Bang Giao Với Giới
Tử Hà Nội 28/11/2005 - Hồng Y Crescenzio
Sepe, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo đã đặt chân đến thủ đô Hà Nội
qua ngã Thái Lan. Bộ Truyền Giáo là bộ quan trọng trong giáo triều Đức
Mẹ Maria Bị Hạ Tầng Công Tác Trong lịch sử truyền giáo vào Việt Hồng Y Agagianian sang chủ tọa Đại Hội
Thánh Mẫu kỷ niệm 300 năm Ky-tô giáo đến VN, vinh thăng nhà thờ Đức Bà
ở Sài Gòn lên hàng Vương Cung Thánh Đường và làm lễ dâng nước VN cho
Đức Mẹ Maria. Thời đó, Vatican vẫn chưa cho Ky-tô giáo ở VN hưởng quy
chế giáo hội, và vẫn còn là một bộ phận trực thuộc khối thừa sai,
hay khối thuộc địa hải ngoại của Lần này, HY Sepe cũng đến viếng
Lavang. Nghe đồn rằng hình như trước
khi đến, HY Sepe đã được Bà Mẹ Maria dàn chào bằng những giọt nước
mắt tại khuôn viên Vương Cung Thánh Đường Sàigòn?
Có người cho chuyện Đức Mẹ khóc là một ảo tượng mê tín được
bày ra như một vũ khí chiến tranh chính trị dưới thời Pius XII hay JP II,
hoặc để làm tiền giáo dân nhẹ dạ như ở
Đức Mẹ đã bị hạ tầng công tác như thế nào? Câu trả lời qua
bài báo của Linda Morris xuất hiện trên tờ The Sydney Morning Herald ngày
17/5/2005 với tựa đề:
Bài báo cho biết nghị quyết đó
được chính thức thông qua ngày 17/5/2005 tại Seatle, Mỹ. [xin xem sđd hoặc http://www.smh.com.au/News/national/politicians/]
Đây là kết quả thoả hiệp của các thành viên trong một ủy ban giáo luật
quốc tế quy tụ 18 Giám Mục, giáo quyền, tu sĩ, tín đồ tại gia thuộc
10 quốc tịch khác nhau của hai giáo hội Anh và Ky-Tô Vatican. Mục đích của
hội nghị này là tìm cách thâu ngắn hố ngăn cách giữa giáo hội Anh và
Ky-Tô Tiến sĩ Peter Carnley, một Tổng GM Anh
giáo đã về hưu là đồng chủ tịch ủy ban này. Nguồn tin Linda Morris dựa
vào có lẽ là từ giáo quyền này. Vì chủ trương hạ tầng công tác bà
Mary rất hợp và có lợi cho đường lối của Anh giáo, nên người của
Anh giáo quảng bá tin này ra thì cũng dễ hiểu thôi. Còn Vatican lấy Vì chậm lụt như vậy cho nên, để
an toàn, Có ai tự hỏi quyết định đó của
Vatican về Đức Mẹ, ngoài tờ The Sydney
Morning Herald, có bao nhiêu đài phát thanh, truyền hình báo chí tiếng Việt
nào, có tòa TGM, GM, có Cha xứ, nhà thờ, chủng viện nào đã loan báo tin
Bà Maria bị hạ tầng công tác không? Và ngày 1/12/2005, khi HY Sepe đến viếng
‘Thánh Ðịa Ðức Mẹ Lavang’, và cử hành lễ tại trung tâm hành hương
Lavang thì HY Sepe có bạch hoá tin này không, hay ít ra cũng cho Ban Tôn Giáo
chính phủ biết quyết định này không? Ban Tôn Giáo và chính quyền sở tại
Quảng Trị Đông Hà có vì huyền thoại Maria mà tiếp tục nhắm mắt cho
những tấm bảng Thánh Địa La vang xuất hiện khắp nơi như lâu nay nữa
không? Đi xa hơn, HY Sepe có sẽ dựa vào quyết định 46 năm trước khi
Vatican cử HY Agagianian sang VN long trọng dâng cả VN cho Đức Mẹ, để đòi
chính quyền VN để cho những tấm bảng này tự do xuất hiện bất cứ nơi
nào trên lãnh thổ VN, kể cả Quảng Trường Ba Đình, Phủ Chủ Tịch
không? Nói thế khác, nếu bây giờ Nhà nước VN thuận tái lập bang giao với
Vatican thì phải chăng HY Sepe có quyền yêu cầu phục hoạt quyết định của
HY Agagianian năm 1959? Cũng như việc giáo phận Nha Trang đang đòi phục hoạt
quyến chiến hữu đất công phải chăng là bước mở đầu thăm dò? Câu
trả lời cho tất cả những câu hỏi đó đều tùy thuộc vào việc tái lập
ngoại giao Vatican-VN.
Chuyện Đạo Và Chuyện Đời Viễn ảnh VN tái lập bang giao với Đó
là điều mà ai cũng mong ước những thành phần hữu trách phải nhớ, để
khỏi có chuyện nhập nhằng tôn giáo và chính trị. Để khỏi hoảng hốt
vì những trò ma-nớp chính trị. HY Sepe đến VN theo lời mời của Giáo Hội
Ky-Tô tại VN nhưng đã được trình bày trịnh trọng như HY Sepe là quốc
khách, do VN mời, hay đáp lời mời sang ban phép lành cho VN. Chưa kể là
chuyến đi còn được dàn dựng như có thế dựa vĩ đại của Mỹ. Bằng
chứng là ngày ngày 4/12/2005, VietCatholic News, phát ngôn chính thức của
Ky-Tô giáo Việt trong ngoài nước, đã
long trọng loan tin thế này: Dân biểu Hoa Kỳ Chris Smith thăm VN để
khảo sát về nhân quyền và tự do tôn giáo.
DB Tôn nữ Thị Ninh đặc trách đối ngoại của QH VN đã nói rõ VN không hề
mời Chris Smith đến và Smith xin visas vào VN vì chuyện các tù binh mất
tích. Trước đây, ngày 16/11/2005 đài Á Châu Tự Do [RFA] còn loan một tin
rùng rợn hơn là: Chuyến
đi thị sát tình hình tôn giáo tại VN của phái đoàn Ðại sứ quán Hoa Kỳ.
