giaodiem copyright

posted: 28.12.2005

11-Jes1.gif (27289 bytes)
 
11-Jes2.gif (43748 bytes)
 
NGHIÊN CỨU KINH THÁNH - STUDYING BIBLE
GOOD NEWS BIBLE
Today’s English Version – United Bible Societies 1976 British Edition:

(I, Phan Như Diệp, have one in my Home Library)

Giới thiệu:

1-        Kinh Thánh nào thì cũng được gọi là Kinh Thánh và được tin là “Lời Chúa”. Kinh Thánh được coi là “Hiến Pháp trên trời, cao hơn mọi loại hiến pháp thế gian.” Vì là “Lời Chúa” nên phải “Không thể sai lầm” (“Infallible”), cũng như Giáo Hoàng trong Ky-tô La Mã được định nghĩa là người duy nhất và chính thức đại diên trực tiếp cho Chúa trời trên thế gian, qua một sự mặc khải (!?) . ., và vì vậy, cũng “không thể sai lầm” (Infallible).

2-        Tuy vậy, tôi thấy có vô số sách Kinh Thánh ở nhiều nơi, và tôi cũng có gần 20 cuốn Kinh Thánh đủ loại trong tủ sách gia đình. Nhưng đặc biệt là không có cuốn nào giống cuốn nào, và trong đó có rất nhiều câu, đoạn không những đã khác nghĩa, mà lại còn phản nghĩa nhau nữa. Vì vậy thường khi nói đến một câu Kinh Thánh mà người tin không thường được nghe, thì họ thường tỏ ý không vui và không muốn nghe; hoặc giả thì sẽ hỏi, “Câu đó ở đâu?” Khi được cho biết đã trích trong cuốn Kinh Thánh nào, thì họ thường xác định “Đó không phải là cuốn Kinh Thánh chính thức!”. Nếu hỏi, “Cuốn nào là chính thức?” Thì họ có thể sẽ cho biết một cuốn nào đó mà họ quen thuộc chút ít, nếu có. Nhưng khi được hỏi tiếp, “Tại sao cuốn đó lại là cuốn chính thức, mà những cuốn khác như  . . . lại không phải là chính thức?” Thì thường họ tìm cách không thảo luận hay tiếp xúc với bạn nữa. Đó là trường hợp thực tế mà tôi đã gặp rất nhiều, mà ông Tú Gàn là một thí dụ.

3-        Tôi trộm thấy rất đông (hầu hết) bà con không đọc Kinh Thánh, vì lý do nầy hay lý do khác. Nhưng hầu như ai cũng thích “bàn” về tôn giáo, thích phê bình hay chỉ trích, cổ võ hay miệt thị, một cách cảm tính vô điều kiện, hết sức vô ý thức, vì không hề có một ít kiến thức tối thiểu, tổng quát, và sơ đẳng nào về ý nghĩa cũng như lịch sử đa đoan của nhiều tôn giáo. Vì vậy, tôi mạo muội đề nghị mọi người cần tìm hiểu để tùy nghi có một ý niệm đứng đắng, nghiêm túc riêng của mình.

4-        Kinh Thánh lại quá dày, thường làm nản lòng độc giả không thật sự có quyết tâm tìm đọc. Vậy nên tôi cố gắng chọn một số câu hay đoạn có tính tiêu biểu (trong cuốn Kinh Thánh nói trên), viết và dịch lại, để giới thiệu cùng quí độc giả, mong có phần nào giúp ích.

5-        Toàn bộ phần Anh ngữ là nguyên văn trong cuốn Kinh Thánh nêu trên; ngoại trừ khi được ghi chú riêng. Phần Việt ngữ là do tôi dịch để phục vụ bà con chưa thông thạo Anh ngữ. Nếu có sơ sót, xin đối chiếu với phần Anh ngữ. Thỉnh thoảng tôi cũng trích, song song để đối chiếu, vài câu trong một cuốn Kinh Thánh khác; và khi tôi ghi chú trong ngoặc đơn, “Another edition”, xin hiểu là cuốn, “New World Translation of the Holy Scriptures – Revised 1984” (Có trong tủ sách gia đình của tôi), nếu không có ghi chú nào khác.

