giaodiem copyright
posted: 02.01.2006

   Nguyễn Mạnh Quang

CÓ BAO NHIÊU TIỀN BẠC CHÂU BÁU
BỊ PHÁP, VATICAN VÀ TÍN ĐỒ DA TÔ NGƯỜI VIỆT
ĐÃ ĂN CƯỚP TRONG THỜI KỲ 1858-1954?
 Phần III Chương 13

Phần này sẽ nói về tội ác giết người chiếm đọat tài sản của Giáo Hội tại phạm trường Việt Nam trong thời kỳ 1858-1954. Riêng về những việc làm chông lại dân tộc tổ quốc Việt Nam trong những năm 1954-1975 sẽ được trình bày đẩy đủ ở trong Tập 2).

 Như đã trình bày trong Chương 6, Tòa Thánh Vatican có chủ trương khống chế hết tất cả mọi pham vi sinh họat trong xã hội để chi phối và cưỡng bách nhân dân làm nô lệ cho Giáo Hội. Lòng tham lam của Vatican quả thật là không có đáy. Đồng thời, Giáo Hội lại còn tổ chức một hệ thống mật vụ vô cùng tinh vi để rình mò dò xét nhân dân một cách hết sức dã man. Dã man ở chỗ Giáo Hội sáng chế ra mánh mung đòi hỏi tín đồ “phải xưng tội” và sử dụng ngay cả những người thân thương trong gia đình để xoi mói vào những việc làm riêng tư trong đời sống vợ chồng và cha mẹ với con cái trong gia đình. Trong lịch sử nhân loại, chưa có một thế lực chính trị nào bạo ngược và dã man như Giáo Hội La Mã.

Với chủ trương dùng bạo lực để nắm trọn cả thần quyền và thế quyền vào trong tay, rồi chiếm đoạt hết tất cả các phương tiện sản xuất và kiểm soát hết tất cả những phạm vi sinh hoạt của đời sống con người trong xã hội, Vatican trở thành “một thứ siêu đế quốc thực dân phong kiến”, Giáo Hòang trở thành một thứ “hòang đế của tất cả các ông hoàng đế trong các quốc gia theo đạo Da-tô”, và Giáo Hội La Mã trở thành một thế lực “giầu có ngoài sức tưởng tượng của loài người”. Sư giầu có của Giáo Hội đã được trình bày đầy đủ trong Chương 11, Mục III với đề là “Bàn Tay Bốc Hốt, Vơ Vét Của Cải và Tích Lũy Tài Sản của Giáo Hội La Mã”.

Tất cả những gì Giáo Hội đã làm ở Âu Châu trong suốt thời Trung Cổ kéo dài cho đến Cách Mạng Pháp 1789, ở Châu Mỹ La Tinh, ở Phi Luật Tân, ở Châu Phi, v.v… đều là do cái bản chất bạo ngược và tham tàn mà ra cả. Vì là bản chất, cho nên từ ngàn xưa các đặc tính bạo ngược vày tham tàn này của Giáo Hội vẫn chưa bao giờ thay đổi, đúng như câu nói “Giang sơn dị cải, bản chất nan di” của người Trung Hoa. Cũng vì thế mà khi bàn tay quyền lực của Giáo Hội La Mã vươn tới Việt Nam thì cái bản chất bạo ngược và tham tàn này lại hiện ra giống y như nó đã hiện ra ở Âu Châu, ở Châu Mỹ La-tinh, ở Luật Tân, ở Châu Phi và ở nhiều nơi khác.

KHI BÀN TAY QUYỀN LỰC CỦA VATICAN
VƯƠN TỚI CHÂU MỸ LA TINH

Tín đồ Da-tô được Giáo Hội dạy rằng phải triệt để vâng lời và tuân hành những lời dạy dỗ của Giáo Hội. Quân lính trong các đoàn quân thập tự (crusades) của Giáo Hội hay trong các đoàn quân viễn chinh của Liên Minh Thánh (Holy Alliance) của Giáo Hội đều là những tín đồ “ngoan đạo” lẽ nào lại không triệt để tuân hành lời dạy của Giáo Hội trong sắc lệnh Romanus Pontifex trên đây? Bởi thế, trong bất kỳ quân đội nào có liên minh với Giáo Hội La Mã đều là những quân ăn cướp tàn bạo nhất và dã man nhất trong lịch sử loài người. Cái gương ăn cướp của đạo quân thập tự Âu Châu ở vùng Palestine và miền Nam nước Pháp trong thời Trung Cổ cho chúng ta thấy rõ cái bản chất ăn cướp ưa thích giết ngiười đoạt của của Giáo Hội La Mã và của bất kỳ tín đồ Da-tô ngoan đạo nào của Giáo Hội. Câu chuyện nhà truyền giáo và đạo quân thập tự Tây Ban Nha giết người đoạt của ngay trong khi cầm thánh kinh rao giảng và truyền đạo cho nhà lãnh đao xứ Péru dưới đây nói lên các bản chất bạo ngược và dã man của Giáo Hội La Mã và của tín đồ Da-tô ở bất kỳ thời đại nào và bất kỳ nơi nào cũng không thay đổi. Câu chuyện này được ghi nhận trong sách This Is America’s Story với nguyên văn như sau:

“Hàng ngàn quan quân xúm quanh mình, vua Atahualpa (bộ tộc Inca) chễm chệ ngồi trên chiếc ngai vàng bằng vàng thiệt… Người Tây Ban Nha bèn nẩy ra ý kiến biến cải vua Atahualpa thành tín đồ Gia-tô và thôi thúc ông ta tin nhận Chúa. Atahualpa lắng nghe lời vị linh-mục thuyết giảng, nhưng không một mảy may xiêu lòng. Ông ta chỉ lên mặt trời và nói rằng "Thượng Đế của ta còn đang ngự trị ở trên trời cao và đang thương mến nhìn xuống đàn con của Ngài ở dưới thế gian này." Rồi ông ta liệng cuốn Thánh Kinh mà vị linh-mục vừa mới trao cho ông ta. Thật là quá đáng đối với người Tây Ban Nha mộ đạo. Pizarro hạ lệnh khai hỏa. Vua Atahualpa kinh hoàng lặng nhìn người Tây Ban Nha ngoan đạo tàn sát hàng ngàn quần thần và quân sĩ của ông ta. Ngay khi đo, Pizarro bắt Atahualpa giam lại. Thấy người Tây Ban Nha ngoan đạo này ham muốn vàng hết sức,  ông vua bị cầm tù quay ra mà cả với Pizarro để được tự do. Atahualpa đứng thẳng người vươn tay lên cao hết tầm tay  của ông ta mà hứa rằng nếu được thả ra thì ông ta sẽ biếu Pizarro   một số vàng có thể chưa đầy căn phòng này. Pizarro đồng ý. Những ngày kế tiếp, dân Da Đỏ lũ lượt khuân vác báu vật bằng vàng từ các lâu đài, miếu điện đem đến chất chứa cho đầy căn phòng. Số vàng bạc châu báu này trị giá vào khoảng 15 triệu Mỹ kim. Atahualpa đã thực hiện lời hứa, nhưng Pizarro lại không hề nghĩ tới việc giữ lời hứa. Đối với Pizarro, mà cả chỉ là một cách đơn giản để dễ dàng thâu tóm được vàng của bộ tộc Inca. Sau đó, ông tìm cách sát hại Atahualpa bằng cách hạ lệnh cho tên lính dưới quyền bóp cổ cho chết…. Tuy nhiên, thế rồi có nhiều sự ganh ghét tị hiềm và âm mưu  tranh giành chiến lợi phẩm (vàng bạc châu báu đã của ăn cướp được) trong những người Tây Ban Nha ngoan đạo này. Không bao lâu, Pizarro bị ngay chính những người Tây Ban Nha Gia-tô đã hết lòng Tin Chúa này sát hại…" 

(“The ruler, Atahualpa, with thousands of his subjects gathered about him, sat on a throne of gold in the great square. We may well imagine that he did not fear this small band of white men with their weapons, for he had never before seen a gun. The Spaniards tried to persuade Atahualpa to become a Christian and a subject of the king of Spain. A priest talked to him through an interpreter, telling him about the Christian religion and urging him to accept the Christian God. Atahualpa listened, but was not impressed. He pointed to the sun and said, “My god still lives in the heavens and looks down upon his children.” Then he dashed to the ground the Bible which the priest had offered him. This greatly angered the religious Spaniards and Pizarro gave signal to fire. While the Inca looked on in horror from his golden throne, the Spaniards massacred thousands of his subjects. Pizarro took Atahualpa prisoner.

