giaodiem copyright
posted: 08.12.2005

  Nguyễn Mạnh Quang

PHẦN III.
 
THÀNH TÍCH BÓC LỘT NHÂN DÂN,
VÀ CƯỚP ĐOẠT TÀI SẢN  CỦA VATICAN
TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ 1862-1945

Muốn biết số thành tích bóc lột nhân dân và cướp đoạt tài sản của Vatican tại Việt Nam trong thời kỳ 1862-1945, chúng ta hãy  ghi lại sự kiện lịch sử nước ta trong thời gian này rồi dùng  những kiện để làm  những bài tính để tính ra điều chúng ta muốn biết. Dưới đây là những sự kiện cần phải nên tìm hiểu:

Thứ nhất.- Năm 1858, khi Quân Thập Tự của Liên Minh Thánh Pháp – Vatican bắt đầu tiến vào khai hỏa tấn chiếm Việt Nam,  đất nước chúng ta chưa có một ngôi nhà thờ nào chễm chễ ở trên một vị trí ngon lành nhất và sang trọng nhất trong bất kỳ huyện ly, tỉnh lỵ nhỏ và trong các thị xã hay thành phố lớn nào cả. Thí dụ như vào năm 1862, những châu thành hay tỉnh lỵ như Sàigon, Gia Định, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, An Xuyên, Kiên Giang, Vĩnh Bình, Kiến Hoà, Long An, Sa Đéc, Long Xuyên, Tây Ninh, Biên Hòa, Binh Dương, Phước Tuy, Bình Tuy, Phan Thiết, Phan Rang, Phan Rí, Nha Trang, Tuy Hoà, Lâm Đồng, Đà Lạt, Qui Nhơn, Quảng Nam,  Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Phát Diệm, Nam Định, Phủ Lý, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Đông, Hải Dương, Kiến An, Hải Phòng, Quảng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Hoá, Hòa Bình, Sơn Tây, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lao Kay, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, v.v… đều chưa có một ngôi nhà thờ nào cả, dù là ở vùng ngoại ô. Đây là một sự kiện lịch sử không ai có thể phủ nhận hay phản bác được.

Thứ hai.-   Chúng ta hãy gợi trong trí nhớ hay về Việt Nam làm một chuyến thăm viếng quê nhà từ mũi Cà Mâu cho đến Ải Nam, đi xuyên suốt các tỉnh, các huyện, các giáo khu Phát Diệm,  Bùi Chu và tất cả các làng đạo hay xóm đạo trong toàn quốc để ghi lại xem:

1.- Hiện nay đất nước  Việt Nam  có bao nhiêu ngôi nhà thờ vĩ đại với tháp chuông cao chót vót lên đến tận lưng trời, có bao nhiêu ngôi nhà thờ thuộc loại trung trung, có bao nhiêu ngôi nhà thờ thuộc loại nhỏ, có bao nhiêu chủng viện, bao nhiêu tu viện,  bao nhiêu trường đại học, trung học, tiểu học,  bao nhiêu nhà thương của Giáo Hội La Mã (những thứ này đã bị tịch thu từ năm sau tháng 4/1975) và bao nhiêu cơ sở khác thuộc Giáo Hội La Mã. Đây là sự kiện thứ hai.

2.- Tìm hiểu xem cho đến tháng 7/1954 Giáo Hội La Mã   đã chiếm hữu bao nhiêu ruộng đất trong trọt ở Việt Nam, và có bao nhiêu công ty hay xí nghiệp hay cơ sở kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung. Đây là sự kiện thứ ba.

Thứ ba.- Sau khi đã có con số vế những sự kiện trên đây, xin đặt vấn đề như thế này:

1.- Phải chăng Giáo Hội La Mã đã xuất tiền bạc trong kho nhà Chúa ở Vatican đem sang Việt Nam để mua sắm vật liệu, thuê mướn  kiến trúc sư vẽ hoạ đồ, thuê mướn những tay thợ chuyên nghiệp (thợ nề, thợ mộc, điêu khác gia, thợ sơn, hoạ sĩ) và thuê mướn nhân công để xây cất hàng ngàn công trình kiến trúc vĩ đại trên đây của nhà nước bảo hộ và của riêng Giáo Hội La Mã tại Việt Nam? Đâyvấn đề thứ nhất.

2.- Phải chăng Giáo Hội La Mã đã xuất tiền bạc trong kho nhà Chúa ở Vatican đem sang Việt Nam để tậu hay mua số lượng ruộng đất trồng trọt và  thiết lập các cơ sở kinh doanh ở trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam mà Giáo Hội làm chủ vào thời điểm 1945, và ở miền Nam Việt Nam mà Giáo Hội làm chủ vào thời điểm 1975? Đây là vấn đề thứ hai.

A.- NẾU thấy rằng tất cả những ruộng đất và những công trình kiến trúc trên đây của Giáo Hội La Mã tại Việt Nam là do Giáo Hội La Mã lấy tiền trong kho nhà Chúa ở Vatican đem sang Việt Nam mua đất và đài thọ tất cả những phí tổn về mua sắm vật liệu xây cất, về tiền thuê mướn kiến trúc sư vẽ họa đồ, thuê mướn các thợ chuyên nghiệp và nhân công phục dịch trong các công trường xây cất các kiến trúc này, giống như người Hoa Kỳ đem  tiền đô la từ Hoa Kỳ sang Saigòn để đài thọ để biến miền Nam thành tiền đồn chống Cộng cũng như để đài thọ cho việc thiết lập và bảo vệ các chế độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam trong thời kỳ 1954-1975, THÌ xin miền phải bàn luận gì hết!

B.- NẾU thấy rằng Vatican đã cấu kết với người Pháp dùng bạo lực của chính quyền bảo hộ cưỡng chiếm đất đai, chiếm đoạt tài nguyên, ăn cướp của cải trong những chiến dịch hành quân, bóc lột nhân dân ta bằng chính sách thuế khoá và sưu dịch trong suốt thời kỳ 1862-1945 mới có thể xây cất được hàng ngàn công trình kiến trúc này và số lượng không lồ ruộng đất trồng trọt cùng tất cả các cơ sở kinh doanh như trên, chúng ta nên tìm hiểu cho đến nơi đến chốn những vấn đề đã nêu lên ở trên.

Thiển nghĩ rằng giả thiết B trên đây  rất hợp lý.  Mục III sẽ trình bày vấn đề này và gồm có:

Chương 11: Bản chất lừa bịp, bạo ngược, độc ác và gian tham của Giáo Hội La Mã. (129)

Chương 12: Dân ta bị cưỡng bách làm lao nô cho nhà nước và đời sống khốn khoẻ của họ. (142)

Chương 13: Pháp, Vatican và tín đồ Da-tô người Việt đã cướp đoạt bao nhiêu tiền bạc, châu báu ở Việt Nam trong thời kỳ 1862-1945. (149)

Chương 14: Bóc lột nhân dân Việt Nam bằng chính sách thuế khóa và sưu dịch. (167)

Chương 15: Cướp chùa, chiếm đất xây nhà thờ, chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân. (178)

Chương 16: Hậu quả của chính sách cướp đoạt ruộng đất, thuế khóa và sưu dịch của chính quyền bảo hộ. (187)