6-        Đối với tôi, đề tài nầy có sức hấp dẫn dị thường, nên tôi không những đọc và nghiên cứu các loại Kinh Thánh của Công Giáo và Tin Lành, mà tôi đã tò mò và thận trọng quy tụ nhiều loại Kinh Thánh khác của tất cả các tôn giáo độc thần phương Tây, thường gọi là “Thiên Chúa Giáo” (các tôn giáo thờ Chúa trời): Kinh Koran (Hồi Giáo), Kinh Talmud (Do Thái Giáo), Kinh English Bible (Anh Giáo), Kinh Orthodox Bible (Chính Thống Giáo), v.v. tất cả các tôn giáo thờ chung một Chúa trời, mà tuy rằng tên gọi có khác nhau, vì ngôn ngữ khác nhau, Chúa trời, Yahweh, Elohim, Lord, Allah, God, Dieu, . .; nhưng tất cả nguồn gốc, lịch sử, định nghĩa, và đặc tính đều là một. Dầu có được gọi là gì, thì từ “Chúa trời” cũng là để chỉ một nhân vật (Ngôi) duy nhất (ở trên trời), với định nghĩa và những đặc tính chung nhất, cũng như nguồn gốc, lịch sử, . . giống nhau.

7-        Tất cả các tôn giáo nầy, “đức tin” của họ, cũng như chính nhân vật (hay Ngôi) chủ chốt trong các môn kinh luận thần học của họ, ngoài những khác biệt rất ư phụ thuộc mà cũng đủ gây chia rẽ, chiến tranh hủy diệt triền miên qua nhiều thế kỷ, đều có những đặc thù căn bản chung nhất, giống nhau như một:

a-        Chúa trời (hay Yahweh, Elohim, Lord, Allah, God, Dieu,. . ) có tính thường hằng, mãi mãi trước và sau mọi sự, có quyền năng tuyệt đối, làm ra vũ trụ (kể cả con người: Ông Adam và bà Eva) trong sáu ngày (nghỉ ngày thứ bảy), ở khắp mọi nơi và liên tục vận hành mọi sự vật, từ vô cùng lớn như các vũ trụ, các thiên hà, cho đến vô cùng nhỏ như các nguyen tử, các hạt quarks, tachyons, kể cả chỗ không có hạt, . . có quyền tuyệt đối thưởng phạt, vừa có tính siêu nhiên vừa có tính người.v.v. loài người phải mang tội tổ tông truyền kiếp (vì tổ tông là ông Adam và bà Eva phạm tội ăn trái cấm trong vườn Eden), và vì vậy phải tin Chúa trời để được cứu rỗi, không còn cách nào khác, . . với cùng những hình ảnh của những cơn thịnh nộ và hỏa ngục dưới lòng đất để răn đe, vĩnh phúc và thiên đàng ở trên trời để dụ dỗ.