When the royal prisoner saw how eager the Spaniard were for gold, he made a bargain with Pizarro for his freedom. Touching the wall of a small room as high  above his head as he could reach, Atahualpa promised to fill the room with golg if his captors would release him. Pizarro agreed, and during the days  which followed, a steady stream of Indians entered the room with gold objects from palaces and temples. At last the room was filled. This was indeed a king’s ransom! The room contained  treasure worth about fifteen million dollars in gold. Atahualpa had carried out his promise, but Pizarro had no intention of keeping his promise. For him the bargain was simply an easy way to get the Inca gold. Later on, he found an excuse to kill Atahualpa, who was stramngled to death by the Spaniards….. There also was much jealous and plotting among the Spaniards themselves. Pizarro died as violently as he had lived, for he was finally assassinated by his own countrymen.”) [1]

Chuyện cướp của giết người trên đây xẩy ra vào năm 1532. Đọc bản văn sử trên đây, chúng ta thấy có một điều khôi hài là mới trước đó, một ông linh-mục cùng đi với Pizarro tay cầm Thánh Kinh, miệng đọc Thánh Kinh và thuyết phục Atahualpa nên tin Chúa theo đạo Da-tô. Atahualpa không theo, thì chính ông linh-mục này cùng với Pizarro cướp đoạt vàng bạc châu báu của Atahualpa, rồi bóp cổ Atahualpa cho chết  một cách ngon lành. Không hiểu cái đạo lý trong Thánh Kinh của Giáo Hội La Mã dạy người ta như thế nào mà các nhà truyền giáo của Giáo Hội mang Thánh Kinh đi giảng đạo và truyền giáo lại có những hành động bạo ngược và dã man đến như vậy? 

KHI BÀN TAY QUYỀN LỰC CỦA VATICAN
VƯƠN TỚI CROATIA

Phần trình bày ở trên đã làm nổi bật việc Giáo Hội La Mã đem “Tin Mừngvà “Hồng Ân Thiên Chúa” với chiêu bài “khai hóa văn minh” cho các dân tộc Châu Mỹ La-tinh. Chuyện xẩy ra vào năm 1532. Hơn 500 sau, nhân dân Croatia cũng được Giáo Hội La Mã “khai hóa văn minh” bằng những món quà “Tin Mừng” và “Hồng Ân Thiên Chúa” của Giáo Hội La Mã mang tới.  Sự thể như thế nào đều được sách sử ghi lại rõ ràng đầy đủ.

Theo sách sử, khởi đầu vào năm 1941, nhờ sự cấu kết với phát Xít Ý của nhà độc tài Benito Mussolini và Đức Quốc Xã của Adolf Hitler, Giáo Hội La Mã đã thành công đưa một người tín đồ của Giáo Hội có tên là Ante Pavelich về Croatia cầm quyền và thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô là tay sai cho Giáo Hội. Kể từ đó cho đến cuối tháng 4/1945, chính quyền và quân đội của chế độ đạo phiệt này dồn nỗ lực vào việc truy lùng, bắt giam, tra tấn và sát hại những nhóm dân thuộc các hệ phái tô giáo khác và cướp đoạt tài sản của họ.  Sử gia  Avro Manhattan kể lại như sau:

"Trong thời kỳ Croatia là quốc gia độc lập và lấy đạo Gia Tô làm quốc giáo, có trên 700 ngàn đàn ông, đàn bà và trẻ em bị giết hại. Nhiều người bị hành hình, bị tra tấn, bị bỏ cho chết đói, bị thiêu sống và thiêu cho đến chết. Hàng trăm người bị cưỡng bách phải theo đạo Gia Tô (Thiên Chúa La Mã). Các ông linh-mục của Giáo Hội La Mã làm quản giáo tại các trại tù tập trung; nhiều tu sĩ khác của Giáo Hội là sĩ quan trong các đơn vị quân đội đã phạm tội ác tàn bạo. 700 ngàn trong tổng số dân có mấy triệu người tức là khoảng 1/3 dân số bị các đoàn lính dân quân Gia Tô giết hại." (During the existence of Croatia as an independent Catholic State, over 700,000 men women and children were perished. Many were  executed , tortured, died of starvation, burned alive, or were burned to death. Hundreds were forced thoic. Catholic padres ran concentration camps; Catholic priests were officers of the military corps which committed such atrocities.  700,000 in a total population of a few million, proportionally, would be asif one-third of the USA population had been exterminated by a Catholic militia.” [2]

"Ante Pavelich, người lãnh đạo mà cũng là người chủ mưu và tạo nên quốc gia Croatia độc lập theo đạo Gia Tô. Ông ta đã dùng chính sách khủng bố cũng như tinh thần cực đoan về chính trị và lòng cuồng đạo với tất cả những tàn bạo hơn cả hai nhà độc tài bảo trợ cho ông ta là Benito Mussolini và Adolf Hitler. Trước khi nước Nam Tư bị phân hóa, ông ta là người chủ mưu trong vụ ám sát vua Alexander (của nước Nam Tư) và các vụ giết hại các nhà chính trị khác. Nhờ vậy mà ông ta đã tạo nên được quốc gia Ustashi Croatia độc lập siêu Gia Tô giáo và thiết lập một chế độ độc tài siêu hơn cả chế độ độc tài Đức Quốc Xã. Ông ta được Giáo Hoàng Pius XII che chở và giúp đỡ bằng các phương tiện ngoại giao và tài chánh nhằm để đạt được cứu cánh của Giáo Hoàng (tức là của Giáo Hội La Mã). Khi quốc gia  Ustashi Croatia sụp đổ (vào đầu năm 1945), Pavelich chạy vào ẩn trốn ở trong Tòa Thánh Vatican, rồi giả dạng như là một tu sĩ. Sau đó, ông ta trốn sang nước Á Căn Đình."   (Ante Pavelich, the inspirer, creator and leader of the independent Catholic State of Croatia. He employed terrorism, political extremism and religious fanaticism with such ruthlessness as to oustmart even his two main fascist protectors, Benito Mussolini and Adolf Hitler. He was the brain behind the assassination of King Alexander and other political murders which preceded the disintegration of Yugoslavia and thus the erection of his super-nazi, super-Catholic independent Ustashi Croatia. He enjoyed the protection of Pope Pius XII, who helped him via diplomatic and monetary means to achieve his ultimate objective. When Ustashi Croatia collapsed, Pavelich hid in the Vatican, then, disguised as a monk, fled to Argentina.” [3]   

 Tờ tuần báo Việt Nam Mới phát hành tại Seattle, Washington, trong hai số liên tiếp 411 ra ngày 27/11/1998 và 412 ra ngày 4/12/1998, chuyển dịch một bài báo từ tuần báo US News & Report, nói về bàn tay máu và bàn tay vơ vét của Giáo Hội La Mã ở quốc gia nạn nhân này của Giáo Hội:

"Một Khối Lượng Vàng Khổng Lồ Của Đức Quốc Xã Đã Được Giấu Ở Rome? Trong suốt thời gian xẩy ra Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai, Đức Quốc Xã đã thực hiện vô số những vụ cướp bóc và chuyển số tài sản khổng lồ này sang nhiều nước. Mới đây người ta đã phát hiện thêm rằng Đức Quốc Xã có thể giấu vàng ở cả Tòa Thánh La Mã. Sự việc xẩy ra như thế nào?

Trong những ngày tháng kinh khủng của chiến tranh - kết thúc bằng 56 người thân của mình bị giết trong các trại tập trung, có hai ngày mà Eta Najfeld không bao giờ quên. Ngày thứ nhất là 10-4-1941, khi Najfeld (lúc đó là cô sinh viên Do Thái 25 tuổi) nhìn thấy hàng đoàn người đứng hai bên đường phố Zagreb để đón chào bọn Ustasha - đảng Phát Xít cực đoan mà bọn Đức Quốc Xã vừa dựng lên ở "quốc gia độc lập" Croatia. Ngày thứ hai xẩy ra ba tháng sau đó, khi một nhóm lính Ustasha xộc vào cửa hàng cô và lấy sạch mọi thứ. Trong cùng thời kỳ này, Ustasha tổ chức vơ vét tại nhiều nơi khác và nạn nhân luôn luôn là người Do Thái. Sau chiến tranh, những người sống sót như Najfeld đã nghĩ đến việc truy tìm tài sản của mình, nhưng họ không biết tìm ở đâu. Cách đây hơn một năm, các vụ điều tra liên tục tiến hành và người ta đã lần ra địa chỉ giấu tài sản của Đức Quốc Xã. Nhiều ngân hàng Thụy Sĩ, Thụy Điển, Bồ Đào Nha đã lần lượt mở hồ sơ lưu trữ. Chỉ một nơi hoàn toàn lặng im: Tòa Thánh Vatican.

Đầu tháng 3-1998, Vatican công bố chính thức yêu cầu trừng phạt vài thành viên trong Giáo Hội đã không làm tròn trách nhiệm trong việc giúp đỡ người Do Thái trong hồi Chiến Tranh Lần Thứ Hai. Tuy nhiên, Vatican không nhắc đến việc càng ngày càng có nhiều  lời kêu gọi mở cuộc điều tra về mối liên quan của một số giáo sĩ Croatia và bọn Đức Quốc Xã trong việc tẩu tán vàng sang Rome. Hồ sơ lưu trữ của Hoa Kỳ cũng như tại nhiều nước Âu Châu cho thấy rằng nhiều giáo sĩ Croatia đã trực tiếp giúp bọn Ustasha đem vàng sang Ý và rất có thể đã giấu ở Rome. Một phần trong số tài sản đánh cướp này được dùng để hỗ trợ cho các chuyến đào thoát của bọn tội phạm chiến tranh Croatia trốn sang Nam Mỹ. "Chúng tôi hoàn toàn không có ý quy kết Vatican trong việc này - Elan Steinberg, Giám Đốc Điều Hành Hội Đoàn Do Thái Thế Giới, nói. Nhưng sự im lặng của Vatican khiến chúng tôi hoang mang".