CHƯƠNG 11

BẢN CHẤT LỪA BỊP, BẠO NGƯỢC, ĐỘC ÁC
VÀ GIAN THAM CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Ngay từ  khi chào đời vào ngày 20/5/325, Giáo Hội La Mã đã mang dòng máu lừa bịp, luơn lẹo, bạo ngược, độc ác, gian tham, ưa thích bốc hốt vơ vét của cải và tích lũy tài sản cho đầy túi tham. Dòng máu máu ghê tởm cũng được gọi là bản chất của Giáo Hội.  Cho đến đầu thế kỳ 16, bản chất này của Giáo Hội chỉ có thể  bùng ra trong giới hạn ở loanh quanh Tây Âu cùng các vùng ven Biển Địa Trung và được thện ra bằng những cuộc chiến thập tự (crusades), bằng việc thiết lập các Toà Án Dị Giáo (Inquisitions), bằng những phương cách bóc lột nhân dân với những kỹ thuật vô cùng  tinh vi, hết sức siêu việt. Những việc làm tàn sát người và vớt vét tài sản trên đây được các nhà viết sử gọi là “bàn tay máu” và “bàn tay vơ vét” của Giáo Hội La Mã. Hai cái bàn tau ghê tởmn này của Giáo Hội đã giúp cho Giáo Hội thiết lập được chế độ giáo hoàng (papacy) tập trung quyền lực vào trong tay giáo hoàng như là hoàng đế của tất cả hoàng ở trên trái đất này và biến các chính quyền tay sai của Giáo Hội ở trong vùng thành những chế độ đạo phiệt Da-tô, nắm trọn hết tất cả các phương tiện sản xuất, kiểm soát hết tất cả mọi phạm vi sinh hoạt trong xã hội, cấm đoán hết tất cả mọi thứ tự do (đã được nói rõ ở Chương 5), kiểm soát những tư tưởng thầm kín của người dân bằng cách gài người vào tình mò dò xét những chuyện riêng tư trong đời sống trong gia đình giữa vợ với chồng, giữa  cha mẹ và con cái (cũng đã được nói rõ ở Chương 5) để tìm bắt và trừng trị những người nào có “tình ý riêng” ngoài “đức tin Ki-tô[1]. Tình trạng đã biến nhân dân dưới quyền thành những bày nô lệ ngu dốt phục vụ cho tập đoàn thống trị trong các chế độ đạo phiệt tay sai của Giáo Hội tại các địa phương để bảo về quyền lực  của Giáo Hội.

I.- BẢN  TAY MÁU CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Kinh nghiệm klịch sử cho biết quyền lực càng nhiều mà không có thế lực nào kiềm chế thì tất nhiên càng trở nên bạo ngược. Giáo Hội La Mã tự phong   “Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” là “Giáo Hội Nhiệm Mầu” và các ông Giáo Hoàng tự phong làđại điện duy nhất của Chúa ở trên trái đất này” và tuyến bố thẳng thừng rằng “Giáo Hoàng không bao giờ lầm lãn”, rằng “không ai có quyền phán xét giáo hoàng” (The Pope can be judged  by no one).. Thế cũng chưa đủ, Giáo Hội còn dạy dỗ tín đồ rằng, các linh mục, giám mục, tổng giám mục, hồng y đều là những người mang chức thánh, đều là những người đại diện cho Chúa đối với tín đồi, đều có tính cách thánh thiện như Chúa. Vì thế tín đồ phải tuyệt đối vâng lời và triệt để thi hành những lện truyền của họ. Nếu họ có gì sai lầm thì đã có Chúa biết và Chúa sẽ lo liệu. Là trín đồ, mình phải tuyệt đối vâng lời và triiệt để thi hành lệnh truyền của các Ngài, mọi việc khác sẽ có Chúa lo liệu.

Sự kiện này cho chúng ta thấy:

1.- Giáo Hoàng của Giáo Hội La Mã trong thực tế một  bạo chúa có nhiều quyền lực nhất trong lịch sử loài người.

2.- Tất cả các hồng y, tổng giám muc, giám mục và linh mục trở thành những bạo chúa lớn, bạo chúa nhỏ ở trong phạm vi quản nhiệm của họ.

A.- THANH TOÁN LẪN NHAU

Từ ngàn xưa, quyền lực là miếng mồi vô cùng hấp đãn khiến cho người ta lao vào làm những chuyện đạo nghịch bất đạo, con giết cha, anh em tàn sát lẫn nhau, và hèn hạ đến nỗi  đem cả vợ con dang cho quan thày để lót đường đi vào cửa quyền, v. v... như đã trình bào ở Chương 2, Phần I ở trên. Đây là một quy luật tâm lý và quyền lực. Quy luật này áp dụng cho những người mang chức thành trong hệ thống quyền lực trong Giáo Hội La Mã lại càng chính xác hơn hết, vì rằng họ là những người có bản chất ích kỷ. hám lợi, háo danh và thèm khát quyền lực như đã chứng minh ở Chương 2, Phần I ở trên. Chính vì cái bản chất háo danh và thèm khát quyền lực này mà họ đã lao đoầu vào những cuộc chém, thanh toán và huỷ diệt lẫn nhau để giành chiếm ngội vị. Sách Vicars Of Christ ghi rõ sự kiện này như sau:

"Khi có cuộc họp của một số đông các tu sĩ của Giáo Hội La Mã thì địa điểm nhóm họp phải là nơi  gần sông hay hồ lớn để liệng xác người (bị thanh toán) xuống đó. Hồ Constance đã tiếp nhận tới hơn năm trăm xác người (bị thanh toán); Con sông Rhine cũng là nơi tàng chứa rất nhiều bí mật." (“When the clergy met in large number, it was always wise to choose a town near water – lake or river – for disposing of the bodies. Lake Constance received over five hundred while the Council was in ssession; the Rhine, too, hid many secrets." [2] .

Cũng trong sách Vicars of Christ, nơi trang  11, có đọan văn sau đây:

"Họ băng qua con sông Tiber, con sông mà trong nhiều thế kỷ đã được sử dụng vừa làm cống rãnh tiêu thụ rác rưởi của Kinh Thành Rome vừa làm  mồ chôn người không chính thức. Có lẽ, ngoài Trung Hoa ra,  Tiber là con sông có nhiều xác  người nhất bị nhận chìm trong  một ngày. Sáng hôm nay, dòng sông này lờ đờ mang mầu xám giống như màu áo của một giáo sĩ Franciscan."  .["They cross the Tiber, which for centuries served the city as both sewer and and unofficial cemetery. Probably Tiber has claimed more lives than any river ouside China; thousands have drowned their in a day. This morning, it is sluggish and brown as the habit of a Franciscan."[3]

"Sự thù nghịch   bộc phát thành những cuộc chiến đấu đá nhau thường xẩy ra vào khi có giáo hoàng qua đời. Thi dụ, khi (Giáo Hoàng) Liberius (352-366) chết vào năm 366, giáo triều chia làm hai phe, mỗi phe  chọn một người của phe mình lên kế vị.  Ursinus  là giáo hoàng của một phe và Damasus là giáo hoàng của phe khác. Sau khi đánh nhau ở ngoài đường phố, phe Ursinus yếu thế, chạy vào trong nhà thờ St Mary Major (thường gọi là Thánh Đường Đức Bà   Bạch Tuyết)  rồi đóng cửa lại tử thủ. Phe Damasus tiến tới, trèo lên nóc nhà thờ đục lỗ, rồi dùng ngói và đá liệng xuống tấn công phe Ursinus. Đồng thời, một toán khác của phe Damasus tấn công vào trong qua cửa chính. Khi lọt được vào trong, hai bên ra sức chém giết lẫn nhau liên tiếp trong ba ngày. Cuối cùng, có tới 137 xác chết khiêng ra ngoài. Tất cả xác chết này đều là người của phe Ursinus. Ursinus bị bắt cho đi sống lưu vong, nhưng tội ác ở trong thánh đường Mary Major là  vết nhơ trong thời Giáo Hoàng Damasus mãi mãi vẫn còn ghi trong sách sử." [“Bitter rivalries often showed themselves on the death of a pope. For example, when Liberius (352-366) died in 366, two factions elected a successor. Ursinus was one pope. Damasus  was the other. After a lot of street fighting, Ursinus ‘ followers locked themselves in the recently completed basilica of St Mary Major, known as “Our Lady of Snow”. Damasus’ supporters climed on the roof, made a hole in it and bombarded the occupants with tiles and stones. Others meanwhile were attacking the main door. When this caved in, a bloody fight   ensued for three days. At the end of it, 137 bodies were carried out, all of them followers of Ursinus. Ursinus was sent into exile by the emperor’s representative, but the crime in Mary Major was a permanent blot on Damasus’ copybook.”] [4]

Ấy là chưa kể đến  hai các chết mờ ám của Giáo Hoàng Adrian VI (1522-1523) và Giáo Hoàng John Paul I trong năm 1978  chỉ ở ngôi có 33 ngày, cũng như    bàn tay máu của Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) trong cái chết của Giáo Hoàng Pius XI (1922-1939)  đã được sử gia Paul L. Williams ghi lại nơi các trang 51-53 trong cuốn The Vatican Exposed (New York, Prometheus Books, 2003).