b-       Tất cả các tôn giáo nầy đều nặng về những tín điều tuyệt đối, hoang tưởng, và bảo thủ, tính bất khoang nhượng cao độ, thể hiện tràn đầy trong các Kinh Thánh của họ (Bibles, Talmud, Koran, . . ) và trong lịch sử truyền đạo, phát triển, với vô số xảo thuật đổi đạo, đầy rẫy hận thù, bạo lực, khủng bố, và chiến tranh. Họ tuyệt đối hướng ngoại, nhị nguyên biện biệt, tranh thắng, chấp trước với (những) cuốn Kinh Thánh cứng ngắc, một nhân vật “tuyệt đối vừa siêu nhiên vừa có tính người”, và những “đức tin” vô điều kiện (Tin, phục tùng vô điều kiện, thì được cứu rỗi, sau khi chết được lên thiên đàng; không tin là ma qủi và phải bị tiêu diệt. . .). Sự “Vâng lời” hay “Kiểu thị sự vâng lời, tuân phục” một cách nô lệ là những trường hợp “lạm dụng”, “lạc dẫn”, hay “ngụy biện”!. Những trích thuật của họ thường cố ý nêu lên những điều (trích dẫn) mà ý nghĩa và giá trị được họ mặc nhiên và giảo hoặc xem như đã được công nhân(!?). Kỹ thuật nầy được xử dụng phổ thông trong những chế độ, tổ chức độc tôn, độc quyền, chuyên chế; chấp trước và bất khoang nhượng, như trong các thời quân chủ chuyên chế, các chế độ độc tài, và đặc biệt là trong các tổ chức tôn giáo độc thần Tây phương – “Kinh thánh dạy rằng . .” (dầu là Bible, Talmud, hay Koran, . .),  “Giáo hội dạy rằng:..” đúng là một “tinh thần Tử viết” tối ư kịch liệt! - . . Nhóm từ Tinh thần Tử viết”, có tính khinh miệt, mĩa mai, là để chỉ trích cái quỷ thuật trích biện ngụy dẫn nầy.. .Lẽ tự nhiên, trong thế giới tiến bộ mà con người luôn luôn cần được khuyến khích tự do phát triển tư duy, đây là trường hợp tối ư tiêu cực, và cần phải bị phê phán. Tất cả những đặc thù đó làm cho họ hoàn toàn mâu thuẩn với những triết lý, đạo học Đông phương đầy tính nhất nguyên, hướng nội, cởi mở, vị tha, vô cầu, vô tránh, vô trước, vô ngã (“Thành ý, chính tâm”, “Chỉ ư chí thiện”, “Ngôn bất trúng lý, bất như vô ngôn”, “Nhất ngôn bất trúng, thiên ngôn bất dụng”, “Quân tử nhất ngôn dĩ vi trí, nhất ngôn dĩ vi bất trí”, “Ngôn bất khả bất thận dã.”, “Nhất ngôn nhi khả dĩ hưng bang; nhất ngôn nhi khả dĩ tang bang”, “Ngôn bất khả diễn”, “Bất dĩ từ hại ý”, “Tận tín thư tắc bất như vô thư“, “Y nghĩa bất y ngữ”, “Y Đạo bất y nhân”, “Ngôn vô ngôn, pháp vô pháp”, “Bất lập văn tự”, “Trực chỉ nhân tâm”, . . )

c-        Tất cả “đức tin”, lịch sử, v.v.của các tôn giáo nầy đều bắt nguồn từ một cổ sử đầy truyền thuyết, huyền thoại, pháp thuật, phù thủy, dị đoan, và các hình thức lễ nghi tôn giáo man di, qua nhiều thế hệ nộ lệ, tràn đầy khác vọng tự do và ước mơ được giải phóng bởi một “nhân vật” tưởng tượng có sức mạnh như “thiên thần”, của bộ tộc du mục Babylon thuộc lãnh thổ Iraq hiện nay.

d-        Đặc tính thống hệ chuyên chế và thế quyền là điểm tuyệt đối chung nhất khác của những tôn giáo nầy, là nguồn gốc của bao nhiêu mâu thuẩn chính trị xã hội, kỳ thị, chiến tranh, bạo lực, khủng bố. Tượng trưng nhất là đạo Ky-tô La Mã, thường gọi là đạo Công Giáo, là một hệ thống chấp chặc một niềm tin vô điều kiện vào một Chúa ở trên trời, vào đại diện “chính thức” của ông ta ở thế gian, qua sự mặc khải(!?), là Giáo hoàng, và vào hàng loạt các đại diện theo chiều dọc, Hồng y, Tổng giám mục, Giám mục, Linh mục, qua các phép thông công(!?), v.v. Để có một ý niệm rõ ràng hơn về tính chuyên chế và thế quyền, độc tôn và bạo lực, của các tôn giáo nầy, xin nghiên cứu thêm: *Những cuộc chiến tranh tôn giáo (“Thánh chiến! – Holy wars! Jihad! Crusade!”), *Hai Thời đại tối tăm (Dark ages) trước và sau kỷ nguyên, *Hơn 400 năm kinh hoàng với các Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions), *Những cuộc diệt chủng (Crusades), *Chế độ Nô lệ (Slavery), *Chế độ Thực dân (Colonialism), v.v. . Và để hiểu rõ tính tuyệt đối phục vụ cá nhân hay tập đoàn thế sự trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, hưng thịnh, cũng như suy đồi, của họ, tôi xin đơn cử một tài liệu, đính kèm sau đây, nguyên văn lời giới thiệu “Protestant England”, những trang đầu trong “English Bible” của “English Church”, chính thức có thầm quyền, mô tả một giai đoạn phát triển rất đặc thù của tôn giáo nầy, để dễ tham khảo.