Tháng 4-1998, một nhóm điều tra đặc biệt dưới sự chỉ huy của Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Stuart Eizenstat đã xem xét vai trò của vài nước trung lập hồi thập niên 1940. Trong số tài liệu được tiết lộ, người ta thấy có bản báo cáo tình báo năm 1944, cho biết có một vụ chuyển tiền thông qua một ngân hàng Thụy Sĩ, từ ngân hàng Reichsbank ở Berlin đến Vatican. Tuy có thể đây là một vụ chuyển tiền bình thường giữa Giáo Hội Đức và Tòa Thánh Vatican, nhưng nó cho thấy có nhiều điểm tương tự như các vụ chuyển vàng của Đức Quốc Xã đến hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ cũng thông qua một nước trung lập. Mối liên quan của Phát Xít Đức và Giáo Hội Croatia như thế nào?

Từ năm 1941 đến năm 1945, bọn Ustasha đã giết chết khoảng 500,000 (500 ngàn) người Serbia, Do Thái và dân du mục gốc Romania. Riêng tại Zagreb (Croatia), chúng đã đưa ra cái giá chuộc mạng cho tất cả dân Do Thái ở đây là 1,000 (một ngàn) kí lô vàng. Sau khi lấy được vàng, Ustasha chở các nạn nhân đến các trại tập trung và giết sạch. Trong những ngày đầu của Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai, Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Croatia đã ép những người Serbia vốn theo Chính Thống Giáo phải cải đạo. Thậm chí các cha giòng Francisco còn phân phát truyền đơn của Ustasha. Một số giáo sĩ Nam Tư sau này bị đưa vào danh sách tội phạm chiến tranh đã trở thành những bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy sự liên quan giữa họ và Đức Quốc Xã. Trong đó phải kể đến Dragutin Kamber - người từng ra lệnh giết gần 3,000 (3 ngàn) người Serbia theo Chính Thống Giáo; Giám-mục Ivan Saric thuộc địa phận - được mệnh danh là "kẻ treo cổ người Serbia"; Giám-mục Gregory Rozman - người từng bị truy lùng gắt gao. Một phiên tòa tội phạm Nam Tư thiết lập năm 1946 đã lôi ra thêm nhiều kẻ "nửa Ustaha, nửa linh mục" khác, trong đó có Miroslov Filipovic Majstorovic - chỉ huy trưởng Trại Tập Trung Jasenovac, nơi Ustasha từng thực hiện nhiều cuộc tra tấn dã man. Tuy nhiên, các khám phá mới nhất cho thấy nhân vật quan trọng nhất là Krunoslav Draganovic, từng là ủy viên cao cấp trong Hội Đồng Ustasha.  Năm 1943, Ustasha đã dàn xếp với Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Croatia để đưa Draganovic sang Rome. Tại đó, Draganovic làm thư ký ở Viện San Girolamo - một tu viện của người Croatia, đóng vai trò đầu mối liên lạc với bọn Ustasha. Draganovic cũng là trưởng phái đoàn không chính thức của thủ lãnh Ustasha Ante Pavelic.

Theo các báo cáo từ các lực lượng phản gián Hoa Kỳ (CIC) được viết ngay sau khi Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai kết thúc, Draganovic và nhóm của ông ta ở San Girolamo đã cung cấp tiền, thực phẩm, phương tiện nhà ở và làm cả giấy tờ chứng nhận Hội Hồng Thập Tự cho nhiều tên tội phạm chiến tranh Croatia (tức bọn Ustasha) thoát khỏi lưới Pháp luật. Qua một đường dây ngầm gọi là "đường dây chuột cống", bọn Ustasha đã trốn từ Trieste đến Rome, sang Genoa hay Argentina - nơi chúng sống những ngày còn lại của cuộc đời trong an toàn. Toàn bộ những tay sĩ quan cấp cao Ustasha đã thoát bản án tử hình là nhờ đường dây chuột cống này. Các báo cáo của CIC còn cho biết thêm rằng San Girolamo là địa điểm gần như bất khả xâm phạm.  Bất cứ ai muốn đi qua cổng Tu Viện này cũng đều bị kiểm tra giấy tờ cũng như vũ khí. Toàn khu vực được bảo vệ bởi nhân viên Ustasha trang bị súng ống đầy đủ nhưng mặc thường phục. Ngoài ra, còn có một giáo sĩ khác từng sống ờ San Giramo cũng dính dáng nhiều đến các phi vụ giải thoát cho Ustasha. Đó là nhân vật bí mật tên là Golik mà tài liệu của văn phòng hoạt động chiến lược (OSS, tiền thân của CIA) có đề cập đến. Người ta tin rằng Golik là nhà tài trợ lớn nhất cho tất cả cư dân Croatia sống ở Rome (bọn Ustasha). Mỗi tháng Golik phát 6 ngàn lire cho từng người (tương đương với 2,700 [2 ngàn 7 trăm] dollars hiện nay).

Các nhân viên điều tra tin rằng thủ lĩnh Ustasha Ante Pavelic đã trốn sang Buenos Aires  (Argentina) vào tháng 11 năm 1947 và thậm chí có cuộc hội ngộ với Giám-mục Rozman, người đã tuồn (chuyển) tiền sang Nam Mỹ từ tài khoản trong một ngân hàng Thụy Sĩ với mục đích giúp đỡ người tỵ nạn thuộc các vùng Thiên Chúa Giáo. Tùy viên quân sự Mỹ Davis Harrington cho biết rằng bản báo cáo ngày 9-3-1948 rằng (Giám-mục) Rozman đã đi đến Bern để giám sát những khoản tài chính này. Số tiền đó nằm trong một ngần hàng Thụy Sĩ và ông ấy (Rozman) dự đinh gửi phần lời sang Ý, rồi từ đó gửi cho các thành viên Ustasha ỏ Argentina. Trong quyển vàng và tiền của chính phủ độc lập Croatia được chuyển ra nước ngoài, tác giả Jere Jareb nói rằng 288 kí lô vàng đã bị lấy ra khỏi ngân hàng quốc gia Croatia và ngân khố chính phủ vào ngày 7-5-1945 (ngày Đức Quốc Xã bị tiêu diệt). Phần lớn số vàng này đã rơi vào tay Draganovic.

Việc điều tra cho đến nay gặp nhiều rắc rối. Các chứng cớ đã thất lạc ít nhiều và các nhân chứng cũng chẳng còn sống (kể cả bọn Ustasha). Nhiều khám phá hơn có thể được lôi ra ánh sáng nếu phiên tòa xử Draganovic được thiết lập và nếu bị cáo không chết vào năm 1983, khi tiến trình điều tra chưa đem lại nhiều chứng cớ. Theo US News & World Report)" [4]

Người Việt Nam ta có hai thành ngữ nói về khi những sự thật xấu xa bỉ ổi đã được cố tình bưng bít và che giấu, nhưng cuối cùng cũng bị phơi bày ra ánh sáng. Hai thành ngữ đó là "Cái kim buộc (trong) giẻ, lâu ngày cũng lòi ra" và "Cháy nhà mới lòi ra mặt chuột". Con chuột này là "con chuột cống" cho nên mới có tên là "đường dây chuột cống".

KHI BÀN TAY QUYỀN LỰC CỦA VATICAN
VƯƠN TỚI VIỆT NAM

Các bản văn trên đây cho chúng ta thấy tội ác giết người chiếm đoạt của cải của Giáo Hội La Mã tại phạm trường Châu Mỹ La-tinh vào thời điểm 1532 và tại phạm trường Croatia vào thời điểm 1941-1945.

Nhìn vào những thời điểm (từ ngày 20/5/325 cho đến 1830, khi chệ độ đạo phiệt Da-tô Charles X bị trừ khử vào tháng 7/1830) mà Giáo Hội La Mã đã gây ra những rặng núi tội tội ác ở Âu Châu và những thời điểm phạm tội tại các phạm trường Châu Mỹ La-tinh và Croatia, chúng ta thấy cái bản chất bạo ngược và tham tàn của Giáo Hội La Mã  càng về sau càng trở nên bạo ngược hơn, tham tàn, dã man hơn và càng gian dối hơn, đặc biết là những phương các moi tiền, hành hạ và tra tấn nạn nhân càng trở nên siêu việt hơn. Từ đó, chúng ta suy ta bàn tay máu và bàn tay vơ vét của Giáo Hội được ngụy trang bằng những mỹ từ “Tin Mừng”, “Hồng Ân Thiên Chúa” và “khai hóa văn minh” tại Việt Nam trầm trọng và ghế gớm như thế nào!

Đối với Giáo Hội La Mã, việc đánh chiếm và thiết lập được nền thống trị tại Đông Dương là đã hoàn thành được nhiệm vụ đã được nêu lên trong sắc lệnh Romanus Pontifex ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Vì thế cho nên, Giáo Hội phải cùng Pháp dồn nỗ lực vào việc khai thác tài nguyền, cướp đoạt của cải, ruộng đất, bóc lột nhân dân bằng những hình thức đóng thuế và sưu dịch đúng như tinh thần Sắc Lệnh Romanus Pontifex ở trên, nghĩa là Giáo Hội và Pháp cùng với tín đồ Da-tô người Việt toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của người dân Đông Dương…” (Xem lại Chương 4, chú thích 80).