B.- TÀN SÁT NHÂN DÂN DƯỚI QUYỀN

Giữa những người mang chức thánh đại diện cho Chúa, cùng tự phong là thánh thiện và  không lầm lẫn mà họ còn đối xử với nhau như thế! Vậy thì số phận của tín đồ và nhân dân dưới quyền của họ sẽ bị đối xử như thế nào? Sự thể như thế nào đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Deceptions and Myth of The Bible nói rõ con số nạn nhân bị Giáo Hội La Mã sát hại lên tới trên 250 triệu với nguytên văn như sau:

"Chúng ta đã biết được những gì trong 7 trăm năm này? Ba triệu người  thiệt mạng trong vụ cố gắng chiếm lại một ngôi mồ nằm trong vùng kiểm soát của người Hồi giáo. Mười triệu người bị giết hại do bàn tay của các Tòa Án Dị Giáo Gia-tô  Mười bốn triệu người chết trong các cuộc chiến Gia-tô trong thế kỷ thứ 19. Ba mươi triệu người thiệt mạng trong các cuộc chiến giữa các quốc gia theo đạo Kitô với nhau trong hai thập niên đầu của thế kỷ thứ 20. Từ thời Constantine đến nay, chiến tranh và chính sách áp bức của các chế độ đạo phiệt Gia-tô đã gây cho hơn 200 triệu nạn nhân bị thiệt mạng. Và chúng ta phải kể thêm 23 triệu  quân nhân của 53 quốc gia và các thuộc địa đã hy sinh trong các cuộc chiến (do Giáo Hội phát động – NMQ ) và ít nhất 28 triệu nạn nhân chết  vì bom, đạn, đói và bệnh tật hay ở trong các trại tập trung.  [What have we learned in those seven hundred years? “Three million lost their lives in a futile attempt to rescue a tomb from Mussulmans. Ten million were slain during the Inquisition. Fourteen million were slain in Christian wars of the Nineteenth Century. Thirty million lost there lives in wars between Christian nations during the first two decades of the Twentieth Century. Wars, tyranny and oppression of Christian nations since the days of Constantine have caused the death of more than 200,000,000 people”   And now we must add to this “Some 23,000,000 men in uniform from 53 nations, countries and dominions were killed or died; at least 28,000,000 died from bombs or guns, hunger or disease or in the concentration camps.) [5]

Sách Deceptions and Myths of the Bible được phát hành vào năm 1975, sách dầy gần 500 trang. Rất có thể tác giả đã mất nhiều năm sưu tầm và tham khảo tài liệu để biên soan tập sách trên đây. Công việc biên sọan, đọc lại bản thảo, sửa chữa những sai lầm và bổ túc những thiếu sót  mất rất nhiều thì giờ. Cũng vì thế mà rất có thể những biến cố xẩy ra từ đầu thập niên 1970 chưa được cho vào trong sách này. Như vậy thì con sô khoảng 800.000 (800 ngàn) người ở Rwanda  bị chế độ đạo phiệt Gia-tô của Giám-mục Augustin Misago tàn sát  vào giữa năm 1994, con số khoảng hơn 7.000 (bẩy ngàn) người  (đa số là tín đồ Hồi giáo) bi chế độ đạo phiệt Serbia ở Bosnia tàn sát vào năm 1995 và hàng triệu những nạn nhân khác bị tàn sát ở  những nơi khác khắp nơi trên thế giới như ở Labenon vào  năm 1882, ở East Timor trong những năm 1999-2002, v.v… không được kể vào trong sách này.

Vì giới hạn của tập sách này, người viết không đề cập đến con số nạn nhân bị tàn sát trong từng mỗi biến cố  (trong các cuộc chiến thập tự trong thời Trung Cổ, trong thời các Toà Án Dị Giáo (Inquisitions) hoành hành ở Âu Châu từ thế kỷ 13 cho đến đầu thế kỷ 19, trong các cuộc hành quân của các đạo quân thập tự Bồ Đào Nha ở Châu Phi và ở Ba Tây trong thế kỷ 16, trong cádc cuộc hagfnh quân của các đạo quân thập tự Tây Ban Nha ở Châu Mỹ La Tinh và Phi Luật Tân trong thư kỷ 16, trong các cuộc hành quân của quân thập tự Pháp ở Đông Dương, ở các nước Morocco, Tunisia, Algeria ở Bắc Phi và một số quốc gia khác ở Trung Phi và Trung Đông từ giữa thế 19 đến giữa thế kỷ 20,  trong các cuộc tàn sát hàng chục tín đồ Tin Lành ở nước Pháp trong thế kỷ 16, trong các những vụ tàn sát hàng ngàn tín đồ Tin Lành ở Ái Nhĩ Lan trong thế kỷ 17 và còn kéo dài cho đến ngày hôm nay, trong những hành động tàn sát hơn 700 ngàn người của chế độ đạo phiệt Da-tô Ante Pavelich ở Croatia trong những năm 1941-1945, trong những hành động thủ tiêu và   tàn sát hơn 300 ngàn người của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm ở miền Nam trong những năm 1954-1963[6], và gần đây nhất là qua những hành động tàn sát 800 ngàn người của chế độ đạo phiệt Da-tô của Giám-mục Augustin Misago ở Rwanda.

II.- ĐỜI SỐNG   PHÓNG ĐÃNG LOẠN LUÂN
DÂM LOÀN CỦA CÁC   ÔNG GIÁO HOÀNG

Từ ngàn xưa, con người hay thế lực nào càng có nhiều quyền lực thì càng  mưu mô thủ đoạn càng lươn lẹo, càng  độc ác, càng gian tham, càng có nhiều phương tiện để tàn sát nhân dân,  Đây là quy luật của lịch sử. Giáo Hội La Mã cũng không thoát ra khỏi quy luật này. Cũng vì thế mà trong lịch sử Giáo Hội, có những giáo hoàng bạo ngược, trở thành những bạo chúa lừng danh hơn cả Tần Thủy, Staline, Hitler,  Mao Trạch Đông, v.v… Kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy rằng quyền lực làm cho con người đồi trụy và càng có nhiều quyền lực trong tay thì càng dễ dàng lao vào cuộc đời đàng điếm, phóng đãng, loạn luân dâm loàn, vùi đầu trong cuộc sống hưởng lạc phè phỡn với những thú vui nhục dục trên mồ hôi nước mắt và xương máu của muôn dân. 

Đây cũng là một quy luật lịch sử mà chúng ta có thể thấy ngay ở trong giáo triều Vatican. Đời sông đàng điêm loạn luân dâm loàn của các ông giáo hoàng trong giáo triều Vatcian đều được sách sử ghi lại rõ ràng.  Sách Babylon Mystery Religion dành hẳn Chương 12  với tựa đề là Papal Immorality trong đó tác giả kể ra  những màn kịch của hơn 20  giáo hoàng ("Đức Thánh Cha") đại diện Chúa Kitô "ăn no rửng mỡ", rồi "ấm cật dậm dật phao câu", rồi thanh toán lẫn nhau bằng những thủ đoạn vô cùng kinh khủng mà tác giả cuốn sách này cho là "kinh khủng độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người" (sheer horror has never been duplicated in the annals of human history). Xin mời quý vị theo dõi những sự kiện này qua các tài liệu và sách sử với những đoạn văn nguyên bản như sau:

"Thêm vào những bằng chứng hiển nhiên cho chúng ta thấy rằng nhân cách và đức độ của rất nhiều ông giáo hoàng không xứng đáng đựợc gọi là giáo hoàng. Một số các ông giáo hoàng có những hành động hủ hóa, sa đọa, đê tiện   và bỉ ổi đến nỗi ngay cả những người ngoại đạo cũng cảm thấy xấu hổ cho các Ngài. Các ông giáo hoàng thường hay phạm những tội ác như ngoại tình, làm tình một cách bất bình thường với đàn ông,  bán thánh, hiếp dâm, giết người và say sưa tuý lúy. Những người thường cao rao là "Đức Thánh Cha", là "Đại Diện của Chúa Kitô", là "Giám Mục của các ông giám-mục" mà lại mang đầy những tội ác như vậy,  nghe ra thật là rùng mình!  Những ai  đã thấu hiểu lịch sử của chế độ giáo hoàng và Giáo Hội La Mã đều biết rõ hơn ai hết, rằng không phải tất cả các ông giáo hoàng đều thánh thiện cả."("In addition to the conclusive evidence that has been given, the very character and morals of many of the popes would tend to identify them as successors of pegan priests, rather than representatives of Christ or Peter. Some of the popes were so depraved and base in their actions, even people who professed no religion at all were ashamed of them. Such sins as adultuery, sodomy, simony, rape, murder. and drunkeness are among the sins that have committed by popes. To link such sins with men who have claimed to be the "Holy Father", "The Vicar of Christ", and “Bishop of bishops", may sound shocking, but those acquainted with the history of the papacy well know that not all popes were holy men." [7]

Sách  The Decline And Fall   of the Roman Church viết:

"Một năm sau đó, Giáo Hoàng Agapitus II (946-955) qua đời vào mùa thu năm 955 và một tháng sau, ngày 16 tháng 12 cậu bé Octavian được đưa lên làm giáo hoàng, lấy đế hiệu là John XII. Giáo Hoàng John XII (955-963) là thời kỳ mà tình trạng bê bối thối tha  trong Giáo triều Vatican xuống tới mức  tồi tệ nhất (tồi tệ nhất so với thời điểm này, vì về sau, có nhiều giáo hoàng khác còn ghê gớm hơn John XII cả ngàn lần -NMQ) . Trở thành giáo hoàng rồi, John XII cũng không chịu thay đổi nếp sống phóng đãng của hắn. Suốt ngày đêm, hắn chỉ biết ăn uống linh đình hoang phí, vui chơi nơi bàn tiệc cùng săn bắn và miệt mài trong các cuộc truy hoan. Dinh của Giáo Hoàng trở thành   nơi cho đủ mọi loại bọn gái điếm lui tới."] ["Pope Agapitus II (946-955) died one year later in autumn of 955, and a month later, on Decembet 16, the youthful Octavian was consecrated pope and took the name of John XII. Octavian as Pope John XII (955-963) was the absolute nadir. Becoming pope, he did not change his way of life, he spent his days and nights eating sumptuously, playing at the tables, hunting, and in love affairs. The pope's palace was frequented by courtesans and prostitutes.[8]

Trong lịch sử Giáo Hội La Mã, không phải chỉ có John XII (955-963) mới có những hành động bạo ngược, dã man, loạn luân và dâm loàn như vậy. Các nhà viết sử, tính ra  gần như hầu hết  233 giáo hoàng thời Giáo Hội La Mã (tính từ năm 325 trở về sau)  đều  phạm những trọng tội bạo ngược chống lại nhân quyền, và luôn luôn có những thái độ và hành động xấc xược, ngược ngạo, lươn lẹo, lật lọng, tàn bạo, loạn luân, dâm loàn, tham lam, gian ác vượt lên trên tất cả những tên bạo chúa lừng danh trong lịch sử nhân loại. Sách Gia Tô Thực Dân Sử Liệu (The Documented History of Catholic Colonialism) viết:

"Giáo Hoàng Felix III (483-492)  trong thời gian là giáo hoàng có tới 3 người con (3 người con này đều chết cả…)" "Giáo Hoàng Hormidas (514-523) đã kết hôn với bà Marouzia và có  một nguời con trai với bà này…" "Giáo Hoàng Adrian II (867-872) sống chung với vợ và con gái ở điện Lateran." "Giáo Hoàng Sergius III (904-911) vốn là một giám-mục có người vợ, tên là Mazouzia và đã có một người con trai với bà này. Tới năm 904, khi lên ngôi Giáo Hoàng, ông ta mới lấy hiệu là Sergius III. Nhờ  sẵn có thế lực của cha mẹ, mấy chục năm sau, người con trai này trở thành Giáo Hoàng John XI (931-936)". "Giáo Hoàng John XII (955-963) đã từng loạn luân với em gái và bị chết vào ngày 14-5-964 khi đang … với một cô nhân tình..." "Giáo Hoàng Leo VIII (963-964)   chết đột ngột vì bị máu xâm trong lúc đang phạm tội thông dâm." "Giáo Hoàng Benedict IX (1033-1044) lên ngôi lúc 12 tuổi, đã từng giết người, thông dâm ngay giữa ban ngày, cướp bóc tiền bạc của những người hành hương  mộ thánh tử đạo… bị dân La Mã tống xuất khỏi La Mã…" "Giáo Hoàng Pius II (1458-1464) có hai người con hoang, từng công khai nói chuyện về các phương pháp dụ dỗ đàn bà." "Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) loạn luân với bà chị ruột và có một người con trai với bà này..." "Giáo Hoàng Innocent VIII (1484-1492) có tới bẩy hay tám người con trai với nhiều bà khác nhau. Nhiều vợ và nhiều con quá, ông phải tìm cách tăng thêm 26 chức vụ thư ký trong giáo triều để bán với giá mỗi chức là 62,400 đồng duca." "Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) tên thật là Borgia, một con quỷ đã công khai loạn luân với hai người em gái và loạn luân luôn với cả con gái ruột tên là Lucretia (that monster who lived in public incest with his two sisters and his own daughter from whom he got a child). Đặc biệt hơn nữa,  ngày 31-10-1501, ông cho tổ chức một bữa tiệc cực kỳ dâm loạn ở ngay trong điện Vatican với  50 cô gái trẻ đẹp khiêu vũ  khỏa thân để mua vui cho thực khách.." [9] .

Riêng về đời sống phóng đãng và loạn luân của Giáo Hoàng John XII (955-963), cuốn sách trên đây (trang 108-110) ghi lại như sau:

"Giáo Hoàng La Mã thứ 131 John XII (955-963). Tên thật là Octavian con của Alberic, cháu nội bà Marozia. "năm 955, đứa cháu trai của cô gái điếm Marozia, sau vài trận đổ máu với các đối thủ, hắn lên kế nghiệp ngôi Giáo Hoàng dưới tên là John XII." [In the years 955, the grandson of the prostitute Marozia, after several bloody encounters with his opponents, succeeded in taking possession of the pontifical throne under name of John XII].

John XII lên ngôi Giáo Hoàng khi mới 18 tuổi, được mô tả như một kẻ vô đạo  thất học (a heathen). "... ông đã từng loạn luân với em gái ông. " [...he committed incest with his sisters ..  ],

Hành vi dâm loạn của Giáo Hoàng John XII đã được Giám-mục  Luitprand mô tả như sau:

"Không có cô gái lương thiện nào dám xuất hiện nơi công cộng vì Giáo Hoàng John (XII) không từ bất cứ một ai, kể cả các cô gái độc thân, những bà có chồng hay các góa phụ, chắc chắn đều bị Giáo Hoàng cưỡng hiếp ngay trên mộ các Thánh Tông Đồ, Peter và Paul." [No honest lady dared to show herself in public, for Pope John had no respect either for single girls, married women, or widows - they were sure to be defiled by him, even on the tombs of the holy apostles, Peter and Paul.]",

Vì thế nên người đương thời đã "kết án Giáo Hoàng John (XII) can các tội bất kính với Thánh Thần, buôn bán chức Thánh, lời thề giả đối, giết người, thông dâm và loạn luân..." [John was accused of sacrilege, simmony, perjury, murder, adulter, and incest...]"