Phan Như Diệp

ABRAM’s ANCESTERS:

From Genesis 4:   to Genesis 11: 

Adam & Eve gave birth to Cain & Abel

Cain gave birth to Enoch

Enoch gave birth to Irad

Irad gave birth to Mehujael

Mehujael gave birth to Methushael

Methushael gave birth to Lamech (who has 2 wives, Adah & Zillah)

Lamech & Adah gave birth to Jabal & Jubal

Lamech & Zillah gave birth to Tubal Cain

Then;

Adam & Eve, 130, gave birth to Seth, died 930

Seth, 105, gave birth to Emosh, died 912

Emosh, 90, gave birth to Kenan, died 905

Kenan, 70, gave birth to Mahalalel, died 910

Mahalalel, 65, gave birth to Jared, died 895

Jared, 162, gave birth to Enoch, died 962

Enoch, 65, gave birth to Methuselah, died 365

Methuaselah, 187, gave birth to Lamech, died 969

Lamech, 182, gave birth to Noah, died 777

Noah, after 500, had 3 sons, Shem, Ham, & Japheth

Shem, 100, gave birth to Arpachshad, died after 600

Arpachshad, 35, gave birth to Shelah, lived another 403 years

Shelah, 30, gave birth to Eber, lived another 403 years

Eber, 34, gave birth to Peleg, lived another 430 years

Peleg, 30, gave birth to Reu, lived another 209 years

Reu, 32, gave birth to Serug, lived another 207 years

Serug, 30, gave birth to Nahor, lived another 200 years

Nahor, 29, gave birth to Terah, lived another 119 years

Terah, 70, gave birth to Abram, Nahor, & Haran.

Haran gave birth to Lot

Abram & Sarai (Sarah) had no children

Abram & Hagar gave birth to Ishmael

Abram & Sarah, when old, gave birth to Isaac. . .

So:

From Adam’s birth to Abram’s birth: 130+ 105+ 90+ 70+ 65+ 162+ 65+ 187+ 182+ 500(?)+ 100+ 35+ 30+ 34+ 30+ 32+ 30+ 29+ 70 = 1,914 years.

Lưu ý: Abram ở vào khoảng thế kỷ 19 trước công nguyên.

GENESIS 6:3 “Then the Lord said, “I will not allow people to live forever; they are mortal. From now on, they will live no longer than a hundred and twenty years.”

Rồi Chúa phán, “Ta sẽ không cho phép loài người sống mãi mãi; họ sẽ phải chết. Từ nay về sau, chúng sẽ không sống quá 120 tuổi.”

*  *  *

MỘT SỐ CÂU KINH THÁNH ĐÁNG QUAN TÂM:

THE OLD TESTAMENT

GENESIS:

GENESIS 1:1 The Story of Creation: In the beginning, when God created the universe,

Câu Chuyện Sáng Thế: Lúc bắt đầu khi Chúa đã tạo ra vũ trụ.

GENESIS 1:2 the earth was formless and desolate. The raging ocean that covered everything was engulfed in total darkness, and the power of God was moving over the water.

Trái đất không có hình thể và hoang sơ. Biển động bao phủ, mọi vật chìm trong tối tăm hoàn toàn, và sức mạnh của Chúa di chuyển trên mặt nước.

GENESIS 1:3 Then God commanded, “Let be the light” – and the light appeared.

Rồi Chúa phán, “Có ánh sáng.” – và ánh sáng đã xuất hiện.

GENESIS 1:4 Then he separated the light and the darkness,

Rồi ngài phân tách ánh sáng và bóng tối.

