giaodiem copyright

posted: 28.12.2005

11-Jes2.gif (43748 bytes)

   Phụ Lục:

            1- Vài ghi chú thêm:

EXODUS: Moses dẩn dân Do Thái rời Ai Cập về đất hứa, vua Pharaon không cho. Lúc đó Chúa còn được gọi là El-Shaddai (chưa được gọi là Jehovah), có nghĩa là “Terrible Power.” Chúa liền khủng bố tinh thần Pharaon bằng cách gây tai họa liên tiếp trên dân Ai Cập: Biến sông Nile thành máu, cá chết hết, không có nước uống,. . Sai thiên thần xuống giết hết những đứa con đầu lòng, kể cả con đầu lòng của súc vật, . . tiếng than khóc khắp nước Ai Cập, nhà nào cũng có một người chết, . .

JOSHUA: Joshua kế vị Moses. Chúa ra lệnh tiêu diệt thành phố Hà Ai, 12,000 dân, cả đàn bà, trẻ con, vì không nghe lời Chúa. . giết 31 vị vua quanh vùng, và hàng triệu dân của các vua nầy, .

            2- Ý Nghĩa Địa Ngục:

Chúa Giê-xu mô tả:

1. Ðó là nơi lửa cháy (Ma-thi-ơ 5:22), nơi thân xác đau đớn (Ma-thi-ơ 5:29,30); nơi phân cách hoàn toàn với Ðức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 7:23); nơi tối tăm, khóc lóc và nghiến răng (Ma-thi-ơ 8:12).

Các sứ đồ mô tả:

2. Nơi lửa cháy (Gia-cơ 3:6, Giu-đe 6,7), nơi khói đau khổ tỏa lên đời đời (Khải huyền 14:11); hồ lửa là sự chết thứ hai (Khải Huyền 20:14, 15).

            3- Pope Says Hell Is a Self-Inflicted Fate:

Los Angeles Times, Saturday, July 31, 1999.

Hell is a reality and eternal damnation is a self-inflicted punishment, Pope John Paul II told pilgrims attending his weekly general audience Wednesday.

      Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life”, the Roman Catholic pontiff said. “It is the ultimate consequence of sin itself”.

      John Paul regularly speaks at his general audience on questions arising from church teachings. His talk on Hell followed a discourse last week on heaven. Which he said is “neither an abstraction nor a physical place in the clouds, but a living and personal relationship of union with the Holy Trinity”.

      A lengthy editorial published two weeks ago with the Vatican approval in the authoritative Jesuit journal Civilta Cattolia also dealt with the theological concept of hell.

      Hell exists, not as a place but as a state, a way of being of the person who suffers the pain of the deprivation of God”, read the editorial in the journal.

      Speaking in similar terms, the Pope told the 8,500 pilgrims attending his audience that “more than a physical place, hell is the state of those who freely and definitively separate themselves from God, the source of all life and joy”.

      “So eternal damnation is not God’s work but is actually our own doing”, he said.

     Demons, he said, “are creatures who have already given a definitive “no” to God. These are the spirits who rebelled against God. They serve as a warning for human beings. Eternal damnation remains a real possibility for us too”.

Religion News Service

Tạm dịch:

Giáo Hoàng nói Địa Ngục là Khổ Mệnh Tự Tạo

Nhật báo Los Angeles Times, Chủ Nhật, ngày 31 tháng 7 năm 2999

Địa ngục là một sự thật và sự đày đọa là một hình phạt tự tạo. Giáo Hoàng đã nói với những người hành hương tham dự buổi tiếp kiến tổng quát mỗi tuần của Ngài vào ngày thứ Tư.

“Địa ngục không phải là một hình phạt được đặt để từ bên ngoài bởi Chúa, nhưng là điều kiện hậu quả từ tính tình và hành vi của người ta trong cuộc đời nầy”, vị giáo chủ đạo Ca Tô La Mã đã nói. “Nó là hậu quả tất nhiên của chính tội ác.”