Những bản tin với lời lẽ khúm núm vọng ngoại ỷ ại của những kẻ từng
leo lên nóc Tòa Đại Sứ Mỹ ôm càng trực thăng ra đến tàu Hạm đội 7
đó dĩ nhiên là được các cơ quan truyền thông của Tòa Thánh lặp lại
như bị qủy ám bất chấp tự ái liêm sĩ của người có tổ quốc, có quốc
gia.
Khuynh hướng chung của thời đại là
phải mời tôn giáo ra khỏi công quyền, mời cha nhà thờ về nhà thờ, mời
trưởng tử Như Lai về chùa. Viễn tượng thánh chiến giữa Hồi giáo và
Ky-Tô giáo và Do Thái giáo, viễn tượng phong trào Tin Lành ở Mỹ và
Australia quyết cướp dật chính quyền bằng bất cứ giá nào, viễn tượng
những ông Taliban, những ông Zionist không dùng lá phiếu mà dùng bom đạn
để nói chuyện với nhau...cũng đủ cảnh giác cho những ai muốn nhập nhằng
tôn giáo chính trị, để tôn giáo chen vào đè đầu cưỡi cổ chính trị.
Tôn giáo chỉ ở trong nhà thờ, trong
chùa, trong thánh thất. Ra khỏi cổng chùa, cổng nhà thờ thì ai cũng như
ai, mỗi người một phiếu, không có chuyện thiêng liêng linh thiêng, không
có chuyện rửa tội giải tội tế độ chúng sinh, không có chuyện thiên
đàng hỏa ngục. Trong nhà thờ, trong chùa là cha nhà thờ, là trưởng tử
Như Lai, là thánh địa, là nước thánh, nước cam lồ, bánh lễ, bùa phép,
thiên linh cái, ngoài đời đó cũng chỉ là những đồ vật như sữa đường,
bánh mì, nước mắm, mà mọi việc sản xuất, phân phối, mua bán đều
được quy định bởi luật lệ quốc gia, bởi tòa án và nhà tù.... Đất
trong chùa, trong nhà thờ là tịnh thổ, là đạo tràng, là thánh thất, là
thánh địa, là đất thánh...đất ngoài cổng nhà thờ, cổng chùa là công
thổ, là đất công, sở hữu quản lý theo luật lệ quôc gia. Lộn xộn cứ
thẳng mực tàu mà xét. Người dân không thể nhân danh tôn
giáo của mình để ép buộc hay ngăn trở chính quyền bang giao. Chính quyền
cũng không thể nhân danh tôn trọng tự do tôn giáo, nhân danh tôn trọng
tín ngưỡng để quyết định bang giao hay không bang giao, nếu bang giao đó
đi ngược với quyền lợi của đất nước. Chính quyền quyết định căn
cứ trên quyền lợi quốc gia của 80 triệu người, chứ không căn cứ trên
mấy triệu người theo hay chống một tôn giáo nào đó, dù mấy triệu người
này có ồn ào, có thế dựa quốc tế ghê gớm đến mấy đi nữa. Vấn đề
đặt ra do đó là nước VN bang giao với
nước Bóng
Ma Lịch Sử Trước khi Ky-Tô giáo đến và phát
triển ở VN, về phương diện tâm linh, đạo đức, hòa hợp tín ngưỡng,
khuynh hướng vật linh của tổ tiên người Việt đã mở cửa đón nhận
Tam giáo Nho, Phật, Lão một cách tự nhiên như đất nhận mưa gió. Tam
giáo đã củng cố và nâng đạo thờ Trời, thờ tổ tiên của người Việt
lên một nấc cao. Thế hòa đồng tín ngưỡng đó đã bị Ky-Tô giáo quấy
động tận cùng vì tín lý ”thờ lạy Bụt thần ma qủy tin mê Hồi giáo”. Cộng với thế lực của thực dân
và thế dựa của những bầy tôi bản địa, tín lý đó đã làm cho xã hội
VN nhào đầu lạc địa, và Tam giáo bị dồn vào cái trại cải tạo có
tên là bài trừ mê tín dị đoan bán khai thoái hóa cả trăm năm. Tín lý đó đã làm cho quan hệ giữa
người với người, giữa đồng bào đồng hương, giữa ông bà cha mẹ con
cái suy đồi thảm hại. Nếu lỡ yêu người có đạo, muốn thành vợ thành chồng thì phải bỏ đạo mình, nghĩa
là cha mẹ chết không được khóc, không được thắp hương, không được
lạy trước bàn thờ, không được ăn đồ cúng. Mình không được đã đành,
mà con mình cũng không được thương nhớ thờ kính ông bà nội ngoại
chúng nó như thế nữa. Ky-Tô giáo đến VN đã đẩy khoảng
một phần hai mươi [1/20] người Việt đứng bên lề xã hội và trở
thành xa lạ, nếu không muốn nói là thù nghịch với đồng bào đồng
hương mình. Tất cả dị biệt, ngộ nhận, xa cách giữa người lương với
người giáo, giữa người “có” đạo và kẻ ngoại đề phát xuất từ
đó. Bi kịch đó, bây giờ, năm 2005 của
thế kỷ 21, đã chấm dứt chưa, đã cải thiện chút nào không? Dù Kim Định
và nhóm Ky-Tô Học Hội, và một vài đồng bào Ky-Tô hữu tâm đôi lần cố
bừng tỉnh để thử nói lên một cái gì đó, ngoài ra chưa hề thấy đa số
những trí thức hàng đầu như Nguyễn văn Trung, Lý chánh Trung, Hồ ngọc
Nhuận, Nguyễn văn Chức, Trần văn Đoàn, Trần văn Toàn, Nguyễn gia Kiểng,
Nguyễn Cần, Nguyễn đăng Trúc, Nguyễn bá Long, Phạm việt Tuyền, Lê hữu
Mục, Võ long Tê, Nguyễn văn Châu...một lần trả lời câu hỏi ấy, hay
có một cố gắng nào trong chiều hướng bù đắp hòa giải ấy. Khoan nói
đến các trí thức Ky-Tô giáo tiên phong trong nhà, mở miệng công khai thì
e công an khu vực hỏi hăm. Xây
Dựng Văn Hóa Hay Đào Huyệt Văn Hóa Để biện minh và kể công sự có mặt
của Ky-Tô giáo ở VN, có người thường nhắc đến công trạng thành tích
văn hóa của một số thừa sai đã sáng chế ra cái gọi là chữ “quốc
ngữ abcd”. Thực tế, cái gọi là chữ quốc ngữ này là một thứ tiếm
mạo danh nghĩa cũng như chữ “công giáo” vậy. Một vài tờ báo ở trong
nước đến bây giờ hình như vẫn còn nói lịu về chuyện này?! Nói đến quốc ngữ của VN thì ít ra
cũng là chữ Nôm, nếu không thì cũng tiếng Hán-Việt. Cái gọi là quốc
ngữ abcd thực sự chỉ là một công việc ký
âm vụng về tiếng Việt của các thừa sai ngoại quốc nghe tiếng Việt
ba chớp ba nháng tiếng được tiếng mất để nhằm phục vụ nhu cầu truyền
đạo. Chưa kể là lối ký âm nhiêu khê chẻ
sợi tóc làm tư vớ vẩn đã gây ra không biết bao nhiêu rắc rối không cần
thiết cho người học và viết tiếng Việt. Mong sao những ai vẫn ca tụng
lối ký âm tiếng Việt theo abcd là trong sáng có
thể giải thích cho sự khác biệt giữa NGHE với NGE, PHỞ với FỞ, CÁI với
KÁI, KU với CU, QUA với QA, UẤ với UỐ... là chỗ nào? Chưa kể, người
Trung cứ hằm bà lằng loạn xạ lên giữa GI với
D, NH, dấu hỏi, dấu ngã, trong khi người Bắc thì loam oam CH với
TR, GI với D, D với R, L với N còn người Nam thì tha hồ tưới xà lưới
giữa V với D, GI, giữa dấu hỏi dấu ngã, A với I, OA với UÊ, Ồ với ƯỜ.