GENESIS 1:5 and he named the light “Day” and the darkness “Night”. Evening passed and morning came – that was the first day.

Và ngài đặt tên ánh sáng là “Ngày” và bóng tối là “Đêm”. Mọi sự trôi qua và buổi sáng đến – đó là ngày thứ nhất.

GENESIS 1:6-7 Then God commanded, “Let there be a dome to divide the water and to keep it in two separate places” – and it was done. So God made a dome, and it separated the water under it from the water above it.

Rồi Chúa ra lệnh, “Hãy có một cái vòm để chia nước ra và để giữ nó ở hai nơi riêng biệt” – và điều đó đã được thực hiện. Vậy Chúa đã làm ra một cái vòm, và nó đã chia cách nước ở dưới nó với nước ở trên nó.

GENESIS 1:8 He named the dome “Sky”. Evening passed and morning came – that was the second day.

Ngài gọi tên cái vòm là “Bầu trời”. Buổi chiều đã qua đi và buổi sáng lại đã đến. – đó là ngày thứ hai.

GENESIS 1:9 Then God commanded, “Let the water below the sky come together in one place, so that the land will appear” – and it was done.

Rồi Chúa ra lệnh, “Nước ở dưới bầu trời hãy gom lại với nhau vào một chỗ, sao cho đất sẽ hiện ra” – và điều nầy đã được thực hiện.

GENESIS 1:10 He named the land “Earth,” and the water which had come together he named “Sea”. And God was pleased with what he saw.

Ngài gọi tên đất là “Trái đất.” và nước đã gom lại với nhau là “Biển”. Và Chúa đã hài lòng với những gì ngài đã thấy.

GENESIS 1:11 Then he commanded, “Let the earth produce all kinds of plants, those that bear grain and those that bear fruit” – and it was done.

Rồi ngài ra lệnh, “Trái đất hãy sản xuất ra mọi loại cây cối, loại đã mang hột, loại đã mang trái” – và điều đó đã được thực hiện.

GENESIS 1:12 So the earth produced all kinds of plants, and God was pleased with what he saw.

Vậy là trái đất đã sản xuất ra tất cả mọi loài cây cối, và Chúa đã hài lòng với những gì ngài thấy.

GENESIS 1:13 Evening passed and morning came – that was the third day.

Buổi chiều đã qua đi và buổi sáng đã đến – đó là ngày thứ ba.

GENESIS 1:14 Then he commanded, “Let lights appear in the sky to separate day from night and to show the time when days, years, and religious festivals begin;

Rồi ngài ra lệnh, “Những ánh sáng hãy xuất hiện trong bầu trời để phân biệt ngày ra khỏi đêm và để chỉ thời gian khi ngày, năm, và lễ nghi tôn giáo bắt đầu.

GENESIS 1:15 they will shine in the sky to give light to the earth” – and it was done.

Các ánh sáng sẽ soi sáng bầu trời để đem ánh sáng đến trái đất’ – và điều dó đã được thực hiện.

GENESIS 1:16 So God made the two larger lights, the sun to rule over the day and the moon to rule over the night; he also made the stars.

Vậy Chúa đã làm ra hai ánh sáng lớn, mặt trời để ngự trị ban ngày và mặt trăng để ngự trị ban đêm; ngài cũng đã làm ra những ngôi sao.

GENESIS 1:17 He placed the lights in the sky to shine on the earth,

Ngài đã đặt ánh sáng trong bầu trời để soi sáng trái đất.

GENESIS 1:18 to rule over the day and the night, and to separate light from darkness. And God was pleased with what he saw.

để ngự trị ngày và đêm, và để phân chia ánh sáng từ bóng tối. Và Chúa đã hài lòng với những gì ngài thấy.

GENESIS 1:19 Evening passed and morning came – that was the fourth day.

Buổi chiều đã qua đi và buổi sáng đã đến – đó là ngày thứ tư.

GENESIS 1:20 Then he commanded, “Let the water be filled with many kinds of living beings and let the air be filled with birds.”

Rồi ngài ra lệnh, “Nước hãy chứa đầy các giống sinh vật và không khí hãy có đầy với chim.

