. Nếu đánh giá về ngôn ngữ hòa bình này thì phải nói đó là một trong những gia sản quí báu nhất của nền văn hóa Việt Nam cho thế hệ tương lai. Hiện nay người kế thừa Viện Ðại học Vạn Hạnh và Trung tâm Nghiên cứu Phật học lại chính là Thầy Trí Siêu, tức Gs. Lê Mạnh Thát.

Nếu hết lòng kính phục sự can đảm các Thầy Huyền Quang, Quảng Ðộ, Tuệ Sĩ, Trí Siêu của GHPGVNTN thì cũng nên thấu hiểu và tôn trọng công việc Phật sự chân chính của GHPGVN trong việc gìn giữ nền tảng đạo pháp trong những giai đoạn pháp nạn nguy nan.

Hiển nhiên, chúng ta có thể phê phán gắt gao và đòi hỏi sự trung thực trong hàng ngũ  PG, có lẽ đây cũng là ý hướng của TH khi đưa ra những thắc mắc vừa đề cập. Phê phán cũng là một thái độ hòa bình trong nghĩa xây dựng để đổi mới tiến bộ, nhưng phê phán cần nhiều khách quan tính và có phương pháp thì sẽ đem đến lợi ích chung thay vì tùy tiện theo nhận định chủ quan.

4.

Cuối cùng nghi vấn về „Nam Mô Ðấu Chiến Thắng Phật“ trong lá thư của Tỳ kheo Thích Quảng Ðức (TK TQĐ) với lời dẫn về Tôn Ngộ Không. Không hiểu TH có nhầm lẫn chăng? Bởi vì Tây du ký không phải là kinh tạng thực sự của giáo lý Phật giáo mà chỉ là một tiểu thuyết giả tưởng lấy từ câu chuyện của nhân vật có thực, một vị sư đời Ðường tên Trần Huyền Trang, tục gọi Ðường Tam Tạng qua Ấn Độ thỉnh kinh. Tôn Ngộ Không là một nhân vật tưởng tượng cũng như Sa Tăng và Trư Bát Giới, hoàn toàn không liên hệ với Ðức Phật Như Lai trong lịch sử Phật giáo. Quả nhiên giáo lý Phật giáo có đề cập đến khái niệm Ðấu Chiến Thắng. Trong „Kinh 42 bài“ (TTQ dịch), ý niệm chiến đấu và thắng trận được đưa ra:

„Phật nói: hành đạo là như một người chiến đấu với muôn người“ (đd, bài 33). Không phải chiến đấu thắng kẻ địch hay giết hại ai mà trước hết là chiến đấu với chính tham sân si của mình. Một người đã tự thắng mình thì không ai thắng nổi, dù cho ma vương ngạ quỉ, thiên thần..:

Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch
Chẳng bằng tự thắng mình
Thắng mình là cao nhất
(„Pháp cú 103“, TMC dịch)

Và:

Chiến thắng bản thân
thì vẻ vang hơn
chiến thắng người khác
thế nên những người
khéo thuận hóa mình
thì sống thường xuyên
với sự tự chế
                  („Pháp cú 104“, TTQ dịch)

Tỳ kheo TQÐ đã niệm lên ý chí „thắng mình“ trước khi tự thiêu, đây là một thái độ tôn giáo giúp người vượt lên trên nỗi sợ chết là tính tự nhiên của con người. Chúng ta nên kính trọng giây phút ấy thay vì phỏng đoán những dụng ý sai lạc, căn cứ vào những chuyện giả tưởng mà ngỡ là thật.

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: giaodiem@giaodiem.com