Ký âm thế nào những của nợ đó cho khỏi mang tiếng nhiêu khê chẻ sợi
tóc làm tư vớ vẩn? Lối la-tinh hóa tiếng Việt, hay Việt
hóa abcd, của các thừa sai tiên khởi thật cũng không khác gì hành động
Việt Hóa chiến tranh của Nixon. Chủ trương Việt Hóa chiến tranh của
Nixon đã giết chết VN Cộng Hòa như thế nào thì cả kho tàng văn học Hán
Nôm ngàn năm của dân Việt suýt bị chữ quốc ngữ abcd làm cho điêu đứng
tận diệt như thế ấy. Không tin cứ đưa một bản truyện Kiều viết bằng
chữ Nôm cho những nhà đại khoa bảng con cháu của các thừa sai đã có
công Việt hóa abcd rồi nhờ họ đọc xem có được không thì biết. Mặt khác, cứ nhất quyết bảo rằng
nhờ abcd Việt hóa mà VN tiến bộ mà quên rằng về kinh tế, chính trị, văn
hóa, khoa học...Nhật, Nga, Trung Quốc không hề có abcd mà vẫn được như
hôm nay, trong khi các nước Nam Mỹ, Phlippines, Mexico bị tộng abcd vào họng
hết thế kỷ này qua thế kỷ khác, mất luôn cả tiếng nói, chữ viết, mất
luôn cả tên họ thì nào có hơn ai cái gì? Ngoài ra, khi loại bỏ Hán Nôm ra khỏi
tiếng Việt, để cho tiếng Việt tồn tại duy nhất nhờ âm thanh, người
ta đã vô tình biến người Việt thành những
con vẹt, nghe âm thanh mà phản ứng, phản ứng tự động hay phản ứng
hữu kiện, chứ chẳng cần biết hàm nghĩa của âm thanh đó là gì. Người
Pháp hay người Anh nếu có bất đồng về ngữ nghĩa thì quay với gốc
La-tinh hay Hy Lạp, như người Hoa, người Nhật quay về từ nguyên của một
chữ, một tiếng. Ngày xưa, còn có đạo Trời bản địa, còn có Tam giáo
làm cơ sở chín bỏ làm mười, người Việt ngày nay lấy abcd làm quốc ngữ,
có gì mà quay về? Cho nên, rũi khi có bất đồng về nghĩa hàm hay ý nghĩa
của tiếng nói hay chữ viết thì không biết lấy gì làm căn bản để
tranh luận và thỏa hiệp, rồi cãi nhau, đánh nhau, giết nhau như những
người mù sờ voi nổi điên nổi khùng. Lại nữa, một số trí thức khoa bảng
tân học đã và đang loay hoay đề cao đóng góp văn hóa abcd của Ky-Tô
giáo tại VN thời tiên khởi. Họ lôi đâu ra được một vài câu vè, bài
vãn và rấp ranh dùng những thứ đó để hạ bệ Phạm Quỳnh và nhóm Nam
Phong vì tội đã chịu theo Pháp mà lại không chịu rửa tội. Họ loay hoay
tôn vinh Petrus Ký, Paulus Của, Trần Lục, Huyện Sĩ... như những vĩ nhân
tiên liệt của dân Việt. Mai này, nếu có chuyện Vatican phong cho Petrus Ký,
Paulus Của, Trần Lục, Nguyễn trường Tộ, Nguyễn Thân, Huyện Sĩ, Nam
Phương Hoàng Hậu, Thành Thái, Bảo Đại, Ngô đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu
thành Thánh thì cũng chẳng có gì ngạc nhiên. Họ gọi tự thiêu của nhà
sư là nướng thịt, là cho uống thuốc mê rồi đem ra đốt như Ngô đình
Nhu, Nguyễn văn Chức, Trần trung Quân và một số khác nữa từng nói từng
viết. Họ cấm giáo dân gọi những tăng ni tự thiêu là thánh tử đạo
nhưng họ lại thờ những Việt gian như thánh tử đạo. Trên 120 và chắc
là chưa hết. Mâu thuẩn đó chỉ có những trí thức Ky-Tô thượng tầng có
thể trả lời mà thôi. Sau hết, người ta cũng nói đến Ky-tô
giáo như một động lực đẩy VN vào đường hiện đại quá, đã mở mắt
cho VN nhìn thấy văn minh tiến bộ mà quên rằng, chính ý chí ly khai đối
kháng lại nền thần học và triết lý Ky-Tô giáo đã tạo đà cho Tây phương
tiến lên. Cách mạng 1789, 1917, 1968 và cả 1989, không phải là những cố gắng
phục hoạt ảnh hưởng Ky-Tô giáo mà là những nổ lực gạt bỏ những chướng
ngại, những bóng tối thần quyền. Cứ xem Một số nhân vật chính quyền thường
nói đến hiện đại hóa, đến tiên tiến, hội nhập một cách thời thượng
thời cơ chắc chắn đã không quên những điều đó khi, ngày nào đây, ngồi
vào bàn thương thuyết bình thường hóa ngoại giao với Vatican, để khỏi
bị mà mắt hay bị mặc cảm. Lợi
Thì Có Lợi Nhưng Răng Không Còn Năm ngoái, khi có tin VN và Vatican đang
tính chuyện tái lập bang giao thì có người nghĩ đây chỉ là một đòn nhử
chính quyền VN tung ra để vô hiệu hóa những chống đối phá phách đa số
phát xuất từ các tín hữu Ky-Tô giáo nhân chuyến Mỹ du của Thủ Tướng
Phan văn Khải. Nhưng bất đồ, Trưởng Ban Tôn giáo chính phủ Ngô yên Thi
đích thân sang Vatican, và tiếp đó là cuộc tuần thú của TT Bộ Truyền
Giáo HY Seppe đến VN, thì những hoài nghi kiểu Mao Tôn Cương-Tào
Tháo-Machavelli đã phải được xét lại. Mais
puisque la chose est sérieuse, je vous parle sérieusement. Ai nói câu đó, Voltaire hay Molière? Ai
cũng được, nhưng chính quyền VN đâu có ở không mà làm chuyện bá vơ,
dĩ nhiên. Vậy chuyện gì xảy ra nếu chuyện bang giao với Về tâm linh, tư duy, giáo dục? Tôn