GENESIS 1:21 So God created the great sea-monsters, all kinds of creatures that live in the water, and all kinds of birds. And God was pleased with what he saw.

Vậy Chúa đã tạo ra những quái vật biển vĩ đại, mọi thứ tạo vật sống trong nước, và mọi thứ chim. . và Chúa đã hài lòng với những gì ngài thấy.

GENESIS 1:22 He blessed them all and told the creatures that live in the water to reproduce, and to fill the sea, and he told the birds to increase in number.

Ngài đã ban phước cho tất cả và bảo các tạo vật sống trong nước hãy sinh trưởng, và tràn đầy biển, và ngài bảo chim hãy tăng số lượng.

GENESIS 1:23 Evening passed and morning came – that was the fifth day.

Buổi chiều đã qua đi và buổi sáng đến – đó là ngày thứ năm.

GENESIS 1:24 Then he commanded, “Let the earth produce all kinds of animal life: domestic and wild, large and small” – and it was done.

Rồi ngài ra lệnh, “Trái đất hãy sản xuất tất cả các loài động vật: trong nhà và hoang dã, lớn và nhỏ” – và điều đó đã được thực hiện.

GENESIS 1:25 So God made them all, and he was pleased with what he saw.

Vậy Chúa đã làm ra tất cả chúng, và ngài đã hài lòng với những gì ngài đã thấy.

GENESIS 1:26 Then God said, “And now we will make human beings; they will be like us and resemble us. They will have power over the fish, the birds, and all animals, domestic and wild, large and small.”

Rồi Chúa phán, “Và bây giờ chúng ta sẽ làm ra con người; họ sẽ giống chúng ta và trông tương tợ chúng ta.

GENESIS 1:27 So God created human beings, making them to be like himself. He created them male and female,

Vậy Chúa đã tạo ra con người, làm cho chúng giống y như chính ngài. Ngài đã làm ra chúng nam cũng như nữ.

GENESIS 1:28 blessed them, and said, “Have many children, so that your descendants will live all over the earth and bring it under their control. I am putting you in charge of the fish, the birds, and all the wild animals.

Ban phước cho chúng, và phán, “hãy có nhiều con, sao cho con cháu các ngươi sẽ sống tràn đầy trái đất và kiểm soát nó. Ta đặt để các ngươi trách nhiệm cá, chim, và tất cả các loài thú hoang.

GENESIS 1:29 I have provided all kinds of grain and all kinds of fruits for you to eat;

Ta đã cung cấp tất cả mọi thứ hạt và tất cả mọi thứ trái cho các ngươi ăn;

GENESIS 1:30 but for all the wild animals and for all the birds, I have provided grass and leafy plants for food.” – and it was done.

nhưng ta đã cung cấp cỏ và cây cối có lá để làm thức ăn cho thú hoang dã và tất cả chim.” – và điều đó đã được thực hiện.

GENESIS 1:31 God looked at everything he had made, and he was very pleased. Evening passed and morning came – that was the sixth day.

Chúa nhìn vào mọi thứ ngài đã làm ra, và ngài đã rất hài lòng. Buổi chiều đã qua đi và buổi sáng đã đến – đó là ngày thứ sáu.

GENESIS 2:1 And so the whole universe was completed.

Và như vậy, toàn bộ vũ trụ đã được hoàn tất.

GENESIS 2:2 By the seventh day God finished what he had been doing and stopped working.

Vào ngày thứ bảy, sau khi Chúa đã hoàn tất mọi việc ngài đã làm và nghỉ ngơi.

GENESIS 2:3 He blessed the seventh day and set it apart as a special day, because by that day he had completed his creation and stopped working.

Ngài ban phúc cho ngày thứ bảy và đặt để ngày nầy như là một ngày đặc biệt, bởi vì đến ngày đó thì ngài đã hoàn tất công trình sáng tạo của ngài và nghỉ ngơi.

GENESIS 2:4 And that is how the universe was created.

Và đó là làm thể nào mà vũ trụ đã được sáng tạo.

GENESIS 3:14 Then the Lord God said to the snake, “You will be punished for this; you alone of all the animals must bear this curse. From now on you will crawl on your belly, and you will have to eat dust as long as you live.