Như đã trình bày ở Chương 2, chủ trương cố hữu của Giáo Hội La Mã là khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ của người đời và tín đồ rồi dùng những miếng mồi danh lợi và quyền lực để câu nhử và lôi cuốn người theo đạo và tình nguyện làm tay sai cho Giáo Hội hay làm lính đánh thuê trong các đạo quân thập tự trong Liên Minh Thánh của Giáo Hội. Các đạo quân này thường được mạ kền là những đạo “binh thánh giá.” [5] Đây là nguyên nhân TẠI SAO những đạo  quân Liên Minh Pháp – Vatican tiến đánh Đông Dương trong những năm 1858-1895 cũng như trong thời Kháng Chiến 1945-1954 và quân đội của hai chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam trong những năm 1954-1975 lại  hành động ăn cướp giống y như quân lính thập tự của Giáo Hội trong thời Trung Cổ, quân đội thập tự Tây Ban Nha ở Péru vào đầu thế kỷ 16 và quân lính thập tự ở Croatia trong những năm 1941-1945.

A.- TRONG THỜI KỲ 1858-1945

Trong thời kỳ này, quân lính Liên Minh Thánh Pháp – Vatican và quân thập tự Việt Nam mang chiêu bài là Tin Mừng“ và “Hồng An Thiên Chúa  đến  khai hóa văn minh”  cho các dân tộc Đông Dương bằng những hành động giết người, đốt nhà, đốt chùa, phá đình, phá miếu, hãm hiếp đàn bà con gái, và dùng đủ mọi thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản của nhân dân ta ta hết sức là kinh khủng. Tất cả những sự thật về những hành động “khai hóa văn minh” này đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Dưới đây là một số sách sử nói về sự kiện này:

1.- Sách Những Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam 1858-1897 ghi nhận vụ ăn cướp kho tàng của triều đình Huế vào đêm ngày 4/7/1885 như sau: 

" Giá trị số vàng bạc cất giấu trong các hầm, ước tính khoảng 9 triệu, ngoài ra, còn tìm được những ấn tín và cuốn sách bằng vàng, trị giá 1 triệu. Đã bắt đầu tập họp lại một cách khó khăn được một phần những kho tàng nghệ thuật. Cần gửi ngay 1 tầu thủy và nhiều chuyên viên giỏi để chuyển những kho tàng nghệ thuật này về cùng với các báu vật, bạc vàng…" [6]

“Một chứng nhân, P. Pène-Siefert, kể:

“… Họ (người Việt Nam) làm cho chúng ta ngượng ngùng khó nghĩ khi họ kể với chúng ta rằng: với những bản mục lục tài sản đã có trước ngày 5/7 cầm tay, người Pháp đã lấy ở nhà ở của các đội thân binh, 113  lượng vàng, 742 lượng bạc, 2.627 quan tiền; tại cung bà Thái Hậu, mẹ vua Tự Đức, 228 viên kim cương,  266 đồ nữ trang nạm kim cương, ngọc trai và đã quý, 271 đồ dùng bằng vàng; tại các lăng Thiệu Trị, Minh Mạng, Gia Long, đầy ắp những  đồ dùng của cá nhân các vua đó lúc sinh thời. Tất cả những thứ gì lấy mang đi được: vương miện, đai lưng, đệm trải nhà, nệm giường, áo đại lễ, giường và bàn tròn trạm trổ, chậu thau, lồng ấp, mùng và màn cửa bằng lụa thêu, lư hương, ấm pha trà với những chiếc khay cho đến cả những ống tăm xỉa răng. Tại các ngân khố hoàng gia, cướp đi một số vàng, trị giá khoảng 24 triệu Francs… Một vụ cướp phá trắng trợn như vậy kéo dài hai tháng ròng, nổi tiếng một cách đáng buồn gấp nhiều lần so với những vụ cướp phá cung điện mùa hè ở Bắc Kinh, và nó chỉ có thể làm bại hoại tinh thần người lính.”

“… Cái làm cho Nguyễn Văn Tường cũng phải khóc là việc thiêu hủy kho lưu trữ của hầu hết các Bộ và của Quốc Gia Thư Viện; những thiệt hại của các phòng biên niên sử (Quốc Sử Quán) của Quốc Gia Ấn Quán mà các bộ chữ Hán rời đã biến mất.” [7]

“Nhắc lại vụ cướp phá đã một lần làm cho ông phẫn nộ, Khâm Sứ Pháp tại Huế, trong một bản tường trình gửi Toàn Quyền Richaud, ngày 28/2/1889, có viết:

“… Ngày 5/7/1885, trong vụ bạo động Huế, một số lượng rất lớn những báu vật đã bị cướp đi và người ta thấy vô cùng xấu hổ mỗi khi nghĩ lại những sự việc xấu xa xẩy ra lúc đó: Một con voi bằng vàng làm rất kỳ công và có giá trị lớn, bị cưa làm đôi, vì hai gã kình địch, gã nào cũng muốn giành phần của mình cái chất nguyên liệu của đồ vật ấy. Cái điều mà nhắc lại chỉ thêm buồn là một sĩ quan cấp tướng, Tướng Prudhomme, đã không hề có chút áy náy nào trong lương tâm khi ông ta lấy đem đi những đồ vật nhiều giá trị, mà chẳng ai tìm cách đánh thức cái lương tâm đang mê ngủ của ông ta; báo chí chẳng tố cáo điều gì; người ta không yêu cầu ông ta gửi trả lại triều đình Huế một phần những tài sản quý mà ông ta đã chiếm đoạt. Khi nhận thấy cái nghèo nàn, cái khốn khổ hiện tại của triều đình An Nam, người ta có thể quên đi thái độ lừa đảo hai mặt của nó trước kia, mà thực ra, chính là những hành vi bất chính của chúng ta đã làm nẩy sinh ra, và người ta rất lấy làm tiếc không còn ai để bắt họ phải trả lại một phần nào những thứ mà chúng ta đã cướp đi một cách vô liêm sỉ đó.

“Dĩ nhiên người ta có thể gọi sự kiện 5/7/1885 là “một cuộc mai phục”, một cái “bẫy” cho chúng ta; nhưng phải chăng, chính chúng ta đã gây ra, và triều dình Huế thì không thể không nhớ đến việc chúng ta đã hai lần đánh chiếm Hà Nội, những cuộc tấn công của chúng ta ở phía Bắc mà họ là nạn nhân?

“Dù cho sự kiện này được đánh giá như thế nào đi nữa, thì bổn phận đòi hỏi chúng ta một cách rất nghiêm túc là không được cướp đem đi những tài sản của triều đình. Hẳn vây, bởi chúng ta không phải là khách qua đường, ghé lại trên một xứ sở thù địch một hôm rồi đi, không cần quan tâm đến những sự mất mát của nó, không cần lo lắng cho ngày mai: Một chính phủ thực sự đã đoạn tuyệt với chúng ta. Đúng vậy, nhưng chúng ta quyết sẽ thay thế vào đó một chính phủ khác, nhằm tiếp tục thi hành Hiệp Định 6/6/1884, và việc thi hành này đặt lên lưng chúng ta những nhiệm vụ tài chánh lớn lao, mà một khi nước được bảo hộ càng nghèo đi, thì nhiệm vụ tài chánh đó càng trở nên nặng nề gấp bội. Muốn cho triều đình còn có đủ uy tín để buộc người dân phải phục tùng, dưới sự thúc đẩy của chúng ta, thì phải giữ lấy cho nó cái chút ít xa hoa mà nó đã tạo nên được, nhờ bao nhiêu năm dài chắt bóp. Còn nhiều điều cần nói nữa.” [8]

Vì người Pháp nắm giữ các chức vụ chỉ huy trong đoàn quân viễn chinh tấn chiếm Việt Nam cũng như trong các cuộc hành quân đánh vào các vị trí chiến lược quan trọng, cho nên những chíên lợi phẩm quan trọng như vụ ăn cướp kho tàng của triều đình Huế vào đêm 4 tháng 7 năm 1885, do người Pháp chủ động và chỉ chia chác cho Giáo Hội một phần gọi là để trả ơn. Không ai biết rõ Người Pháp lấy bao nhiêu phần trăm những của cải ăn cướp này và chia cho Giáo Hội La Mã là bao nhiêu phần trăm. Trong phần sau, người viết sẽ trình bày những khỏan tài sản kếch sù mà chính quyền Pháp dâng hiến cho Giáo Hội để trả ơn Giáo Hội và tín đồ Da-tô  người Việt đã góp công sức làm tay sai đắc lực cho họ trong các công việc đưa đường dẫn lối, chỉ điểm, thông ngôn, truy lùng, bắt giam và tra tấn các chiến sĩ nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta.