kính một bình vôi dưới gốc đa đầu làng cũng là tôn kính. Về kinh tế toàn cầu, đầu tư, giao
thương... Thông tấn AFP ngày 7/10/2004 loan tin
Vatican quyết định giao hoàn ảnh tượng Đức Bà Kazan lại cho Giáo Hội
Chính Thống Nga như một cử chỉ vuốt ve để tái lập bang giao với Nga
và Chính Thống giáo. Ảnh tượng Đức Bà Kazan là một bảo vật được
phát hiện ở Kazan thuộc Cộng Hòa Tatarstan năm 1597, bị mất cắp, đi vòng
vo tam quốc và cuối cùng xuất hiện trong phòng riêng của GH JP II năm 1993.
Sự xuất hiện của ảnh tượng này ở Vatican lại càng làm cho mối bang
giao Vatican với Nga cũng như Chính Thống giáo đã căng thẳng lại càng căng
thẳng thêm. Năm 2001 khi Khi tiếp xúc với Về viện trợ, ngay cả viện trợ
nhân đạo, Bang giao với VN là một kế hoạch trường
kỳ của Danh mục đó đã được Giêrônimô
Nguyễn Văn Nội triển khai thành một bài viết nhan đề Ý nghĩa và hệ lụy của việc thiết lập
ngoại giao giữa VN và Vatican, bài này nghe nói đã được viết trước
ngày 5/1/2005 [diendancongluan, thứ Tư
13/7/2005] Danh mục này gồm 5 điểm chính: 1. Trong vùng Đông Nam Á, Vatican đã
có quan hệ ngoại giao với một số quốc gia, trừ VN, Trung Quốc, 2. 3 . 4. VN phải công nhận Vatican có quyền
tuyệt đối trong việc bổ nhiệm, thuyên chuyển các GM, trong vấn đề chủng
viện, dòng tu, trong đời sống tôn giáo của tín đồ. VN phải để cho Giáo
Hoàng hay đại diện đến VN vào những dịp đặc biệt do Vatican quyết định
như đại hội Thánh Mẫu La Vang, lễ Phong Thánh hay kỷ niệm phong thánh những
người Việt. 5. Khi Vatican đã cài đặt được đại
diện ở Hànội rồi thì tha hồ mở thêm những tòa Tổng Lãnh Sự, Lãnh Sự
khắp nơi để gia tăng việc kiểm soát hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ và
giáo dân VN qua các cuộc chủ trì, phát biểu giáo từ, gặp gỡ, tiếp
xúc, thăm viếng và trao đổi, qua những dịp lễ trọng. 6. Đại Sứ Vatican hay Sứ Thần Tòa
Thánh sẽ là tai mắt và cánh tay của Vatican nắm cứng cổ họng hàng giáo
phẩm và giáo hội VN, để thúc đẩy các GM và các giáo phận VN trung
thành và thực thi đường lối của Vatican. Cả Nguyễn đăng Trúc lẫn Nguyễn văn
Nội đều cố tình lờ đi một điểm, đó là Vatican sẽ dùng VN như bàn
đạp hay đầu cầu để bành trướng vào Campuchia, Lào, Myanmar, cũng như
Vatican đang dùng Đài Loan và Manilla làm đầu cầu dòm ngó VN, Hongkong và
Hàn Quốc vậy. Điều này đã được LM Trần công Nghị của VietCatholic tiết
lộ trong bản tin ngày 4/12/2005. Trong 6 điểm đó, điều quan trọng nhất
mà Vatican nhắm tới dĩ nhiên là đòi VN phải thừa nhận quyền sinh sát,
điều động, khuynh loát của Vatican trên bốn triệu tín hữu Ky-Tô, như
người chăn cừu điều khiển 4 triệu con cừu sẵn sàng tuân lệnh như đoàn
cừu của Panurge. Đoàn cừu được chia thành 3 Tổng giáo phận, 23 giáo phận
dưới quyền điều khiển của 2 HY, 37 GM, 2212 LM triều hay địa phận, 521
LM dòng, với sự phụ trợ của 1778 nam tu sĩ, 11443 nữ tu, 1395 nhân viên
truyền giáo và 50605 thầy dạy giáo lý, chưa kể 1000 sinh viên LM trong 6 chủng
viện sẽ lần lược tốt nghiệp. Lúc hữu sự, đồng bào Ky-Tô Việt sẽ
nghe lời ai? Marx hay Ky-Tô? Nông đức Mạnh hay Ratzinger? Hỏi là trả lời,
và trả lời là để thấy rằng quan hệ VN-Vatican có thể ví với quan hệ
giữa hai đội cầu trong một trận đấu, trong đó VN đã để cho đối
phương đưa trận đấu về ngay phần sân cỏ của mình chứ banh không còn
trên sân đối phương nữa. VN đã mất thế tấn công, nghĩa là chỉ có huề
và thua. Và Chung quanh Sàigòn đã có một vòng
đai giáo khu giáo phận. Hố Nai, Gia Kiệm, Biên Hòa, Long Khánh, Xuân Lộc. Năm 1954, không có cái vòng đai đó
thì Ngô đình Diệm có dám đương đầu với Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài
không? Không đương đầu với Bình Xuyên Hòa Hảo Cao Đài thì có dám đối
đầu rồi tống xuất Nguyễn văn Hinh và đám Tây con không? Không triệt
được đám Tây con thì có dám tiến lên truất phế Bảo Đại và bóp cổ
nhóm Caravelle để chễm chệ lên ngôi Tổng Thống và biến Miền Năm 1964, lực lượng Hố Nai Sao Sáng
của anh em Nguyễn gia Hiến-Nguyễn gia Kiểng kéo nhau lên Sàigòn tiếp tay với
Nguyễn Khánh trấn áp trả thù đám tướng lãnh 1/11 đã lật Ngô chí sĩ,
mở đường cho Mỹ tiến sâu vào nội tình Miền Nam. Năm 1965, lại cũng đám này trương khẩu
hiệu Thà Mất Nước Không Thà Mất Chúa để tạo điều kiện lật đổ
chính quyền dân sự của Phan huy Quát mở đường cho Nguyễn văn Thiệu loại
Nguyễn cao Kỳ để đón Mỹ vào Mỹ hóa chiến tranh... Hố Nai chỉ thực sự
ngồi yên khi Nguyễn văn Thiệu đã yên vị cho đến ngày VNCH bị khai tử.