Rồi Chúa trời phán cùng con rắn, “Ngươi sẽ bị trừng phạt về việc nầy, chỉ có ngươi thôi trong mọi loài thú phải mang sự nguyền rủa nầy. Từ nay trở đi, ngươi phải bò trên bụng của ngươi, và ngươi phải ăn đất bụi ròng rã suốt cuộc đời của ngươi (ngày nào ngươi sống).

GENESIS 3:15 I will make you and the woman hate each other; her offspring and yours will always be enemies. Her offspring will crush your head, and you will bite their heel.”

Ta sẽ làm cho ngươi và người đàn bà căm ghét lẩn nhau; Con cháu của người đàn bà và của ngươi sẽ luôn luôn là kẻ thù. Con cháu của người đan bà sẽ chà nát đầu của ngươi, và ngươi sẽ cắn vào gót chân của chúng nó.”

GENESIS 3:16 And he said to the woman, “I will increase your trouble in pregnancy and your pain in giving birth. In spite of this, you will still have desire for your husband, yet you will be subject to him.”

Và ngài phán cùng người đàn bà, “Ta sẽ làm tăng thêm nạn khổ cho ngươi trong khi thai nghén và nỗi đau đớn khi sinh đẻ. Mặc dầu vậy, ngươi sẽ còn sự ham muốn chồng ngươi, và vậy người sẽ lệ thuộc ông ta.”

GENESIS 3:17 And he said to the man, “You listen to your wife and ate the food which I told you not to eat. Because of what your have done, the ground will be under the curse. You will have to work hard all your life to it produce enough food for you.

Và ngài phán cùng người đàn ông, “Ngươi đã nghe lời vợ ngươi và đã ăn trái mà ta đã bảo ngươi đừng ăn. Vì những gì ngươi đã làm, đất sẽ trở nên cằn cổi. Ngươi sẽ phải làm việc cưc nhọc suốt đời mới sản xuất đủ thức ăn cho ngươi.

GENESIS 3:18 It will produce weeds and thorns, and you will have to eat wild plants.

Đất sẽ sản sinh ra cỏ và gai, và ngươi sẽ phải ăn những cây dại.

GENESIS 3:19 You will have to work hard and sweat to make the soil produce anything, until you go back to the soil from which you were formed. You were made from soil, and you will become soil again.

Ngươi sẽ phải làm việc khó khăn và đổ mồ hôi để làm cho đất sản sinh được mọi thứ, cho đến khi ngươi trở lại thành đất mà từ đó ngươi đã được làm ra.

(Read the whole paragraph to understand the “scientific values”, all superstitions, all contradictories, and all egoism of the volume and its authors – PND.)

GENESIS 4:2 Later she gave birth to another son, Abel. Abel became a shepherd, but Cain was a farmer.

Sau đó bà sinh một con trai khác, Abel. Abel đã trở thành người chăn nuôi, nhưng Cain đã là một nông phu.

GENESIS 4:3 After sometime, Cain brought some of his harvest and gave it as an offering to the Lord.

Sau đó một thời gian, Cain đã mang một phần mùa gặt của hắn và làm lễ vật dâng cho Chúa.

GENESIS 4:4 Then Abel brought the first lamb born to one of his sheep, killed it, and gave the best part of it as an offering. The Lord was pleased with Abel and his offering,

Rồi Abel đã mang con đầu lòng của một con cừu, giết chết nó đi, và chọn phần tốt nhất làm lễ vật dâng Chúa.

GENESIS 4:5 but he rejected Cain and his offering. Cain became furious, and he scowled in anger.

nhưng ngài đã chối từ Cain và lễ vật của hắn. Cain lấy làm oán thán và khó chịu trong tức giận.

GENESIS 4:8 Then Cain said to his brother Abel, “Let’s go out in the fields.” When they were out in the fields, Cain turned on his brother and killed him.

Rồi Cain nói với em hắn, Abel, “Chúng ta hãy ra đồng.” Khi chúng ra ngoài đồng, Cain quay lại em hắn và giết nó chết.