2.- Sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn ghi nhận:

"… những cuộc nổi loạn liên miên của các cộng đồng giáo dân Kitô, tiêu biểu bằng tổ chức hải tặc Tạ Văn Phụng (Lê D. Minh), với khẩu hiệu thiết lập một vương quốc Kitô, và thổ phỉ Lê Duy Huân, tức khôi phục nhà Lê." [9]

"… Hôm sau nữa, 5/12 Chuẩn-uý Hatutefeuille được Linh-mục Trần Lục (Père Six) hướng dẫn xuống chiếm thành Ninh Bình không tốn một viên đạn - viên sĩ quan này chĩa súng vào màng tang vị sĩ quan thủ thành gằn giọng đe dọa nếu không đầu hàng y sẽ bắn vỡ sọ. Trần Lục [Trần Hữu Triêm] còn tuyển bộ 150 lính đến giúp Hautefeuille bảo vệ an ninh…" [10]

"Theo kế họach đã đề nghị, sau khi quân Pháp chiếm xong các tỉnh thành, việc bình định và giữ an ninh sẽ giao cho khoảng 6 ngàn giáo dân của Puginier. Thực tế, các giáo sĩ giúp Garnier và tuyển mộ gấp đôi con số trên, vào khoảng 12 ngàn lính bản xứ, mà đa số là giáo dân Kitô. Họ còn giới thiệu cho Garnier một số giáo dân để tạm thời trông coi việc cai trị. Một người  thợ rèn tên Trương bỗng dưng được nắm ấn Tổng Đốc Hải Dương. Một người tên Lê Văn Bá nào đó trở thành "tướng" đắc lực của Harmand. Đạo "thập tự quân" bản xứ này thường do các giáo sĩ cầm đầu, trương cờ tam tài (quốc kỳ Pháp) và lợi dụng tình thế để đánh phá, bạo hành các thôn xã người Lương hay đốt phá các chùa miếu. Pierre Rheinart, Trú-sứ Pháp tại Hà Nội trong mùa xuân 1874, ghi nhận: "Nhiệt tình tôn giáo khiến các nhà truyền giáo thay đổi ý niệm về công lý, sự thực và lòng nhân đạo, và họ để mình lôi cuốn vào những lỗi lầm mà họ thường tìm thấy ở đối phuơng" [11]

3.- Sách Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam của Tiến-sĩ Cao Huy Thuần cũng ghi rõ như sau:   

"Chưa bao giờ trong lịch sử, người Việt Nam phải chịu những nhục nhã như thế. Chuẩn-úy Hautefeuille cùng với 7 binh sĩ chiếm được thành Ninh Bình có hàng ngàn người canh giữ! Tình trạng hỗn loạn cùng sự tích cực giúp đỡ của tập thể Thiên Chúa Giáo là hai lý do chính cắt nghĩa việc Garnier cùng binh lính của y đã đánh bại một cách dễ dàng và kỳ lạ quân đội Tự Đức gấp 100 lần. Các Linh-mục Pháp, hưởng ứng niềm mong ước của Dupré, đã tự nguyện giúp đỡ cho đồng bào họ. Hàng ngàn tín đồ Thiên Chúa Việt Nam có các linh mục dẫn đầu cắm cờ tam tài, gia nhập đoàn quân bé nhỏ của Garnier để chiến đấu bên cạnh người Pháp, cùng để cướp bóc, đốt nhà và trả thù. Thế là các vùng Trung Châu chính yếu nằm trong tay y, Garnier chỉ còn phải tổ chức chính trị cho vùng chiếm đóng." [12]

"Suốt ngày tôi tiếp những người tự xin điều khiển các binh lính tụ tập thành từng tóan 100, 150, v.v… Họ đều được các cha xứ gửi gấm,…" [13]

"Tôi vẫn cứ tiếp khách mãi: Họ nối đuôi nhau trước túp lều từ 7 giờ sáng cho đến tối. Tôi phải tiếp mãi những người khiếu nại hay xin xỏ: Kẻ thì đến xin được giúp đỡ và che chở, kẻ thì tụ tập được một số người, rồi đến xin khí giới để trang bị và bằng cấp để chỉ huy. Sau rốt, có kẻ và đây là số đông đến xin giúp việc như thư ký, công chức đủ hạng, cũng xin được đặc ân bổ nhiệm là tri phủ tri huyện. Tất cả hình như hầu hết đều là tín đồ Thiên Chúa, một phần ở tỉnh tiếp giáp là Ninh Bình do các linh mục cử sang. Trong những truờng hợp khó khăn, những tín đồ Thiên Chúa tỏ ra tham lam trơ trẽn cũng như thiếu dè dặt và đầy ích kỷ?" [14]

4.- Sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn - Tập 2 viết:

"Giống như những phong trào "Tả đạo" từ thập niên 1850, nguyên động lực của phong trào này là lời cáo buộc giáo dân Kitô đã tiếp tay quân Pháp đánh chiếm đất nước. Vào thời điểm 1885, đây không còn là những lời cáo buộc vô bằng chứng nữa. Vì lý do này hay lý do khác, đa số tín đồ Kitô đã bị lọt vào vùng ảnh hưởng của Pháp, trong khi một thiểu số khác, vì cuồng tín hay vì danh lợi bản thân, hoặc cả hai, tích cực hợp tác hoặc phục vụ các đạo quân viễn chinh Pháp. Trước hết, các giáo sĩ Pháp và Việt không ngớt tuyên truyền và áp lực giáo dân đòi phải "tự vệ" hoặc "phục vụ tân trào." (Giám-mục) Puginier là khuôn mặt tiêu biểu và quyền lực trong nhóm này. Một mặt, Puginier không ngớt yêu sách, đòi hòi các viên chức phải sử dụng giáo dân Ki-tô trong việc "bình định" - đánh dẹp những đảng "giặc", tức các tổ chức kháng chiến và nghĩa quân chống Pháp. Puginier đã không ngần ngại nói thẳng với các quan Tướng Pháp rằng chỉ có giáo dân Ki-tô mới là bạn trung thành vĩnh viễn của nước Pháp, và các viên chức Pháp phải trang bị vũ khí cho họ tự vệ.  Mặt khác,  Puginier cùng các đồng liêu cho lệnh giáo dân phải hợp tác với Pháp, dưới danh nghĩa "thập tự quân" bảo vệ tín ngưỡng. Một số linh mục đứng ra tổ chức những đội võ trang để bảo vệ các họ đạo và đánh phá các làng không Ki-tô.”

Tại phía nam Huế, các linh mục Guerlach và Maillard hoặc lập nên những đội "thập tự quân" bản xứ, hoặc hướng dẫn các đơn vị Pháp đi tảo thanh những làng Lương. Các đạo thập tự quân này hung bạo hơn cả các cánh quân Cần Vương. Phong trào trả thù này khiến ngay các cấp chỉ huy Pháp cũng phải nhiều lần quở trách hay trừng phạt. Các giáo sĩ Pháp không chịu lùi bước. Họ công khai đả kích chiến lược bình định của de Courcy cũng như các viên chức Pháp là thiên vị người Lương, bỏ rơi giáo dân.” [15]

Tại Nghệ An, Giáo dân huyện Quỳnh Lưu đốt phá huyện lỵ và các xã thôn. Hơn một ngàn nóc nhà tại Quỳnh Đôi và Bảo Hậu bị thiêu hủy, nhiều thường dân bị chết. Nhóm Linh-mục Klinger bèn tổ chức các đội võ trang đánh phá các làng Lương, đốt phá chùa miếu.

Tại miền Bắc, Linh-mục Trần Lục (Xuân Triêm) - được cơ quan ngôn luận của Hội Truyền Giáo mô tả như một “courtisan” (người thân tín, kẻ xu nịnh) của Puginier – không những bảo vệ được họ đạo Kim Sơn (Ninh Bình) mà còn tăng cường lực lượng “thập tự quân”, tiếp tay bất cứ cuộc hành quân nào của Pháp vào các tỉnh lân cận, đặc biệt là Thanh Hóa. Một trong những chiến công lớn của Trần Lục với chính phủ Bảo Hộ là chiến thắng Ba Đình của Pháp. Ngoài ra, Trần Lục còn cung cấp cho Pháp hàng ngàn cu-li cùng mật báo viên, lính tập và viên chức hành chánh. Trần Lục uy quyền đến độ được đi đứng tự nhiên trước mặt Kinh Lược và được Pháp trao tặng cả Bắc Đẩu Bội Tinh.”….