Ngoài ra, đó cũng là vòng đai bảo vệ cho căn cứ Mỹ Biên Hòa, pháo đài
đầu não bảo vệ thủ đô. Vòng đai đó bây giờ lại được bổ sung
tăng cường bằng một giáo phận mới là giáo phận Bà Rịa. Lúc hữu sự,
phải chăng vòng đai đó sẽ khép lại và biến Sàigòn thành một Vì do Vatican trực tiếp phong chức cho
nên 57 người này trở thành trú sứ của Vatican, chỉ nghe lệnh Vatican, và
mai đây, chỉ nghe lệnh của Khâm Mạng Tòa Thánh hay đại sứ Vatican chứ
không nghe lệnh của GM bản xứ nữa. Nhớ lại những gì đã từng xảy ra
ở Rwanda, ở Yugoslavia, ở Bắc Ireland, nhớ lại Tướng Franco đã dựa vào
địa chủ, Giáo Hội Ky-Tô, Quốc Xã Đức và Phát-xít Italia để triệt hạ
đối lập trong nội chiến 1936-1939 ở Spain như thế nào, rồi đọc bản
trên tờ Le Monde ngày 22/10/1968 loan báo: “TGM
Nguyễn Văn Bình ở Sàigon, được mọi quan sát viên Tây phương xem là người
ôn hoà nhất trong số những nhà lãnh đạo Ky-Tô giáo ở VN, mới đây đã
chấm dứt yên lặng khi tuyên bố chống
lại việc Mỹ ngưng oanh tạc miền Bắc”, không hiểu có ai tự hỏi
chuyện gì sẽ xảy ra nếu ngày 30/4/1975 Miền Nam giải phóng Miền Bắc?
Ngày 3/12/2005 tại nhà thờ Sàigòn, khi lên tiếng ca tụng TGM Nguyễn văn Bình
và HY Nguyễn văn Thuận, HY Sepe có nhớ đến điều đó không? Có nhớ đến
HY Nguyễn văn Thuận là ai và đa số dân Việt nghĩ gì về gia đình Ngô đình
Diệm không?
Trong khi Trưởng Ban Tôn Giáo Ngô yên
Thi đang có mặt ở LM Đặng Thế Dũng: Đức Giáo Hoàng
Benedictô XVI mạnh mẽ kết án chủ thuyết quốc xã và chủ thuyết cộng sản
vô thần. TIN
QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VÀ CÁC LỰC LƯỢNG TRANH ĐẤU CHỐNG
CỘNG SẢN TẠI VN & TRÊN TOÀN THẾ GIỚI: Đức Giáo Hoàng Benedictô
XVI mạnh mẽ kết án chủ thuyết quốc xã và chủ thuyết cộng sản vô thần.
Tin này do LM Đặng thế Dũng của
VietCatholic viết cho các thông tấn xã Ky-tô giáo kể cả Radio Veritas Asia, Đảng Lao Động VN được đặt ngang
hàng với Quân Phiệt Phát-Xít Hitler và bị đương kim GH mạnh mẽ kết án
và chỉ thị cho giáo hội Ky-Tô và các lực lượng tranh đấu chống CS tại
VN và trên toàn thế giới tuân phục giáo chỉ của Ngài. HY TT Bộ Truyền
Giáo Sepe đang được đón tiếp đến VN có tuân giáo chỉ đó không và sẽ
làm gì? Theo một nghĩa nào đó, có thể nói chuyến viếng thăm của HY Sepe
là phát súng lệnh phát khởi cuộc chiến Jesus Christ vs Karl Marx và Nông đức Mạnh vs Ratzinger. Cuộc chiến giữa 4 triệu tín
đồ Ky-Tô Việt và 4 triệu đảng viên Đảng Lao Động Việt. Cuộc chiến
giữa hai anh em sinh đôi xét về phương thức tổ chức, lãnh đạo, kiểm
soát, thưởng phạt và bảo mật. Chỉ khác một điều, Vatican làm chính trị
đã hai ngàn năm trong khi Xã Hội chủ nghĩa chỉ thực sự làm quen với vấn
đề quyền lực từ năm 1917 và bây giờ ai cũng ngại ngần nhắc đến
danh hiệu đó, dù thực chất vẫn có, vẫn còn, vẫn có lý do tồn tại. Điểm
Then Chốt Trong Vấn Đề Bang Giao Bao nhiêu năm rồi, Vatican cố thương
thuyết bình thường hóa với Trung Quốc chỉ với điều kiện Trung Quốc
chịu cho Vatican quyền bổ nhiệm và điều động các GM của Giáo Hội
Ky-Tô ở Trung Quốc. Trung Quốc không chịu, nên Vatican đã tiếp tục thừa
nhận ngoại giao Đài Loan, bang giao với Đài Loan với 22 triệu dân và xem 1
tỷ 3 dân Trung Quốc như không có. Bang giao với các quốc gia khác như Hàn
Quốc, Miến Điện, Lào, Campuchia không thành cũng vì điểm mấu chốt đó.