John Paul thường nói chuyện trước các buổi tiếp kiến tổng quát về những câu hỏi nêu lên từ những bài giảng của giáo hội. Câu chuyện của ngài về Địa ngục đã được tiếp nối bởi một bài diễn văn về Thiên đàng vào tuần trước. Trong đó ngài nói, “Không phải là một ý niệm trừu tượng, cũng không phải là một nơi chốn vật lý nào ở trong những đám mây, nhưng là một cách sống và một sự liên hệ riêng tư của một cá thể với Ba Ngôi thánh.”

Một tài liệu biên tập dài đã được phát hành hai tuần trước đây, với sự chấp thuận của Vatican trong nhật báo hệ Jesuit có thẩm quyền Civilta Cattolia cũng đã bàn về ý niệm thần học của Địa ngục.

“Địa ngục hiện hữu, không phải là một nơi chốn mà là một trạng thái, một phương thức thể hiện mà con người phải chịu đựng vì sự xa rời Chúa”, biên tập trong nhật báo đã viết.

Nói một cách tương tự, Giáo Hoàng nói với 8,500 người hành hương tham dự cuộc tiếp kiến rằng, “hơn là một nơi chốn vật lý, Địa ngục là tâm trạng của những người tự do và quyết định tự tách rời khỏi Chúa, nguồn gốc của mọi sự sống và hạnh phúc.”

“Vậy, sự đày đọa vĩnh viễn không phải là việc làm của Chúa nhưng thật ra là việc làm của chính mình”, ngài nói.

Quỉ dữ, ngài nói, “là tạo vật (nào) đã quyết định “từ chối” Chúa. Đây là những linh hồn đã chống lại Chúa. Chúng xem như là lời cảnh cáo cho loài người. Sự đọa đày vĩnh cữu cũng hiện diện như là một sự khả dĩ thực sự đối với chúng ta.”

            4- The Birth of the Universe – The Big Bang and After

Trịnh Xuân Thuận

“Continuous Creation in a Universe Without Beginning or End”

Quite a few cosmologists found this model (which contended that the universe has had the same appearance at all times - PND) appealing because it avoided a creation event and its religious implications.”

“On the other hand, if the cosmic density is greater than the critical value, then the universe is finite and its expansion will eventually cease, giving way to an accelerating contraction.... The contraction is just the expansion run backward: after 50,000 million years the universe would have regained its present size, and after another 10,000 million years it would approach a singular state of infinite density....”

“Can we really carry this sad story all the way to its end, to a state of infinite temperature and density? Does time really have a stop some three minutes after the temperature reaches a thousand million degrees? Obviously, we cannot be sure....”

“From these uncertainties some cosmologists derive a sort of hope. It may be that the universe will experience a kind of cosmic "bounce," and begin to re-expand.... But if the universe does re-expand, its expansion will again slow to a halt and be followed by another contraction, ending in another cosmic [expiration], followed by another bounce, and so on forever....”

Tạm dịch:

“Sự sáng tạo liên tục trong vũ trụ không có bắt đầu cũng như chấm dứt.”

“Có không ít các nhà Vũ Trụ Học tìm thấy mô hình nầy (mô tả một vũ trụ luôn luôn có hình thể bất biến với thời gian) khá hấp dẫn vì nó đã tránh được hiện tượng sáng tạo và cái hàm ý tôn giáo của nó.”

“Về mặt khác, nếu tỉ trọng của vũ trụ lớn hơn một trị số quyết định, thì vũ trụ có giới hạn và sự trương nở của nó sẽ đương nhiên ngưng lại, tạo điều kiện cho một sự co rút gia tốc. . . Sự co rút chỉ đơn thuần là một sự trương nở theo chiều ngược lại: sau 50,000 triệu năm vũ trụ sẽ trở về cái kích thước hiện nay, và sau 10,000 triệu năm nữa, nó sẽ tiến tới một dạng điểm có tỉ trọng vô cực. . .”

