1105-gd.gif (2402 bytes)

posted: 30.11.2005

giaodiem copyright

talawas 28.11.2005

Trần Hải

Bà Thái Kim Lan trong bài "Tìm một ngôn ngữ hòa bình" đã đưa ra những trường hợp của một số thiền sư như Khuông Việt, Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận, Vạn Hạnh… giúp các vua thời Lý, Trần cai trị cho quốc thái dân an. Bà cũng đề cập đến cuộc tranh đấu của Phật giáo chống lại chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963 qua hai ví dụ của hai vị lãnh đạo là Thượng toạ Thích Trí Quang và sự tự thiêu của Thượng tọa Thích Quảng Đức. Nội dung cũng là chứng minh sự gắn bó của Phật giáo trong lòng dân tộc suốt dòng lịch sử và cho rằng ngôn ngữ hòa bình phải xuất phát từ tâm thức Phật giáo. Có thể vì vậy mà từ "một" được dùng trong đầu đề bài viết.   
Thực ra, việc ăn nói hòa nhã với nhau trong đời sống là điều ai cũng mong muốn và từ ngàn xưa ông cha ta đã nhắn nhủ,  
"Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau"  
Và gần đây talawas cũng đã cho đăng lại những trao đổi, tranh luận giữa ông Phan Khôi và sư Thiện Chiếu đã chẳng cho thấy sự tương kính trong trao đổi học thuật của vài thế hệ trước đâỵ   Trong Bát Chánh Đạo của Phật Giáo, ăn nói đúng đắn (chánh ngữ) cũng là một nhắc nhở thường ngày.   
Nhưng đó là trong lý thuyết, và lý thuyết thì hay đẹp chừng nào! Đến nỗi 3, 4 triệu người Việt đã bị hy sinh vì một vài lý thuyết ảo tưởng mà người ta vẫn không từ bỏ những chiếc bánh vẽ đó!   
Nhưng trong thực tế, nhiều sự việc xảy ra đã không phải thế! Tôi chỉ muốn nêu lên vài nhận xét liên quan đến hiện tình của Phật giáo sau khi cuộc đấu tranh năm 1963 thắng lợi với sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm và đưa đến quyền lực thế sự cho một số các chức sắc Phật giáo miền Nam. Rốt cụộc là sự phân hóa Phật giáo Ấn Quang và Phật giáo Việt Nam Quốc tự đã không thể nào hàn gắn được. Nếu các bậc lãnh đạo cao niên Phật giáo còn không giác ngộ tham, sân, si, thì làm sao cảm hóa, cứu độ chúng sinh với Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo?    
Cụ thể hơn, trong phần 4: “Ngôn ngữ hòa bình hiện thực", bà Thái Kim Lan đề cao sự lãnh đạo của TT Trí Quang trong việc sử dụng công luận để đảm bảo cho cuộc tranh đấu vì hòa bình năm 1963. Sau tháng 4 năm 1975, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), vì không chịu “bị thống nhất" trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên các khổ nạn đã xảy đến: TT Huyền Quang (quản thúc), TT Quảng Độ (lưu đày), các TT Tuệ Sĩ, Trí Siêu (án tử hình). Lúc đó, sao không thấy TT Trí Quang dùng một ngôn ngữ hoà bình nào để cảm hóa những quyền lực đang hãm hại các đồng viện của ông? Hay là thứ "ngôn ngữ không lời" đó ngụ ý là không muốn dính dánh gì đến thế sự nữa rồi? Nếu vậy thì lại mâu thuẫn với ý niệm vô vi mà Bà Thái Kim Lan đã hết lòng bộc bạch ở phần trên của bài viết. Cũng trớ trêu là bản án tử hình của các TT Tuệ Sĩ, Trí Siêu chỉ được giảm thành chung thân sau khi các tổ chức nhân quyền quốc tế lên tiếng, theo thứ ngôn ngữ hoà bình của riêng họ. Đó là chưa nói đến những cái chết mờ ám của TT Thích Trí Thủ ở Chùa Già Lam, TT Thích Thiện Minh chết trong tù.   
Hay "ngôn ngữ hòa bình" đó phải là kiểu của Thượng toạ Thích Minh Châu, một công thần của chế độ ngay từ lúc còn là Viện trưởng Đại học Vạn Hạnh? Ông cũng là đại biểu Quốc hội ngay từ 1976, lần bầu cử đầu tiên sau khi chiếm đóng miền Nam. TT Thích Minh Châu cũng chẳng làm gì để can thiệp cho các vị trưởng lão trong Phật giáo đang chịu áp lực khốc liệt của chính quyền cộng sản. Một trường hợp khác là Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, một thời làm Phó Viện trưởng hành chánh ở Đại học Vạn Hạnh, khi bị bắt vì đã du học Mỹ và do đó bị nghi là CIA, TT Thích Minh Châu cũng chẳng can thiệp một tiếng nào cho người cộng sự một thời của mình.  
Trong cả hai trường hợp đó, "tịnh khẩu" là ngôn ngữ hoà bình?   
Còn giờ đây, mấy ngày qua, tôi đọc trên mạng những tuyên bố của Giáo hội Phật giáo Việt Nam phản đối những nỗ lực phục hồi hoạt động của GHPGVNTN với những lời lẽ sắt máu, trịch thượng, tố cáo những vị lãnh đạo như TT Huyền Quang, Quảng Độ là tham quyền, làm hại sự đoàn kết v.v… "Ngôn ngữ hòa bình" đó ư?   
Một điều khác tôi thắc mắc là trong bức thư TT Thích Quảng Đức để lại, nhằm cũng "để giác ngộ cho chính quyền mau mau thỏa mãn 5 nguyện vọng của Phật giáo," đoạn cuối bức thư có lời tụng "Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật". Kể cũng lạ, ngôn ngữ bên trên thì ôn hòa, tuy quy kết trách nhiệm hoàn toàn cho kẻ khác vì thiếu giác ngộ, bên dưới thì kêu thần chiến đấu phù hộ! Đây là điều mâu thuẫn vì Đấu Chiến Thắng Phật là danh hiệu Phật Tổ Như Lai ban cho Tôn Ngộ Không sau khi phò Tam Tạng Trần Huyền Trang thỉnh kinh thành tựu. Tôn Ngộ Không xuất thân là một con khỉ ở núi Hoa Quả kia mà?  
Đúng như Bà Thái Kim Lan đã đề cập, còn nhiều điều cần phải giải trình về những giấc mơ quyền lực của giai đoạn lịch sử đó!   

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: giaodiem@giaodiem.com