Đích thân Puginier còn vận động các viên chức Pháp bắt những làng Lương phải bồi thường thiệt hại bằng cách cắt nhượng đất đai, ruộng nương cho giáo dân. Nhiều làng đã phải cải đạo để tránh sự trả thù của Puginier và các đạo thập tự quân.” [16]

"Trong hai năm đầu, de Courcy và rồi Paul Bert uyển chuyển áp dụng chiến lược vừa đánh, vừa chiêu hồi. Từ năm 1887, Pháp thay đổi chiến lược. Ảnh hưởng những lời cố vấn của các giáo sĩ như Puginier và Colombert, cùng sự thăng tiến của giáo dân Ki-tô trong cơ cấu chính quyền, khiến cho người Pháp bắt đầu áp dụng "luật An Nam" với các thành phần chống đối. Bất cứ làng nào bị nghi ngờ là bắt tay với "giặc" đều bị thiêu hủy, hương chức chịu trách nhiệm. Vợ con, cha mẹ, anh em, chú bác đều biến thành “con tin" để ép buộc các lãnh tụ nghĩa quân đầu hàng.” [17]

"Ngày 13/9/1886, Puginier gửi Paul Bert một đề nghị dùng giáo dân Ki-tô Việt để "bình định" - một chính sách mệnh danh là dùng người Việt giết người Việt." [18]

"Để thưởng công cho các thông sự hay ký lục, các viên chức Pháp cũng lưu tâm cất nhắc họ. Một số các thông ngôn miền Nam được đưa ra Bắc, giao phó các chức tri huyện, tri phủ. Petrus Key (Ký) lộng hành ở Huế suốt 6 tháng, trước khi cáo bệnh về Nam. Diệp Văn Cương, gốc Hải Nam, và anh là Diệp Văn Mang, một thời hống hách quyền uy. Cương được đưa lên  hàng Chưởng Giáo, trông lo việc huấn luyện “hành nhân” kiêm thông ngôn riêng của vua.  Lê Duy Hinh, dù chỉ giữ chức trưởng phòng “ký lục” cũng, đầy uy quyền…

 Miền Trung, dĩ nhiên, cũng có phần trong “thời thông ngôn” này. Ngô Đình Khả, gốc Quảng Bình, ra công phục vụ Pháp, sau này lên tới chức chánh phòng thông sự ở "Tòa Khâm." Pierre Joseph Nguyễn Hữu Bài gốc Quảng Trị, khởi nghiệp từ chức "Thừa-phái" ở Thương Bạc bên bờ Tây Hương Giang năm 1883, sau biến cố 1885 qua bên bờ sông đối diện làm "ký lục" [lettré]) kiêm "thông sự" (interprète) ở Tòa Khâm Và từ đó, đường hoạn lộ bắt đầu thênh thang. Công lao đầu tiên của Bài với chế độ Bảo Hộ Pháp là theo các đạo quân Pháp “dẹp loạn” ở Bắc An Nam và Bắc Kỳ. Nhờ vậy, Bài được chuyển qua ngạch quan lại với những lời khen nhiệt thành của Pháp.

Đa số các thông ngôn trên đều xuất thân từ các chủng viện Ki-tô và được đỡ đầu cùng đề cử của các giáo sĩ ngoại quốc." [19]

B.- THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN 1945-1954

Đặc biệt trong thời kỳ này, thấy rằng  chiêu bài mang “Tin Mừng“ và “Hồng An Thiên Chúa  đến  khai hóa văn minh  cho các dân tộc Đông Dương đã bị lật tẩy, cho nên vào tháng 1 năm 1947, Giáo Hội quyết đỉnh chuyển đổi thành chiêu bàinhững người Việt quốc gia yêu nước chân chính  dưới quyền lãnh đạo của “chính quyền quốc gia” chiến đâu cho “chính nghĩa quốc gia” và cho ra đời “lá cờ vàng ba sọc đỏ” . Chiêu bài này thực sự đước cho ra đời vào đầu tháng 6 năm 1948. Với chiêu bài mới này, Giáo Hội triệt để thi hành chính sách chia để trị, xé nước Việt Nam ra làm nhiều mảnh nhỏ, biết những mảnh nhỏ này thành những quốc gia trong quốc gia Việt Nam, rồi dùng người Việt với danh nghĩa là “người Việt quốc gia” để chống lại cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và dùng tín đồ Da-tô bản địa  để cai trị đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác. Sự kiện này đã được trình bày đầy đủ ở Chương 8.

Như đã nói ở trên, quân lính trong Liên Minh Thánh của Giáo Hội và các đạo quân thập tự bản địa càng về sau càng hung hãn hơn, bạo ngược,  dã man hơn, tinh vi và quỷ quyệt hơn. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh kể lại ở trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm với nguyên văn như sau:

"Từ năm 1950, nhiều làng Công Giáo vùng đồng bằng được vũ trang, nhận súng ống của Pháp, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của các linh mục. Đội quân vũ trang của Phát Diệm gồm 10 ngàn người, ở dưới quyền chỉ huy của  Giám-mục Lê Hữu Từ, còn quân Bùi Chu thì do Giám-mục Phạm Ngọc Chi điều khiển. Vai trò của đội quân tự vệ vượt qua tư cách gọi là chỉ để tự vệ khi bị Cộng Sản tấn công, bởi vì nó được tung ra các hoạt động chủ yếu là hành quân càn quét, có  khi bao trùm cả vùng, có lúc chỉ ở địa phương nhỏ. Chẳng hạn trong trận Ký Con ở Nam Định, một bộ tham mưu liên quân gồm có Trung Tá Candou ở Nam Định, Trung Đoàn Trưởng Mollat đồn Phát Diệm và Linh-mục Hoàng Quỳnh, tổng tư lệnh đội quân Công Giáo, đã thành công loại  khỏi vòng chiến cả tiểu đoàn Việt Minh ở đây. Lính Công Giáo có lúc tham dự các cuộc hành quân gồm nhiều tiểu đoàn của Pháp.

Nhưng ở cấp địa phương, quân lính Công Giáo mới là đội quân hung hăng nhất. Nhằm lo cho các xứ được bảo vệ hữu hiệu hơn, bọn chúng tổ chức ruồng bố liên tiếp các làng lương chung quanh, bắt giam hoặc giết chết, khỏi cần tòa án, tất cả các chiến sĩ du kích và những ai bị tình nghi là Việt Minh. Theo gương lính Pháp, chúng cướp bóc các làng, lấy trộm, tàn sát, thiêu rụi tất cả những gì bị coi là ổ kháng chiến. Nực cười hết cỡ, có những linh mục - đại úy nghĩ rằng giờ đem cả nước theo đạo Kitô đã tới: Họ ra lệnh cho lính đi cướp phá các chùa Phật Giáo, mang hết các tượng Phật về làm củi chụm, rồi cắm thánh giá lên chùa hay là đặt Đức Mẹ vào trong đó. Thật phải rùng mình, khi nhắc lại tên tuổi của một số linh mục như Khâm, Tôn, Luật...

Các bản tin về những vụ Cộng Sản tàn sát Công Giáo do báo chí Pháp hoặc hãng thồng tấn Fides (của Tòa Thánh Vatican) đưa ra phải được đặt trong bối cảnh lịch sử nói trên. Chẳng hạn Beena Phan, trích dẫn tờ báo tiếng Pháp Viễn Đông xuất bản tại Sàigòn, đã viết; "Người ta kể lại rằng tại Cao Mại, 180 người Công Giáo, gồm nam nữ và trẻ con bị thiêu sống trong nhà thờ làng theo sau vụ đồn lính Pháp cạnh đó không chịu đầu hàng." 

Sự thật hoàn toàn khác thế. Cao Mại là một làng thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, ở 5 km cách sông Hồng, nơi chia đôi Thái Bình với Nam Định, và cũng là ranh giới giữa hai địa phận Thái Bình và Bùi Chu. Cao Mại có hai thôn, một Công Giáo và một Phật Giáo. Đang là mùa xuân 1950, giáo dân Bùi Chu lúc đó đã được võ trang, còn Thái Bình thì quân Pháp chỉ đóng ở thành phố và những vùng lân cận. Một hôm Cha Luật, chính xứ Cao Mại, tiếp một cha bạn người Bùi Chu sang thăm, có mấy tiểu đội mang vũ khí tháp tùng. Bọn lính này đi lùng sục các làng chung quanh, bắt các du kích quân và cán bộ Việt Minh bất ngờ gặp được và giết chết mấy người. Được báo động, du kích toàn vùng đó kéo về hướng Cao Mại. Bọn lính Công Giáo vừa đánh vừa rút lui, có chừng 50 thanh niên Cao Mại và các linh mục tham gia. Khi thấy quân du kích kéo tới, giáo dân Cao Mại hoảng sợ, chạy vào nhà thờ đóng cửa lại, chờ cha xứ trở về mang theo tiếp viện. Du kích tổ chức bao vây, đòi phải thả các đồng chí bị bắt ra. Đám người bị bao vây cứ cầm cự. Khi đêm về,  nhà thờ bốc cháy và những người bị nhốt trong đó chết thiêu. Người ta loan tin rằng vụ hoả hoạn đó là do nhóm người bao vây gây ra, hay chỉ là một chuyện rủi ro. Sau đó, cha Luật và quân lính của ông trở về, ông chỉ còn biết khóc trước đóng tro tàn của nhà thờ và cái tang của dân chúng. Ông quyết định trả thù cho giáo dân. Cuộc báo thù hết sức kinh khủng. Các du kích quân bị lính của cha bắt được đều bị chôn sống trước nhà thờ. Từ đó, Cao Mại trở nên một nơi kinh hoàng cho cả vùng.

"Cao Mại là một trường hợp điển hình trong thảm kịch Việt Nam hồi đó. Máu đổi máu, những cuộc thanh toán tiếp theo những vụ trả thù. Vì không biết nghệ thuật quân sự và chiến lược của Kháng Chiến - do chính phủ Hồ Chí Minh vạch ra từ năm 1940 - quá tự tin vào những thắng lợi lúc đầu, người Công Giáo cứ đi bố ráp tại các làng không Công Giáo, thường đâu có chống cự lại họ."  [20].  