Sách Catholic Encyclpedia miêu tả Giáo Hoàng John XII như là: "Một người đàn ông lỗ mãng, vô đạo đức, sống trong tòa lâu đài Lateran được dư luận xem như một nhà thổ. Ông là loại ký sinh trùng trong hành vi thông dâm." [A coarse, immoral man whose life was such that "the Lateran was spoken of as a brothel." He was striken with paralysis in the act of adultery]"

Cũng vì trác táng nên Giáo Hoàng John XII chỉ ở ngôi được có 8 năm 4 tháng (lên ngôi ngày 16/12/955, chết ngày 14/5/964)  "... Giáo Hoàng John (XII) bị chết, người ta nói ông bị cảm liệt trong khi viếng thăm cô nhân tình của ông. Ông chết vào ngày 14/5/964, không xưng tội, không chịu phép bí tích. [... John was dead, it was said he was struck with paralysis while visiting his mistress. He died on 14 May, 964 without confession or receiving the sacrements]"

Cái chết của Giáo Hoàng John XII sau này được minh bạch: Trong lúc  Giáo Hoàng John đang thông dâm với một con chiên nữ  ngoan đạo bị ông chồng bà ta bắt quả tang tại trận:

"Chính Giáo Hoàng John XII đã bị một đàn ông quý tộc giết ngay lập tức khi ông ta khám phá ra Giáo Hoàng thông dâm với vợ ông ta." [That same John XII, was instantly killed by  a gentleman, who found him committing the act of adultery  with his wife.]

Phê bình  các đời sống của các Giáo Hoàng La Mã, sách  Liber Pontificalis viết về  Giáo Hoàng John XII: "Suốt đời ông toàn sống trong cảnh thông dâm.": [10]

Trong bài viết  "Hôn Nhân Và Tôn Giáo" đăng trong www.giaodiem.com  tháng 1 năm 2004  của tác giả Nguyễn Hữu Ba, có một đọan nói về đời sống  loạn luân dâm loàn bê bối thối tha của một số khá nhiều giáo hòang. Dười đây là  nguyên văn:

"Giáo Hoàng John XXIII  (1410-1415) bị hàng chục Giám Mục và rất nhiều nhân chứng tố cáo đã xâm phạm tiết hạnh ba trăm nữ tu và có một cung viện chứa trên hai trăm cô gái. John XXIII còn bị Công Đồng kết án về 54 tội đại hình khác.

Hồ sơ lưu trử tại Vatican còn ghi nhận John XXIII thông dâm với em dâu, phá trinh nhiều cô gái, dụ dỗ nhiều phụ nữ có chồng và phạm đủ loại tội dâm dục. Công Đồng gọi y là con quỷ hóa thân.

* Pius II: (1458-1464) và Paul II (1464-1471) là hai Giáo Hoàng kế tiếp nhau đều có cung viện (harems) chứa rất nhiều cung nữ.

* Giáo Hoàng Innocent VIII (1484-1492) thông dâm với nhiều phụ nữ và có 16 đứa con. Nhiều con của y được tổ chức đám cưới linh đình ngay tại Vatican ( The Catholic Encyclopedia Vol.8,p.19)

* Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) có vợ 5 con lúc còn làm Hồng Y. Sau khi lên ngôi GH, y loạn luân với hai em gái và với con gái ruột tên Lucretta. Y có một đứa con với con gái ruột của mình (History of the Reformation D'Aubigne P.11). Ngày 31-10-1501, Alexander VI tổ chức dạ hội với 50 cô gái thoát y. Giáo Hoàng treo giải thưởng cho người đàn ông nào làm tình lâu nhất.

 * G. H. Paul III:( 1534-1549). Lúc còn là Hồng Y đã có 3 con trai, một con gái. Lúc lên làm GH, y làm lễ rửa tội cho hai đứa cháu nội và ngoại. GH này hay tin dị đoan và thường hỏi ý kiến các thầy bói.

* Giáo Hoàng Cléo X (1513-1521) đi tu năm 7 tuổi, được phong chức Hồng Y năm 13 tuổi và lên làm GH lúc 38 tuổi. Y sống cuộc đời của một GH hết sức xa hoa, thường xuyên tổ chức dạ vũ với những mục giải trí đắt giá và trụy lạc. Trong thời gian này, tu sĩ Martin Luther đến Rome để hành hương với ý tưởng rằng Rome là thành phố thánh thiện (a holy city). Không ngờ, ông lại được chứng kiến một bữa tiệc tại triều đình Vatican có 12 cô gái vũ thoát  y. Tu sĩ Luther trở về Đức phát động phong trào chống đối Vatican và lập ra đạo Thệ Phản (Protestanisme: Đạo Tin Lành). Martin Luther tuyên bố: Không ai có thể tưởng tượng nổi ở Rome đầy dẫy những tội lỗi xấu xa. Người ta phải đến đó để nghe để thấy mới tin. Thật đúng như người ta vẫn thường nói: Nếu có một Địa ngục thì Rome đã được xây dựng trên cái địa ngục đó' .

Trong cuốn "Chứng nhân hy vọng" Hồng Y Nguyễn văn Thuận "lý luận" rằng: “Danh sách những người tội lỗi, loạn dâm như David, Tamar, Bathsheba v.v… trong gia phả của Jésus không được gây gương mù, gương xấu cho chúng ta, trái lại gia phả ấy tuyên dương mầu nhiệm Thiên Chúa”

Thật là tức cười! Người bình thường như chúng ta mà loạn dâm thì bị chê bai, khinh bỉ, nhốt tù có khi bị tử hình. Còn những người trong gia phả của Jésus mà loạn dâm thì coi đó là mầu nhiệm của Thiên Chúa ? Họ bị nhồi sọ, mù quáng đến mức đó thì hết chỗ nói. Họ chỉ nói lấy được, bất chấp lẽ phải.." [11]

Độc đáo nhất của các giáo hoàng của Giáo Hội La Mã không những ăn chơi đàng điếm, loạn luân dâm loàn mà còn cấp giấy cho nhân dân dưới quyền mở nhà chứa để lấy thỉền cho các ngài chi phí cho cuộc sống  xa hoa trụy lạc của các ngài. Sự kiện này  được sách Vicars of Christ nêu đích danh “Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) vừa loạn luân với chị hay em gái vừa cho phép "mở nhà chứa" để thu thuế”. Bản văn sử này như sau:.

"Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) can tội loạn luân (incest) ăn ở với chị (em) gái sinh ra đứa con trai tên là Pietro Riario và cũng là giáo hoàng đầu tiên cấp giấy hành nghề mở "nhà chứa" (nhà thổ)) tại Kinh Thành La Mã. Nhờ vậy mà  mỗi năm, ông thu hoạch được 30 ngàn tiền ducats. Ông cũng thâu hoạch được những khoản tiền khá lớn bằng cách đánh thuế các tu sĩ nào muốn công khai sống với tình nhân (bạn gái). Tệ hơn nữa,  ông còn làm tiền bằng cách bán giấy phép  cho các ông nhà giầu được quyền "an ủi" các bà có chồng xa nhà, v.v..." ["Sixtus ' favourite was Pietro Riario, whom the historian Theodor Griesinger believed was his son by his own sister.... Sixtus was the first pope to license the brothels of Rome; they brought him in thirty thousand ducats a year. He also gained considerably from a tax imposed on priests who kept a mistress. Another source of income was granting privileges to rich men "to enable them to solace certain matrons in the absence of their husbands." [12]

Những bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ bộ mặt thật vô cùng ghê tởm của các ông giáo hoàng của Giáo Hội La Mã , những người thường cao rao là đại  diện của Chúa Kitô ở trên thế gian này, tự phong l“không bao giờ lầm lẫn” và luôn luôn được tín đồ Da-tô xứng tụng là Đức Thánh Cha. Có ai ngời rằng các ông Đức Thánh Cha của họ lại có bản chất lừa bịp, phỉnh gạt tín đồ và đời sống trụy lạc, loạn luân, dâm loàn, nhơ nhớp khốn nạn như vậy!