Giáo Hoàng nắm quyền phong chức và
điều động các GM. Nắm được GM là nắm được linh hồn và thể xác của
giáo hội địa phương. GM theo nghĩa đen và nghĩa bóng là kẻ chăn chiên cừu,
giáo dân là bầy cừu. Kẻ chăn cừu có quyền sinh sát đối với một con
cừu như thế nào thì GM cũng có quyền xác quyết tín hữu, hay xác nhập một
cá nhân là thành phần giáo dân, nghĩa là quyền lên thiên đàng của giáo
dân, cũng như quyền dứt phép thông công, quyền tuyệt thông hay quyền khai
trừ một giáo dân ra khỏi giáo hội, nghĩa là đọa địa ngục đời đời
thế ấy. GM và quyết định mọi sinh hoạt tín ngưỡng, đức tin, giáo luật.
GM quyết định việc tuyển mộ, huấn luyện, phong chức và điều động các
Linh Mục. Có hai loại LM. LM Triều là những
ngưòi ra điều hành công việc thường ngày của giáo xứ, và LM Dòng là những người phụ trách các công
việc chuyên môn như truyền giáo, giáo dục, xã hội, kinh tài. Như Dòng Đa
Minh, Dòng Tên, Dòng Franciscain. Dưới LM là các tu sĩ nam cũng như nữ, xuất
thân từ các Dòng Tu như Dòng Lassalle, Dòng Thánh Giu-Se, hoặc các Dòng Nữ
Tu... có mục đích đào tạo cán bộ chuyên môn trung cấp, không thụ phong
LM, nghĩa là không có quyền thực hành các phép bí tích như rửa tội, giải
tội, rước lễ...Dưới nữa là các cá nhân tín hữu trong các tổ chức hội
đoàn do LM giáo xứ, Tòa GM, hay Vatican trực tiếp điều động. Một trong
những tổ chức mật của Vatican nhằm quy tụ các cá nhân trung kiên để nằm
vùng trong các cơ sở đầu não của quốc gia để làm tình báo và thi hành
các chỉ thị về chính sách, dường lối của Vì vai trò cốt tử của GM như thế
cho nên một số quốc gia thuần đạo như Một vấn đề cốt tử nữa là tiền
bạc. LM địa phương hay Cha xứ là người có quyền quyên góp tiền của
các tín đồ đóng góp và các hoạt động kinh tài trong giáo khu. Nhưng tiền thu được phải chia làm ba, một cho
địa phương xử dụng, một nạp cho GM và phần thứ ba triều cống cho Những
Mặc Cảm Lịch Sử Hồi sinh tiền, Trần văn Lắm là Đại
Biểu Chính Phủ tại Nam Phần rồi Chủ tịch Quốc hội thời Ngô đình Diệm,
Chủ Tịch Thượng Viện rồi Ngoại Trưởng thời Nguyễn văn Thiệu. NĐD
va NVT đều là những đồng đạo với Trần văn Lắm, người duy nhất
trong gia đình chịu rửa tội. Bà cụ thân sinh Trần văn Lắm là Phật tử
Chùa Giác Viên ở Phú Lâm ngoài xa lộ Biên hòa. Ước mong của bà cụ là
khi qua đời được mai táng trong khuôn viên chùa để được gần với chuông
mõ kinh kệ. Ngày bà qua đời, con cháu đang theo di huấn của bà, làm ma
chay cho bà trong chùa thì Trần văn Lắm xuất hiện đưa một xe đòn đến
chùa đòi đem quan tài bà về nhà thờ làm lễ mồ theo nghi thức Ky-Tô
giáo rồi đem chôn ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi chứ không để cho bà an
nghỉ trong khuôn viên chùa. Con cháu và người trong chùa đành phải lặng
yên cho Trần văn Lắm muốn làm gì thì làm. Trần văn Lắm đích thân ra lệnh
cho toán phu của nhà quàng khiên quan tài lên xe. Nhưng mặc sức họ cố gắng,
quan tài cứ ỳ ra không nhúc nhích. Trần văn Lắm không chịu thua, cho gọi
xe cần cẩu tới bốc hòm lên xe. Khi xe hòm bắt đầu lăn bánh thì hai trục
bánh xe gãy. Đến lúc đó, người em gái của Trần văn Lắm mới khóc bảo:
Anh làm sao thì làm chứ me giận anh rồi đó! Lúc đó Trần văn Lắm mới
chịu thua. Người cảnh cáo Trần văn Lắm đó đang ở Mỹ. Gia đình Ngô đình Diệm, từ Ngô đình
Khả trở xuống mới theo đạo, tiên nhân đều là Phật tử. Gia đình
Ky-Tô không được phép thiết lập bàn thờ cha mẹ tổ tiên, nên họ đã
đem bài vị tổ tiên lên gởi trên một ngôi chùa ở Huế. Năm 1963, anh em
NĐD phong tỏa chùa chiền, hành hạ Phật tử, bàn linh nhà họ Ngô vẫn
ngày ngày có hương khói, và tin chùa giữ bài vị các bậc tiên tổ họ
Ngô đã được dấu kín đề phòng có những Phật tử uất ức nóng giận
là có cử chỉ hay lời lẽ khiếm nhã. Tình trạng đó hôm nay vẫn còn y
nguyên. Năm 1946, khi Pháp trở lại Huế, Pháp
thường mở những cuộc bố ráp. Dẫn đường và thông ngôn cho Pháp thường
là ngững tín hữu Ky-Tô từ các họ đạo Trí Bưu, Phủ Chuyện gì có thể xảy ra nếu năm
1963, gia đình họ Ngô là Phật tử và những người biểu tình,và thành phần
lãnh đạo cuộc chính biến 1/11 là những người Ky-Tô giáo? Một vài ví dụ
đó để thấy lý do nào làm cho một số đồng bào Ky-Tô giáo xa cách thân
nhân, bè bạn, hàng xóm láng giềng, đồng hương đồng bào mình, làm cho họ
trở thành kẻ xa lạ đứng bên lề làm người quan sát, hay tệ hơn, có
khi là tác nhân của những đau khổ mà đồng bào đồng hương mình đã chịu?