Mang danh nghĩa "diệt Cộng",  những ông linh-mục kiêm nhiệm vai trò ông tướng chỉ huy các đạo quân thập tự (Công Giáo) này đã tàn sát bao nhiêu dân chúng Việt Nam, đã cướp đoạt bao nhiêu tài sản của nhân dân ta?  Hai nhà biên khảo Quang Toàn và  Nguyễn Hoài ghi lại ở trong cuốn Những Họat Động Của Bọn Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Giáo về thảm cảnh đau thương này của nhân dân ta  ở vùng Đồng Bằng Bắc Việt trong thời Kháng Chiến 1945-1954 tương đối khá rõ ràng và đầy đủ. Dưới đây là một trong nhiều chuyện đã xẩy ra ở huyện Quỳnh Côi thuộc tỉnh Thái Bình (Bắc Bộ) với nguyên văn của những đọan văn này:

"Quỳnh Lang Đẫm Máu : Quỳnh Lang là một thôn thuộc xã Quỳnh Lâm (Toàn Thắng), huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Dân số trong thôn có hơn 1.000 người, phần lớn theo đạo Thiên Chúa. Thôn này ở về phía Tây Bắc   huyện Quỳnh Côi. Giữa thôn có một nhà xứ (nhà thờ) thường gọi là nhà thờ Quỳnh Lang. Nhà thờ này thường có 2 (hai) cha cố (linh mục), 7 (bẩy) thày giáo và một số cô mụ.

Ngay từ ngày đầu sau thắng lợi của cuộc Cách Mạng tháng  8 năm 1945, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa Giáo đã ngấm ngầm tổ chức hoạt động chống lại chính quyền dân chủ nhân dân. Đứng đầu bọn này là tên Anvarê Cao, người Tây Ban Nha. Là Linh-mục chánh xứ, Anvarê Cao đã cai quản nhà xứ Quỳnh Lang từ năm 1941-1942. Khi chính quyền về tay nhân dân, chúng đã lợi dụng tòa giảng của các nhà thờ và các lớp giáo lý để tuyên truyền xuyên tạc mọi chủ trương chính sách của chính phủ ta. Khi kháng chiến bùng nổ, chúng ngấm ngầm tổ chức những đội "Thanh Niên Diệt Cộng" trong các họ thuộc xứ, dưới những hình thức "Đội Âm Nhạc", "Đội Chầu"...

Năm 1948, 1949, quân Pháp đánh rộng ra Hải Dương, Hưng Yên thì Anvarê Cao tổ chức "Liên Đoàn Thanh Niên Công Giáo" toàn xã Quỳnh Lang. Ban chấp hành của Liên Đoàn này do Anvarê Cao đứng đầu và mỗi họ này được cử một đại biểu vào ban đó. Từ đó, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa Giáo hoạt động ngày càng ráo riết hơn, có kế hoạch và tổ chức hơn. Anvarê Cao còn chọn một số tay sai đắc lực đưa vào Quốc Dân Đảng như tên Mậu tức Ái (Quỳnh Lang), Tuyên (Tân Mỹ) để nắm lấy tổ chức này.   Sau đó, bọn này đi tuyên truyền phát triển đảng viên. Tên nào tổ chức được một đảng viên thì được thưởng 100 đồng Đông Dương. Dần dần chúng thu hút được những tên Ruy, Trị, Rẫn... (Quỳnh Lang)... Những tên này đều trở thành tay sai đắc lực của bọn Thiên Chúa Giáo phản động ở đây.

Tháng 11 năm 1949, giặc Pháp đem quân về đóng ở Bến Trại và La Tiên (bắc sông Luộc), gần Quỳnh Lang. Anvarê Cao bèn tập họp thanh niên Thiên Chúa Giáo ở các thôn Đông Châu, Tân Mỹ, Quỳnh Lang bí mật cho đi kiểm soát khu tứ xã. Y cho một thanh niên sang liên lạc với giặc Pháp ở Bến Trại và La Tiên, cử  tên Luân (Tân Mỹ) sang Bến Trại cầu cứu Pháp cho quân về càn đồng bào Thiên Chúa Giáo đi tản cư. Y còn dùng thị Hồng người Việt Yên (gái điếm) liên lạc với giặc Pháp ở Hưng Yên và La Tiến.  Tháng 1 năm 1950, giặc Pháp từ Bến Trại vượt sông Luộc về dẫn đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở khu tứ xã tản cư. Khi giặc đến, Anvarê Cao ra lệnh cho các trùm trưởng các họ ở ba thôn Quỳnh Lang, Đông Châu và Tân Mỹ phải tập họp giáo dân đến Tân Mỹ. Tên Ký Giáp và Trùm  Vĩ vâng lệnh Anvarê Cao doạ nạt giáo dân: "Đồng bào tới đây sẽ có quân Pháp đón và theo cha xứ đi tản cư, chứ ở nhà Việt Minh đến đánh nhau, đồng bào không chạy được thì nó cắt tiết (Tài liệu của Ty Văn Hoá Thái Bình).

Dưới mũi súng hỗ trợ của giặc, Anvarê Cao cùng bọn trùm trưởng đã dẫn hơn 1.000 gáo dân sang Bến Trại (Hải Dương). Hơn một tháng ở đó, Anvarê Cao   bắt giáo dân đì càn quét cướp phá thóc gạo, lợn gà của nhân dân quanh vùng về tập trung. Hàng ngày y ra lệnh phát từng bơ (lon) gao, miếng thịt cho từng gia đình. Gia đình nào bị chúng tình nghi có liên lạc với kháng chiến thì lập tức mất khẩu phần thịt gạo, cho nên nhiều gia đình rất khốn khổ.

Sau hơn 30 ngày sống bằng của cướp giật của nhân dân quanh vùng Bến Trại, gây tội ác đã nhiều, Anvarê Cao cho giáo dân chuyển sang làng Tranh (Ninh Giang), cũng vẫn luận điệu lừa bịp: "Sang đây sẽ có nhà cửa ruộng vườn cầy cấy". Ở đây, y bắt giáo dân đi càn quét, cướp bóc của cải, trâu, bò lợn, gà của nhân dân quanh vùng. Những người không đi càn quét thì phải đi phu gánh gạch., gánh cát xây bốt cho giặc ở Ninh Giang.

Để chuẩn bị kéo về Quỳnh Lang lập tề, ngụy, Anvarê Cao nài xin giặc Pháp vũ trang và huấn luyện quân sự cho hơn 60 thanh niên Thiên Chúa Giáo. Đồng thời, y tổ chức bầu các ban quản trị, xã uỷ.

Tháng 2/ 1950, địch đánh rộng ra Thái Bình, Anvarê Cao đưa lực lượng vũ trang về Quỳnh Lang lập bốt (đồn). Bốt Quỳnh Lang chiếm một khu đất rộng ngay trước cửa nhà thờ. Chúng cho xây nhiều lô cốt và hàng rào dây thép gai vây quanh. Trong bốt có trên 100 vệ sĩ do tên đồn trưởng Bùi Hữu Lùn chỉ huy. Y là tay sai đắc lực của Anvarê Cao. Mọi việc của đồn đều do Anvarê Cao quyết định. Hàng ngày, chúng bắt vệ sĩ đi càn quét các vùng lân cận như Bương Hà, Hỷ Hà, Đông Quynh để giết người, cướp của nhằm phá vỡ cơ sở kháng chiến của nhân dân ta.

Ngày 16/3/1950, Pháp cho thêm một tiểu đoàn về đóng ở Quỳnh Lang. Nhân dịp đó Anvarê Cao xin thêm súng đạn của giặc, vũ trang cho thanh niên Thiên Chúa Giáo ở Tân Mỹ và Đông Châu để làm tiền đồn án ngữ cho vị trí Quỳnh Lang. Lực lượng được tăng cường, chúng chiếm đóng khu tứ xã, càng ra sức hà hiếp các thôn xung quanh hòng bình định cả khu vực này. Chúng lập trại giam, tổ chức phòng mật thám, cho vệ sĩ hàng ngày đi lùng bắt cán bộ và nhân dân.

Quỳnh Lang, ngay từ những ngày đầu lập bốt (đồn),  đã khét tiếng về những hành động giết người man rợ. Suốt trong nửa năm đầu 1950, mỗi buổi chiều tà lại có một chiếc xe ca-mi-ông chở hàng chục người vô tội ra bến đò La Tiến. Tới bến, những người yêu nước bị dồn thành hàng, những lưỡi kiếm sáng loáng vung lên, hàng loạt thân người ngã gục và bị hất xuống dòng nước. Có hôm, dùng kiếm để giết đã chùn tay, chúng trói những người bị bắt lại thành từng xâu (có xâu tới 24 người), rồi dùng tiểu liên bắn xả vào họ. Cũng như mọi lần, xác họ bị hất xuống sông. Man rợ hơn nữa, có lần chúng bắt hàng chục người xếp dọc theo thành bể (hồ chứa nước) thả cá giống, rồi dùng súng tiểu liên bắn chết,  xác họ đổ gục chồng chất trong bể.