III.- BÀN TAY BỐC HỔT VÀ VƠ VÉT
TÀI SẢN CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Thành tích thanh toán, tàn sát lẫn nhau để tranh đoạt quyền hành trong hệ thống quyền lực và những thành tích tàn sát nhân dân của Giáo Hội La Mã  được trình bày ở trên là nói về bàn tay máu của Giáo Hội La Mã. Nói đến bàn tay máu của Giáo Hội La Mã mà không nói đến bàn tay bốc hốt vơ vét của cải và tích lũy tài sản của Giáo Hội là một thiếu sót vô cùng lớn lao và sẽ mang tội vớei lịch sử. Nói về bàn tay bốc hốt và vơ vét  tài  sản, boc lột nhân dân… của Giáo Hội, sách sử đề ghi nhận rõ ràng. Sách Living World  History cho chúng ta biết sơ qua về một vài phương cách mà Giáo Hội sử dụng để   bóc lột nhân dân và sự giầu có của Giáo Hội như sau:

"Giáo Hội đã trở nên vô cùng giầu có. Lợi tức hàng năm của Giáo Hội còn nhiều hơn cả lợi tức của tất cả các nhà cầm quyền thế tục (Âu Châu) gom lại. Giáo Hội thường xuyên tiếp nhận nhũng khối tài sản lớn lao về đất đai (của các thế lực chính trị hay của các nhà giầu có dâng cúng). Ngoài ra, Giáo Hội còn thu thuế 10 phần trăm lợi tức của mỗi người dân bắt buộc phải đóng cho Giáo Hội." ("The Church had also grown immensely wealthy, its income exceeding that of all the important lay rulers put together. It was constant receipient of large gifts of land in addition to the tithe, or tenth part of income, that each member was required to pay to the Church.")  [13].

Sách Cách Mạng và Hành Động viết:

"Còn như đối với quý tộc và tu sĩ, lẽ dĩ nhiên là người nông dân phải chịu bao nhiêu thứ bóc lột. Muốn xay lúa mì cũng phải thuế, muốn nướng bánh mì cũng phải thuế, muốn hái nho làm rượu cũng phải thuế, muốn qua cầu qua đò cũng phải thuế, muốn tới chợ cũng phải thuế, muốn cho con bò ăn cỏ tại cánh đồng cỏ cũng phải thuế,muốn cất một ngôi nhà cũng phải thuế!   Nếu chim chóc hoặc muông thú của quý tộc tới phá hại mùa màng, các nông dân không được quyền săn giếtm chỉu được đánh trống đánh mõ đuổi đi mà thôi… Do đó, họ dần dần nhận thấy những quyền hành của Chúa là vô lý, và phôi thai những hoài vọng giải phóng." [14] 

Ngoài chủ trương cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải đóng thuế như trên, Giáo Hội còn  khai thác tình trạng ngu dốt và lòng mê tín của tín đồ để moi tiền của họ bằng trăm phương ngàn kế. Nếu nói hết những mánh mung của Giáo Hội dùng để moi tiền tín đồ thì phải sử dụng đến cả mấy ngàn trang sách cũng không nói hết được. Dưới đây là một trong những muôn ngàn mánh mung hết sức siêu việt này của Giáo Hội.

Vào năm 600, Giáo Hội dựa vào  tín lý "Chúa là Đấng tòan năng, tòan thiện, có mặt ở khắp mọi nơi", "kẻ nào tin có Chúa thì sẽ được lên Thiên Đường, kẻ nào  không tin có Chúa thì sẽ phải bị đày xuống Hỏa Ngục" của người Do Thái để bịa đặt ra Nơi Luyện Ngục hầu lừa gạt tín đồ. Chuyện đại bịp này được ông Charlie Nguyễn viết trong cuốn Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm với nguyên văn như sau:

"Kinh Cầu Hồn và Ngày Lễ Các  Linh Hồn xuất hiện do sự phát minh ra Lò Luyện Ngục của Giáo Hòang Gregory the Great (590-604) vào năm 600.

Kinh Thánh Cựu Ước cũng như Tân Ước chỉ nói tới Thiên Đàng và Hỏa Ngục, chứ không hề nói tới một nơi thứ ba để tạm giam giữ các linh hồn. Vào năm 600, Giáo Hoàng Gregory I (590-604) công bố giáo lý mới là một nơi thứ ba giam giữ các linh hồn để thanh tẩy hết mọi tội nhẹ trước khi vào Thiên Đàng, nơi đó Giáo Hoàng gọi là Nơi Luyện Ngục (Purgatory). Năm 1459, Công Đồng Florence (Pháp) đã biến phát minh này thành tín điều hiện hành  buộc tín đồ phải tin (an actual dogma). Nhờ có tín điều này, Giáo Hội Công Giáo đã trở thành giáo hội giầu nhất thế giới do tiền của giáo dân nộp cho cha cố nhà thờ để xin lễ cầu hồn cho các thân nhân quá cố. Ngòai ra, trong thời Trung Cổ, Vatican còn tổ chức nhiều đại lý ở khắp nơi để rao bán ơn đại xá của Tòa Thánh (indulgence sales) đã thu về  cho Rome những nguồn tài sản kếch sù gồm đủ  thứ vàng bạc nữ trang và báu vật. Nhờ vào những nguồn lợi lớn lao này, giáo hoàng và tu sĩ cao cấp ở Vatican đã có một lối sống hết sức xa hoa tội lỗi. Chính điều này là động lực trực tiếp thúc đẩy Martin Luther từ bỏ Công Giáo lập ra đạo Tin Lành. Ông nói: Những kẻ bán ơn tha tội là những kẻ phạm tội lớn nhất (Those who sold indulgence to sinners were great sinner themselves).

Việc thu tiền lễ cầu hồn là một thủ đọan làm tiền trắng trợn của bọn cha cố lưu manh. Tại Ái Nhĩ Lan là nước toàn  tòng Công Giáo có câu ca dao  nổi tiếng như sau: "High money high Mass; low money, low Mass; no money, no Mass." (Nhiều tiền lễ lớn, ít tiền lễ nhỏ, không tiền không lễ). Thành thử chỉ những linh hồn có thân nhân giầu có mới hy vọng được vào nước Thiên Đàng của Chúa mà thôi. Trải qua nhiều thế kỷ bị bọn cường quyền cấu kết với bọn tu sĩ lưu manh áp lực, bóc lột và lừa bịp, đám dân nghèo ở Âu Châu vào đầu thế kỷ 19 đã lên tiếng đòi hỏi Giáo Hội phải tổ chức một ngày lễ cầu hồn miễn phí chung cho những người thiếu may mắn vì không có thân nhân bỏ tiền ra xin lễ. Họ gọi những linh hồn này là những linh hồn bị bỏ quên trong Nơi Luyện Ngục (The forgotten souls in Purgatory). Năm 1856, Vatican đã đáp ứng lời yêu cầu của đám dân nghèo bằng cách lập ra ngày Lễ Các Linh Hồn (All Souls Day) vào ngày 2 tháng 11 hàng năm, tương tự như lễ cúng các cô hồn vào ngày rằm tháng 7 của ta.. Vì vậy, một số các bài kinh cầu hồn đã được sáng tác để đáp ứng nhu cầu này. Quả thật sự phát minh (bịa đặt) ra Nơi Luyện Ngục của Giáo Hoàng Gregory I (590-604), tiếp theo là các lễ cầu hồn, đã biến Núi Sọ (Golgotha) của Chúa thành Núi Vàng (Golconda( của Giáo Hội Công Giáo La Mã." [15]

Sách The Decline And Fall Of The Roman Church  nói về phương cách  kinh tài  của Giáo Hội bằng thủ đoạn “bán thánh” (Simony) và khai thác cái huyền thoại "Nơi Luyện Ngục" để moi tiền của tín đồ với nguyên văn như sau:

"Bốn năm trước, Giáo Hoàng Leo X  (1513-1521) thương thuyết với ông Hoàng Albert và đạt được thỏa hiệp rất tinh vi và phức tạp, nhưng cả hai bên đều có lợi. Theo thỏa hiệp này,  Ông Hoàng Albert được kiêm nhiệm ba chức giám mục cai quản ba giáo khu Mainze, Magdeburg và Halberstag. Thực ra, đây là một việc làm bất chính và bất hợp pháp, vì một người cai quản cả ba giáo khu là vi phạm giáo luật và là một trọng tôi. Nhưng Giáo Hoàng Leo X cho phép làm như vậy để ông nhận được một khoản tiền 21 ngàn ducats về việc ban cấp cho ông Hoàng Albert được cai quản cả ba giáo khu này, và một khoản tiền khác nữa là 20 ngàn  ducats về việc để cho ông Hoàng Albert được tiếp tục cai quản ba giáo khu này một cách bất hợp pháp. Dĩ nhiên là ông Hoàng Albert đã cho Giáo Hoàng Leo X biết   là ông ta không có tiền, nhưng có thể vay số tiền này của nhà ngân hàng Jacob Fugger. Giáo Hoàng Leo phải cho phép ông Hoàng Albert bán một món hàng đặc biệt là giấy xá tội trong cả ba giáo khu để ông lấy tiền trả nợ cho nhà ngân hành Fuggers. Giá bán  giấy xá tội từ một nửa tiền vàng florin (cho người rất nghèo) tới  3 (ba) tiền vàng florins (cho các ông thày tu khất thực), 5 (năm) tiền vàng florins (cho các ông tiến sĩ hay bác sĩ) và cao hơn nữa  tới 25 tiền vàng florins cho những người trong giới quý tộc và hoàng gia.

Để làm cho tư thế của ông có thêm uy tín như là một nguồn tình thương yêu đối với linh hồn tín đồ đang chịu đau khổ trong Nơi Luyện Tội, ông Hoàng Albert phải có một cái gì đặc biệt. Đó là công trình sưu tầm các thánh tích của ông. (Dĩ nhiên, tất cả là đồ giả): một nạm  cỏ khô (nói là) lấy từ mang cỏ đêm Giáng Sinh đầu tiên khi Chúa hài đồng mới chào đời, bốn (4) sợi tóc14 miếng vải quần áo của Đức Bà Đồng Trinh, một (1) sợi râu của ông Jesus, một cái đinh lấy từ cây thánh giá đóng ghim ông Jesus lúc bị  hành hình, và khoảng 19, 093 mảnh xương các thánh và những người tử đạo. Bất kỳ người nào - từ ông hoàng cho đến những người bần cùng -, nếu trả tiền  vào cửa đề sùng kính những thánh tích này thì có thể làm giảm thời gian bị  giam cầm ở trong Nơi Luyện Ngục của những linh hồn   những người thân thương từ  1,902,202 năm và 270 ngày...."

["Four years ago, Leo negotiated a vey delicate, intricate, but mutually profitable agreement with Albert, prince-archbishop of three dioceses, Mainze, Magdeburg, and Halberstag. Actually, it was illegal, a felony violation of church law, to hold three dioceses at one time. But Leo permitted it - for a consideration: 21,000 ducats for being granted the dioceses; 20,000 ducats for being allowed to keep them illegally. Albert, of course, told Leo he was penniless, but he borrowed the money from the Jacob Fugger banking house. Leo allowed Albert to sell a special inventory of indulgences in all three dioceses, in order to pay back the Fuggers. Price of indulgences went from half a gold florins (for the very poor), to three gold florins (for mendicans), five gold florins (for doctors), and so on to twenty-five gold florins for nobility and royalty."  "To enhance his position as a source of mercy for the faithful suffering in Purgatory, Prince Albert had something special, his collection of relics (all of course, fraudulent): a wisp of straw from the manger where the baby Jesus lay on the first Christmas night, four hairs from the Virgin's head, fourteen  pieces of her clothing, a strand of Christ's bears, a nail from Christ's cross, a little over 19,093 sacred bone parts of saints and matyrs. For venerating all this  and a payment, anyone - prince or pauper - could shorten  the stay of any close friend of relative in Purgatory by 1,902,202 years and 270 days. .. [16]

Nhờ chính sách cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải đóng hàng trăm thứ thuế cho Giáo Hội, nhờ  những đoạn khai thác tình trạng ngu dốt của tín đồ bằng việc bịa đặt ra Nơi Luyện Ngục, chế biến ra những thánh tích giả để bán vé cho tín đồ vào chiêm ngưỡng để hy vọng được giảm tội cho thân nhân quá cố, Giáo Hội đã bốc hốt và tích lũy được những khối tài sản kếch xù   ngoài sức tưởng tượng của loài ngườ. Sự giầu có của Giáo Hội phải nói là vô địch trong lịch sử nhân loại.  Sự kiện này được bản Tuyên Cáo 6 của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh được công bố ngày 15/6/1999, trong đó  có một đoạn viết như sau:

"Vào thế kỷ 15 và 16, không kể đất đai cát cứ, chỉ nguyên bất động sản thuộc loại kiến trúc của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu và Địa Trung Hải, nếu đặt gần nhau, chiều dài bằng (hay)  dài hơn "Vạn Lý Trường Thành" của nhà Tần bên Trung Quốc, nhưng bề dầy thì dầy hơn kiến trúc của nhà Tần gấp nhiều lần. Nông nô hay tá điền, lao nô hay công nhân phục vụ cho Giáo Hội có thời, có nơi lên đến 1/3 dân số đất nước của các vua chúa thời phong kiến. Ngoài ra, Giáo Hội còn thiết lập một hệ thống thuế vụ riêng, một hệ thống pháp đình riêng, cả hai độc lập, ngoài quyền kiểm soát của các ông hoàng đế và các ông vua. Khối lượng "mammom" (tài sản) của Giáo Hội là khối tài sản thủ đắc khổng lồ, vô địch thiên hạ cổ kim. Một Giáo Hội "kinh bang tế thế" thành công vẻ vang huy hoàng như thế, người ta không thể nói đến dân chủ." [17] 

Trong bức tâm thư của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh gửi các linh mục Việt Nam vào tháng 5/1999, trong đó có một đoạn nói rõ những khối tài sản khổng lồ mà Giáo Hội đã cướp đoạt được tại một số quốc gia Âu Châu. Nguyên văn đoạn này như sau:

“Giáo Hội tự định nghĩa mình là “Một Mầu Nhiệm”,   tự gọi mình là “Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người”...Nhưng tài sản của Giáo Hội trước thời cải cách Luther – Erasmus, tại Đức là 1/5 cả nước, tại Pháp là 1/7 cả nước, tại Tây Ban Nha là 1/6 cả nước, tại Ý là 1/4 cả nước... Đó  là quyền lực của mammon (mamona) mà Đức Giêsu Kitô giảng dạy trong Tin Mừng: “Người là tôi  tớ cho mamon (của cải) vào nước Trời khó hơn lạc đà chui qua lỗ chôn kim”, thế mà “hiền thê của Đức Kitô” liên tiếp trong mười mấy thế kỷ giầu nhất thiên hạ Đông Tây. [18]

Những phần trình bày trên đây cho chúng ta  một cái nhìn rõ rảng về bàn tay máu và bàn tay vơ vét của Giáo Hội La Mã.

          Bàn tay Giáo Hội, ôi bàn tay!
          Bàn tay vơ vét bàn tay giết người
 
IV.-  BÀN TAY MÁU VÀ BÀN TAY VƠ VÉT
CỦA GIÁO HỘI LA MÃ VƯƠN TỚI VIỆT NAM

Bàn tay máu và bàn tay vơ vét của Giáo Hội La Mã ở Âu Châu đã được phơi bầy rõ ràng cho mọi người cùng thấy ở trong các phần trình ở trên. Phần trình bày dưới sẽ nói về bàn tay máu và bàn tay vơ vét của Giáo Hội vươn tới Việt Nam. Nếu ở Âu Châu, Giáo Hội dùng chiêu bài “nhân danh Chúa” để tàn sát nhân dân dưới quyền và vơ vét tài của nhân dân, thì ở Việt Nam i chiêu bài “nhân danh Chúa” được thay thế bằng bằng chiêu bài “khai hoá văn minh”, “đem Tin Mừng  cùng với “Hồng Ân Thiên Chúa” để phỉnh gạt dân ta rồi khi có quyền hành Giáo Hội mới phóng tay tàn sát lương dân, cướp đoạt tài nguyên, bốc hốt và vơ vét của cải để tích lũy cho đầy túi tham của Giáo Hội.