Nguyễn đăng Trúc [sđd] từng nói như đinh đóng cột: Người
Việt có thể vừa là một giáo dân tốt, vừa là một công dân
tốt cho đất nước của họ, và Không biết khi nói như vậy, Nguyễn
đăng Trúc có nghĩ đến những bi kịch vừa kể trên không? Trả lời câu
hỏi đó là một thách thức tiến thoái lưỡng nan bởi có thể đụng đến
những điểm khác biệt giữa một số đồng hương Ky-Tô với đồng
hương Phật tử, những điểm vô cùng nhạy cảm đó là: Thứ nhất: Nô lệ thần quyền đến
độ như bị qủy ám. Trong khi Phật tử lại nghĩ có lúc: Phùng Phật sát
Phật, phùng tổ sát tổ. Thứ hai: Quốc tế chủ nghĩa, không
biết đến tổ quốc, coi trọng đồng đạo xem nhẹ đồng bào. Trong khi với
Phật tử, đạo và dân tộc là hai mặt của một thực tại. Tự giác nhi
giác tha. Hay nói như Lục Tổ Huệ Năng: Sắc thân thị xá trạch. Thứ ba: Mặc cảm tự tôn, ta đây,
có cơ hội ép được ai là ép, ngay cả dùng chuyện trai gái vợ chồng để
ép. Trong khi người Phật tử cho rằng Sân, Cố Chấp, Tự Tôn là tội trọng,
và có cái này thì cũng có cái kia, đạo nào cũng là đạo, đạo làm cho
người nên tốt và người cũng có thể làm cho đạo xa lìa chống đối
nhau. Thứ tư: Mặc cảm lịch sử là đã
làm tay sai thực dân, tiếp tay vào cuộc chém giết 1954-1975, đã làm mất nước
vào tay Pháp, Mỹ. Trong khi Phật tử bị tố tưng bừng là chủ hòa, chủ bại,
thân Cộng, theo Việt Minh, chống Pháp, chống Mỹ. Thứ năm: Mặc cảm tự ty, không tự
tín tự lực, tin rằng mình chỉ là đồ bỏ được hốt trở lại, đồ
sa đọa được cứu rỗi, cho nên thích lập công và đoái công chuộc tội
bằng truyền đạo, dụ người vào đạo, bằng diệt qủy dữ. Trong khi Phật
tử tin lời Phật dạy: Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ
thành và đồ tễ một phút buông dao cũng thành Phật. Thượng
Tầng Trí Thức Bế Tắc Và Thất Bại GH JP II đã can đảm lên tiếng mea culpa, lỗi tại tôi mọi đàng với
nhân loại, nhưng Giáo Hội Ky-Tô Giáo tại VN thì chưa. Không những chưa mà
còn đòi ngược lại là phải xin lỗi Ky-Tô giáo, là tổ quốc [phải] ăn năn vì tội không để cho những kẻ
như anh em Nguyễn gia Kiểng đi đến cùng chủ trương thà mất nước không
thà mất Chúa. Những oan khiên lịch sử và yếu đuối
tâm thức đã làm cho hố ngăn cách lương-giáo rộng ra một cách đau đớn.
Nhìn vào thảm kịch của cơn bão Katrina thổi qua những làng đánh cá đa số
gốc Việt Ky-Tô giáo ở Mỹ, nhìn vào thảm kịch Nguyễn tường Vân vừa
xảy ra ở Australia, nhìn vào thống kê những thanh niên thiếu nữ gốc Việt
trong các nhà tù bên Mỹ, bên Australia... ai cũng có thể đắng cay nghĩ rằng
cái tội lớn nhất của đa số những người giáo cũng như lương, ở hải
ngoại cũng như trong nước trước đây, là đã để bị một thượng tầng
trí thức mê hoặc và lợi dụng. Tội của họ trở thành tội nghiệp. Tội
nghiệp đã làm cho họ xa nhau, hiểu lầm nhau, chống nhau, ghét nhau. Làm cho
họ có lúc, nếu không đứng bên lề lịch sử, thì cũng đã tiếp tay cho
lịch sử tồi tệ hay làm cho họ trở thành người lỡ chuyến tàu dân tộc. Một lần, tôi tình cờ đọc Hoàng Phủ
Ngọc Tường viết về Trịnh Công Sơn và đem ý niệm Lễ Tro, lễ Phục
sinh của Ky-Tô giáo ý như để minh họa bài Cát Bụi. Lần đó, tôi đã nhủ thầm: Tường
ơi, không ngờ cậu cũng quân tử Tàu như Thầy Nhất Hạnh trong bài Giọt Mưa Trên Lá khi Thầy thanh thản rất
Thiền đem Phật ngồi ngang với Chúa: Bóng dáng Phật về xót thương trần
thế - lúc Chúa vào đời xin đóng đinh vì người. Tôi nóng nảy kêu trời
gọi Tường và Thầy Nhất Hạnh là quân tử Tàu, vì đa số trí thức
Ky-Tô giáo nói đến Phật giáo thì không nói đến đạo Phật là đạo bi
quan tiêu cực vô thần cũng chỉ nói chuyện ba cô đội gạo lên chùa.