Chúng tra tấn những người bị bắt cực kỳ dã man. Một trong những cách tra tấn đó là: nạn nhân bị lột trần truồng, ngồi gọn trong một cái hố đất đào sẵn cạnh sân nhà thờ, rồi chúng thi nhau dội nước sôi vào đầu vào lưng.. Nhiều nạn nhân  đã chết ngay sau một hồi giẫy giụa. Có lần chúng lôi người bị dội nước sôi chưa chết hẳn lên sân nhà thờ để mặc cho quằn quại rên la. Trước cảnh thê thảm đó, Anvarê Cao chỉ buông ra một câu cộc lốc: "Chúa chưa cho nó đi khỏi"!

Những tội ác kinh khủng và ghê rợn ấy cũng chưa phải là tột cùng. Dã man nhất và cũng là điều dã man cho bốt Quỳnh Lang trở thành nổi tiếng khắp miền là vụ thảm sát hàng trăm người trong một hầm người dưới đáy lô cốt.

Một ngày tháng 8 năm 1951, bọn phản động Thiên Chúa Giáo Quỳnh Lang cho quân đi vây làng Bường, làng Hia và những làng lân cận. Chúng dồn dân các làng ra đình để nghe "quan về hiểu dụ". Khi đình đã chật người, chúng liền kéo trên 200 thanh  niên trai tráng trói lại thành từng xâu giải về bốt. Đến bốt, trời đã xế chiều. Không cần xét hỏi một câu, chúng dồn tất cả xuống một cái hầm ngầm dưới đáy lô cốt. Chiếc hầm kiên cố mỗi bề rộng bốn mét, sâu bằng một người với, cửa hầm dài, rộng gần một mét, có nắp gỗ kín mít. Những người bị bắt, vẫn nguyên dây trói, bị đẩy lộn cổ xuống hầm. Người đè người. Đã có người chết ngay lúc đó . Hầm đầy quá rồi, những người sau không thể lọt vào được nữa, chúng liền dùng báng súng nhồi (đẩy) túi bụi vào hầm để dồn cho kỳ hết. Nắp hầm đóng lại. Chỉ một lát sau, trong hầm, người nghẹt thở, nhốn nháo. Họ kêu gào, van xin, mặc (kệ)! Thấy van xin vô hiệu, họ gào thét chửi rủa ầm ĩ. Anvarê Cao  liền sai tên Nhự, chỉ huy quân sự của đồn, đến hé nắp hầm và chĩa súng liên thanh bắn xả vào. Tiếng kêu thét lắng dần rồi tắt hẳn. Một đêm dài nặng nề  trôi qua, người tiếp người lả đi, chồng chất lên nhau mà chết. Khi mở nắp hầm, vừa kịp rút được then cài, thì nắp hầm bật tung lên vì tử khí thoát ra. Người trong hầm chết hầu hết. Mấy xác người hấp hối ở sát miệng hầm được kéo lên, có bảy người tỉnh lại. Lúc này, nhân dân chung quanh đã kéo đến nên ý định thủ tiêu nốt của chúng không thực hiện được. Chính bảy người thoát chết này lại phải xuống hầm lôi những xác chết lên đem đi chôn cất.

Một tuần lễ "trả thù cho đồng bào bị giết hại ở bốt Quỳnh Lang" được tổ chức rầm rộ ở khắp tỉnh. Bọn phản động Thiên Chúa Giáo  ở Quỳnh Lang rất sợ hãi. Anvarê Cao được bọn cầm đầu Giáo Hội Thiên Chúa Việt Nam cho phép đổi đi nơi khác!

Từ đó bọn vệ sĩ Quỳnh Lang cũng ít dám  thò ra ở ngoài cướp phá. Các đồn bốt quan trọng của địch trong tỉnh liên tiếp bị tiêu diệt, khu du kích được mở rông, bốt Quỳnh Lang bị cô lập. Nửa đêm 4/4/1953, bốt Quỳnh Lang bị bộ đội và du kích ta tiến đánh. Sau gần sáu giờ chiến đấu ác liệt, bốt Quỳnh Lang bị hạ. Tên đồn trưởng Bùi Hữu Lùn và 78 vệ sĩ bị ta bắt sống. Ta thu được 7 trung liên, 2 moóc chi-ê và hơn 100 súng trường cùng nhiều đạn dược trong trận này." [21]

Những bản văn sử trên đây cho chúng ta nhìn thấy rõ tính cách tàn bạo và dã man của các đạo quân thập tự này đã thể hiện đúng theo cái bản chất thâm độc, bạo ngược, tàn ác và dã man của Giáo Hội. Những câu chuyện trên đây chỉ là môt vài  chuyện lẻ tẻ trong muôn ngàn chuyện tương tự nói về tội ác dã man của bọn tu sĩ và tín đồ Gia-tô "sống đạo theo tinh thần Kitô" ở các tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Việt   trong thời Kháng Chiến 1945-1954. Nếu kể ra cho hết thì phải dùng đến cả mấy ngàn trang giấy cũng không nói hết.

Đau lòng thay! Những tín đồ  Gia-tô người Việt hiện nay không hề hay biết gì về những "thành tích" kinh tởm như trên.  Hằng ngày, họ thường được nghe thuyết giảng và nhắc đi nhắc lại một cách trơn tru những từ ngữ như bác ái, nhân từ, hiền lành, khiêm nhường, v.v.... Nhưng họ không hề nghĩ hay nhớ tới những hành động kinh tởm của các đạo quân thập tự dưới quyền chi huy của các đáng bề trên của họ đã diễn ra trong lịch sử ở ngay trên đất nước Việt Nam này của chúng ta.   

C.- THỜI KỲ 1954-1975
Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

(Trong tiểu mục này, người viết chỉ nói  đặc tính cố hữu của quân lính trong Liên Minh Thánh Mỹ - Vatican và quân thập tự Việt Nam. Mọi vấn đề khác sẽ được trình bày ở Tập 2.)

Trong thời kỳ này có những điểm đặc biệt như sau:

1.- Liên Minh Thánh Pháp – Vatican được thay thế bằng Liên Minh Thánh Mỹ - Vatican (vì Pháp đã triệt thoái khỏi Việt Nam theo tinh thần Thỏa Hiệp Genève 1954),

2.-  Nhân vật Bảo Đại lãnh đạo chính quyền bù nhìn tay sai của Giáo Hội là một tín đồ Da-tô theo đạo vì hôn nhân được thay thế bằng một tín đồ Da-tô thuộc loại siêu cuồng tín là ông Ngô Đình

3.-  Hội La Mã hầu như nắm trọn quyền quản lý việc nội chính ở miền Nam, chính quyền bù nhìn làm tay sai cho Giáo Hội được cải danh là chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, và quân đội thập tự Việt Nam được mang danh nghĩa mới là “Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa”

Tất cả đều nằm dưới quyền chỉ huy của Giáo Hội La Mã qua vị khâm sứ của Toà Thánh Vatican ở Sàigòn và các ông giám mục, đặc biệt là hai Giám Mục Ngô Đình Thục và Phạm Ngọc Chi. Ngoài ra, lai còn có các linh mục quản nhiệm các họ đạo và các trại định cư cũng như các linh mục và khối gần một triệu tín đồ Da-tô trong đó khoảng 600 ngàn tín đồ Da-tô Bắc Kỳ di cư là quan trọng hơn cả.

Nhưng đã nói ở trên, quân linh trong các đạo quân của các Liên Minh Thánh và các đạo quân thập tự  có những đặc tính ưa thích giết người, đốt nhà, đốt chùa, phá đình phá, miếu, hãm hiếp đàn bà con gái và tìm đủ mọi tiền nhân dân, ưa thích hành hạ và tra tấn nạn nhân. Những đặc tính này càng về sau  các đặc tính này càng trở nên tinh vi hơn và siêu việt hơn. Đây là những sự thật lịch sử đả được chứng nhân tại chiến trường (đúng hơn là phạm trường) ghi lại bằng phim ảnh và bút ký  rồi phổ biến  trước công luận.

A.- Về phim ảnh, thiết nghĩ các phóng viên chiến trường người ngoại quốc, nhất là các phong viên điện ảnh người Hoa Kỳ đã ghi lại khá chính xác những hình ảnh quân lính Hoa Kỳ đốt nhà, tiêu huy thực phẩm, đánh đập, và bắn giết người dân một cách bừa bãi  trong các chiến dịch tấn công và truy lùng đối phương. Một trong cuốn phim này là cuốn băng DVD có tựa đề là Chiến Tranh Việt Nam: Những Điều Chưa Biết do phóng viên Daniel Costelle biên soạn và tường thuật  với sự cộng tác của nhà đạo diễn Isabelle Clarke,  giá bán chỉ có 5 Mỹ Kim, có thể mua tại các tiệm bán băng nhạc, hay liên lạc với điện thoại số (714) 555-2515.

B.- Về bút ký, có rất nhiều tại liệu ghi nhận những hành động cướp của, giết người đốt nhà, phá chùa, hãm hiếp đàn con gái, mua quan bán tước của các ông tương nắm giữ những chức vụ cao cấp trong chính quyề miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Dưới đây là một số những tài liệu nói về sự thật ghê tởm này:

1.- Dưới đây là một phần của bài viết bài viết “ Bài Học, Ngày Xưa, Ngày Nay” icủa tác giả Đào