Kể từ khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào năm 1862 và chiếm được cả nước Việt Nam vào năm 1884, Vatican và Pháp trở thành chủ nhân ông nước ta cho đến năm 1940 khi quân Nhật đem quân vào uy hiếp và hất cẳng ra khỏi chính quyền vào 8 giờ tối ngày 9/3/1945. Sau đó, ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15/8/1945, hai đế quốc này lại cấu kết với nhau đem quân viễn chinh đổ bộ vào Sàigòn mưu đồ tái chiếm Đông Dương khiến cho nhân dân phải lao vào cuộc Kháng Chiến 1945-1954 để đòi lại chủ quyền cho dân tộc.

Trong suốt chiều dài lịch sử cấu kết với Pháp can thiệp vào Việt Nam,  Giáo Hội vừa đóng vai chủ động vận động Pháp xuất quân đánh chiếm nước ta, vừa đưa ra kế hoạch “diệt tận gốc, trốc tận rễ” Nho giáo[19],  vừa làm cố vấn cho các sĩ quan chỉ huy quân sự trong các chiến dịch tấn công và tiêu diệt các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của dân tộc, vừa ra lệnh cho tín đồ bản địa trực tiếp chiến đấu bên cạnh liên quân Pháp – Vatican chống lại tổ quốc Việt Nam.  Tất cả những sự kiện trên đây để được sách sử ghi lạ rõ ràng. Riêng về vài trò của tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt chiến đâu bên cạnh liên quân Pháp – Vatcan được Linh-mục Trần Lục fghi lại trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm với nguyên văn như sau:

“Cho tới ngày chết, 25-4-1895, Giám-mục Puginier chẳng bỏ qua bữa nào mà không hoạt động để củng cố thêm vị trí nước Pháp tại xứ sở con nuôi này của ông. Người ta đang giữ hàng chục điệp văn và bản tin tình báo mang chữ ký của ông trong văn khố của Bộ Thuộc Địa. Và một phần nhờ ở các bản tin đó mà quân Pháp đã có thể đập tan cuộc kháng chiến vũ trang của người Việt Nam. Cuộc kháng cự hùng mạnh nhất đã xẩy ra tại Ba Đình, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Bề ngoài, đó là một loại làng được biến thành căn cứ, được lũy tre bảo vệ, có thành có đường hầm và hệ thống giao thông hào  được bố trí rất thông Minh. Tinh thần các chiến sĩ lúc đó rất cao. Nhằm "bình định" cứ điểm này, quân Pháp đã gửi tới một lực lượng gồm 2250 tên lính, 25 đại bác, 4 pháo hạm dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Metzinger. Cuộc tấn công vào ngày 16-12-1886 bị đẩy lui. Quân Pháp phải tổ chức bao vây để tìm hiểu chiến thuật mới. May cho chúng, vì có một sĩ quan trẻ, Đại Úy Joffre (sau này là thống chế Pháp trong thời Đệ Nhất Thế Chiến) nghĩ tới việc nhờ Linh-mục Trần Lục, quản xứ Phát Diệm và là Phó Vương, tiếp trợ cho cuộc bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông linh-mục này đã nhận phép lành của Giám-mục Puginier, rồi đi tiếp viện cho quân Pháp với 5000 (5 ngàn) giáo dân. Ba Đình thất thủ".[20]

Sách Công Giáo Chính Sử ghi lại một đoạn văn trong cuốn Catholicisme et Sociétés Asiatiques của hai tác giả  Alain Forest và Yoshiharu Tsuboi với nguyên văn như sau:

Giám mục Puginier viết rằng: “Không có  các thừa sai và giáo dân Ki-tô thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ. Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki-tô, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào tình trạng không thể hoạt động được gì và sẽ hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ cũng sẽ bị nguy hại.”

(“Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit  Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes. La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force. En effet, sans les missionnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d’ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignments, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits a l’impossibilité d’agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres. Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.”)[21]

Trong thời gian chiến tranh, vì được nhồi sọ “phải tuyệt đối vâng lời và triệt để tuân hành của Tòa Thánh Vatican”, tín đồ Da-tô người Việt trong quân đội Pháp cũng như trong các đạo quân thập tự dưới quyền chỉ huy của các ông linh mục xuất phát từ các làng đạo hay từ các giáo khu luôn luôn có những hành động cực kỳ tàn ngược và hết sức dã man như đốt nhà, đốt chùa, phá đình, phá miếu, cướp của, giết người, hãm hiếp đàn bà con gái, đào mả cụ Phan Đình Phùng lấy xác của Người đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng bắn đi cho mất di cốt để trả thù, mổ bụng nạn nhân lấy mật hòa với rượu, lấy gan đem nướng ngồi nhậu hả hê với nhau[22], v.v….. Những hành động của các toán lính đạo Da-tô người Việt quả thật đã thể hiện đúng như tinh thần sắc lệnh Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455) như đã trình bày trong Chương 4, chú thích 80.

Sau đó, trong những năm 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam, nhờ có siêu cường Hoa Kỳ giúp đỡ và che chở, Giáo Hội còn có  rất nhiều thành tích giết người và cướp đoạt tài sản của nhân dân ta một cách vô cùng trắng trợn và hết sưc ghê gớm. Vấn đề này sẽ  được trình bày đầy đủ trong Tập 2 của bộ sách này.

Để cho độc giả dễ dành nhìn ra  những việc làm gian tham tàn ngược của Vatican tại Việt Nam trong thời gian từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975, người viết xin đặt ra vấn đề là Liên quân Pháp-Vatican và các đạo quân thập tự bản địa (lính đạo người Việt) đã:

1.-  Giết hại và tàn sát bao nhiều trăm ngàn nạn nhân từ khi Liên Quân Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican tiến vào đánh chiếm và thống trị Việt Nam từ năm 1858 cho đến tháng 7/1954?

2.- Trong thời gian từ năm 1862 cho đến tháng 7 năm 1954, riêng Giáo Hội La Mã đã cướp đoạt của nhân dân Việt Nam bao nhiêu ruộng đất canh tác?  Bao nhiêu của chìm của nổi  khác?

3.- Là thành viên trong chính quyền bảo hộ, Giáo Hội La Mã đã bóc lột nhân dân Việt Nam bằng chính sách thuế khóa và sưu dịch như thế nào?

4.- Trong thời gian này, Giáo Hội La Mã đã cưỡng bách bao nhiêu trăm ngàn lao nô đi phục dịch cho các công việc xây cất các nhà thờ và các công trình kiến trúc khác như chủng viên, tu viện, các trường tiểu học, trung học, nhà thuơng của Vatican?

5.- Tình trạng làm việc và đời sống của những lao nô này như thế nào?

Chúng ta hãy  phân chia khoảng thời gian này ra làm:

1.- Thời kỳ 1858-1945

2.- Thời kỳ 1945-1954

3.- Thời kỳ 1954-1975 (sẽ được trinh bày đày đủ trong Tập 2)

A.-  THỜI KỲ 1858-1945

Trong thời kỳ này:

1.-    bao nhiêu nạn nhân bị giết hại do việc các nhà truyền giáo của Giáo Hội La Mã và tín đồ Gia-tô trong đạo quân thứ 5 tại Việt Nam đưa đường chỉ lối và làm nội ứng cho Liên Quân Xâm Lược Pháp - Vatican trong những chiến dịch tấn công quân đội triều đình nhà Nguyễn và  trong những chiến dịch truy lùng và tiêu diệt các lực lượng kháng chiến võ trang của nhân dân ta suốt từ năm 1858 đến tháng 3 năm 1945?

2.- Có bao nhiêu nạn nhân bị  cưỡng bách bắt đi làm lao nô để phục vụ cho các công trình xây cất  hàng ngàn ngôi nhà thờ Da-tô và các công trình kiến trúc khác của Giáo Hội La Mã tại Việt Nam trong thời gian