Ngày xưa, thấy GS Lê ngọc Trụ của Đại Học Văn Khoa Sàigòn cứ ôm quyển
Sãi Vãi của Nguyễn cư Trinh mà dạy miết,
tôi đã than thở với quý Thầy Nguyễn đăng Thục, Lê tôn Nghiêm và Mãn
Giác. Lời than thở của tôi đến GS Lê ngọc Trụ thì được ông giải
thích ông cũng chẳng thấy quyển đó hay ho gì nhưng vì nó bài Phật giáo
nên các giáo sư Ky-Tô cứ ép ông phải dạy. Mấy giáo sư đó là ai? Cứ hỏi
những người đang còn sống của Văn Khoa Sàigòn như Nguyễn văn Trung, Lý
chánh Trung, Mãn Giác chắc sẽ rõ. Rồi mới nhất là bản tin của Đàn Chim Việt Online dẫn thượng, ghi lại
lời Nguyễn đăng Trúc nguyên văn: không có
gì mâu thuẫn giữa một người theo đạo
phật, tức một tín đồ phật
giáo ... Hai chữ Phật đều viết “p”
thường chứ không phải “P” hoa, và người viết cũng như ban biên tập
đều xem đó là tự nhiên! Vì cảm thức đó nên tôi không khỏi
cảm động khi đọc bài Trí Thức Miền Nam
– Hai mươi năm nhập cuộc, 1955-1975 của Nguyễn văn Lục trên Hợp Lưu
số 84 tháng 8 & 9/2005. Trước tiên, không biết vô tình hay cố
ý khi NVL vội vàng bảo: Trong suốt 9 năm ấy, không một ai viết về nói về
chủ nghĩa nhân vị của Mounier, trừ một lần duy nhất có một bài nói
truyện của Lý chánh Trung về Mounier...Phải chi NVL chịu nhớ lại những
bài viết bài nói bài dạy của Lê hữu Mục, Trần hữu Thanh, Bữu Dưỡng,
Nguyễn văn Thích, Võ long Tê. Hoặc chịu khó hỏi ông hàng xóm của NVL,
và cũng là Thầy của tôi, là GS Lê hữu Mục để mượn quyển Chủ Nghĩa Duy Linh Nhân Vị của ông ấy để
đọc qua! Tuy
nhiên, bài của NVL là một bài thể hiện nhiều chửng chạc, cố gắng
quân bằng và hài hòa dù đôi khi NVL đã cố lôi kẻ khác vào một cách
oan uổng bằng hai chữ chúng tôi. Tuy nhiên, đây là một bài viết can đảm,
với những câu như:... Chúng tôi nhìn thấy
rõ một điều này: Đây là nơi biểu tượng cho hai thế lực, hai thứ chủ
nghĩa muốn chứng tỏ cho thế giới thấy là chúng tôi có chính nghĩa...Các
trí thức miền Nam lúc đó... tin họ có một ý thức hệ, một thứ chủ
nghĩa Tự Do ...Tin tưởng vào thể chế miền Nam, vào một thứ chủ nghĩa
Quốc Gia... Trong số những nhà trí thức trong thời kỳ này, một phần lớn
từ Bắc di cư vào NVL xác quyết thứ nhất, sự hiện hữu
của trận chiến lưỡng biên ý thức hệ đó. Thứ hai, thành phần chủ lực
là trí thức tiểu tư sản phần lớn là di cư. Thứ ba, trí thức Miền Một điểm son nữa của NVL là không
khoe bằng cấp. Có đọc bài của NVL rồi
đem so sánh với bài Làm thế nào “yêu kẻ
thù”? của Tiến Sĩ triết học Trần công Tiến đột ngột xuất hiện
trên Hợp Lưu số 85 tháng 8 & 9/2005 như một tai nấm dại mới thấy giá
trị của mấy chữ học vị, bằng cấp. Nấm dại sẵn sàng mọc bất cứ
nơi nào, chỉ khổ cho những kẻ khờ dại ăn nhầm như ban biên tập mới
của tờ Hợp Lưu. NVL cũng không giải thích tại sao những
trí thức đồng đạo cố gắng nhưng đã thất bại, hoặc nhắm mắt bỏ
qua, lời kêu gọi của GH Paul VI từ Công Đồng Vatican 2 để trở về tìm
giải pháp cho ngụy tín, khổ đau và bế tắc đang tàn phá đất nước và
con người VN. Người VN không biết yêu nước, yêu đồng bào mình rồi để
cho người ngoài dạy cho sao? Lần đầu tiên, có một giáo quyền Đừng
Thất Vọng, Ta Ơi Đừng Thất Vọng Có còn hơn không. Đâu còn có đó, đừng
tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng... Il
a volé, il n’est pas donc voleur. Sartre từng nói như thế. Đừng nói đồng bào Ky-Tô giáo mấy
triệu, mấy phần trăm. Trong sổ điểm danh của quân đội, chết hay đào
ngũ là bị gạch tên mất tiêu. Ky-Tô giáo không thể làm vậy với những
kẻ đã được Hội Thánh xác nhận gia nhập. Không thể thẳng mực tàu gạch
tên họ khi họ đã chết. Lý do đơn sơ là không thể ghi gạch tên vì họ
đã lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục. Người chết vẫn còn, tên chết
vẫn còn được kể. Cho nên, tính sổ mà đếm nhiều khi chưa hẳn là
chính xác. Chưa kể số người đến lúc hấp hối chẳng biết trời trăng
mô tê thì bị đè ra mà rửa tội. Như Bảo Đại, như Nguyên Sa, và có thể
như Henry Bergson, như Hàn Mặc Tử và bao nhiêu người tứ cố vô thân trong
bệnh viện, trong viện dưỡng lão, trại chẩn tế. Lại nữa phát triển
đạo không có nghĩa là đếm số người, như Mỹ ngày trước liệt kê
thành tích bằng cách đếm xác địch! Cho nên tôi không băn khoăn đồng bào
Ky-Tô giáo mấy triệu, mấy phần trăm. Nhưng mấy phần trăm, mấy triệu, mấy
vạn, mấy ngàn thì cũng là người, là đồng bào, đồng hương, bà con anh
em...phải gần nhau, càng gần nhau càng tốt. Trong một bài trước đây [Phồn Hoa Kinh – Nói Với Nửa Phần Hồn Của
Tôi, Văn Mới, Ca. 2003, tr.283 & tt] tôi có mạo muội bày tỏ, một trong
những ước mong đời tôi là nhìn thấy Giáo Hội Công Giáo Tại Việt Nam hoá thân thành Giáo Hội
Công Giáo Việt Nam. Để cho đồng bào anh em được gần nhau hơn. Ít ra
thì cũng là cho vui. Xa nhau thì dễ lạnh lùng, hờ hững, ngộ nhận, xung khắc,
thù hận. Lại nữa, 75% người Việt hôm nay, nghĩa là khoảng 60 triệu người,
là thanh niên thiếu nữ dưới 35 tuổi. Năm 1975, khi chiến tranh chấm dứt
đất nước lại về một mối thì quá lắm họ mới bập bẹ ê a chưa lây
nhiễm hận thù oan nghiệt lịch sử. Cho nên, người lớn sao nỡ để những
độc tố tiềm ẩn đang tàn hại mình lây sang đám trẻ đó? Chính quyền VN có nghĩ như vậy khi
nghĩ đến tái lập bang giao với
© Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com