GENESIS 4:15 But the Lord answered, “No. If anyone kills you, seven lives will be taken for revenge.” So the Lord put a mark on Cain to warn anyone who met him not to kill him.

Nhưng Chúa trả lời, “Không. Nếu kẻ nào giết ngươi, bảy đứa (bảy cuộc sống) sẽ bị (ta) giết chết để trả thù (cho ngươi).

GENESIS 4:17 Cain and his wife had a son and named him Enoch. (!? Who is his wife? Where did she come from?)

Cain và vợ hắn đã có một con trai và đặt tên nó là Enoch. (!? Không biết ai là vợ của Cain? Bà nầy từ đâu ra? - PND).

GENESIS 6:3 Then the Lord said, “I will not allow people to live forever; they are mortal. From now on, they will live no longer than a hundred and twenty years.”

Rồi Chúa trời phán, “Ta sẽ không cho loài người sống mãi mãi; chúng sẽ chết. Từ nay về sau, chúng sẽ không sống lâu hơn 120 năm.”

GEN ESIS 17:10 You and your descendants must all agree to circumcise every male among you.

Ngươi và con cháu của ngươi tất cả phải đồng ý cắt da đầu dương vật (cặc) tất cả đàn ông trong các ngươi.

GENESIS 17:11-12 From now on you must circumcise every baby boy when he is eight days old, including slaves born in your homes and slaves bought from foreigners. This will show that there is a covenant between you and me,

Từ nay về sau các ngươi phải cắt da đầu dương vật của mọi đứa bé trai khi nó lên tám ngày tuổi, kể cả nô lệ sinh ra trong nhà các ngươi, và nô lệ mua từ người nước ngoài. Điều nầy sẽ chứng tỏ có một thỏa hiệp giữa các ngươi và ta.

GENESIS 17:13 Each one must be circumcised, and this will be a physical sign to show that my covenant with you is everlasting.

Mỗi đứa (bé trai) đều phải cắt da đầu dương vật, và đây là dấu chỉ thể lý để chứng tỏ rằng thỏa hiệp của ta với các ngươi được tồn tại vĩnh viễn.

GENESIS 17:14 Any male who has not been circumcised will no longer be considered one of my people, because he has not kept the covenant with me.

Mọi đàn ông nào đã không cắt da quy đầu (đầu dương vật) sẽ không còn được coi là dân của ta nữa, vì nó đã không giữ điều giao ước với ta.

GENESIS 19:30 Because Lot was afread to stay in Zoar, he and his two daughters moved up into the hills and lived in a cave.

Bởi vì Lot sợ không dám ở lại Zoar, ông ta và hai người con gái của ông ta đã lên tận trên những ngọn đồi và ở trong một cái hang.

GENESIS 19:31 The elder daughter said to her sister, “Our father is getting old, and there are no man in the whole world to mary us so that we can have children.

Người con gái lớn nói với em cô ta, “Cha chúng ta đã già, và không có người đàn ông nào trên thế gian nầy để cưới chúng ta đặng chúng ta có thể có con cái.

GENESIS 19:32 Come on, let’s make our father drunk, so that we can sleep with him and have children by him.”

Nầy nhé, Chúng ta hãy làm cho cha chúng ta say, sao cho chúng ta có thể ngủ với ông và có con với ông.”

GENESIS 19:33 That night they gave him wine to drink, and the elder daughter had intercourse with him. But he was so drunk that he didn’t know it.

Đêm đó họ đem rượu nho cho ông uống, và người con gái lớn đã ăn nằm với ông ta. Nhưng ông ta say đến nỗi ông không hề biết việc đó.

GENESIS 19:34 The next day the elder daughter said to her sister, “I slept with him last night; now let’s make him drunk again tonight, and you sleep with him. Then each of us will have a child by our father.

Ngày hôm sau người con gái lớn đã nói với em cô ta, “Chị đã ngủ với ông ta đêm qua, giờ hãy làm ông say lại đêm nay, và em ngủ với ông. Vậy là mỗi chúng ta sẽ có một đứa con cho cha chúng ta.

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: giaodiem@giaodiem.com