Chúng ta có thể tiếp tục cái câu chuyện buồn bả nầy mãi cho đến cái kết cuộc của nó, cái trạng thái nhiệt độ và tỉ trọng vô cùng lớn? Có phải thời gian sẽ ngưng lại ở khoảng 3 phút sau khi nhiệt độ đã lên đến một ngàn triệu độ? Rõ ràng, chúng ta không thể bảo đảm được. . .”

“Từ những sự vô định (tính không xác định) nầy một số nhà Vũ Trụ Học đã đem lại vài hy vọng.  Có thể là vũ trụ sẽ thể hiện một loại “dội ngược vũ trụ” nào đó, và bắt đầu trương nở trở lại . . Nhưng nếu vũ trụ trương nở trở lại, sự trương nở của nó lại sẽ chậm lại, tới chỗ dừng hẳn, và tiếp nối bằng một sự co rút khác, chấm dứt trong một sự bù trừ khác, rồi tiếp nối bằng một sự dội ngược khác, và cứ như vậy mãi mãi . . “

            5- A Brief History of Time

Stephen Hawking

“In order to talk about the nature of the universe and to discuss questions such as whether it has a beginning or an end, you have to be clear about what a scientific theory is.”

“However, within a few years we should know whether we can believe that we live in a universe that is completely self-contained and without beginning or end.”

“Throughout the 1970’s I had been mainly studying black holes, but in 1981 my interest in questions about the origin and fate of the universe was reawakened when I attended a conference on cosmology organized by the Jesuits in the Vatican. The Catholic Church had made a bad mistake with Galileo when it tried to lay down the law on a question of science, declaring that the sun went round the earth. Now, centuries later, it had decided to invite a number of experts to advise it on cosmology. At the end of the conference the participants were granted an audience with the Pope. He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God. I was glad then that he did not know the subject of the talk I had just given at the conference-the possibility that space-time was finite but had no boundary, which means that it had no beginning, no moment of Creation. I had no desire to share the fate of Galileo, with whom I feel a strong sense of identity, partly because of the coincidence of having been born exactly 300 years after his death!”

“An expanding universe does not preclude a creator, but it does place limits on when he might have carried out his job!”

“The idea that space and time may form a closed surface without boundary also has profound implications for the role of God in the affairs of the universe. With the success of scientific theories in describ­ing events, most people have come to believe that God allows the universe to evolve according to a set of laws and does not intervene in the universe to break these laws. However, the laws do not tell us what the universe should have looked like when it started-it would still be up to God to wind up the clockwork and choose how to start it off. So long as the universe had a beginning, we could suppose it had a creator. But if the universe is really completely self-contained, having no boundary or edge, it would have neither beginning nor end: it would simply be. What place, then, for a creator?”

“Conservation of energy: The law of science that states that energy (or its equivalent in mass) can neither be created nor destroyed.”

Tạm dịch:

“Để bàn về tự tính của vũ trụ, và thảo luận về những vấn đề như có hay không một bắt đầu hay một kết thúc, bạn phải phân biện rõ ràng về lý thuyết khoa học mà bạn dùng.”

“Tuy vậy, trong vài năm nữa, có lẽ chúng ta sẽ biết, có thể tin được hay không, rằng chúng ta đang sống trong một vũ trụ hoàn toàn tự dung chứa, không có một bắt đầu hay kết thúc.”

“Trong thập niên 1970’s, ông Hawking đã chuyên nghiên cứu về các lỗ đen, nhưng trong năm 1981 sự quan tâm của ông Hawking về những câu hỏi về nguồn gốc và số phận của vũ trụ lại được thức tỉnh khi ông tham dự một buổi hội thảo về vũ trụ học được tổ chức bởi Dòng Chúa Cứu Thế ở Vatican. Ky-tô Giáo đã phạm một lỗi lầm tệ hại với ông Galileo khi họ đã cố áp đặt luật lệ trên một vấn đề khoa học, tuyên bố rằng mặt trời quay chung quanh trái đất. Bây giờ, sau nhiều thế kỷ, họ đã quyết định mời một số chuyên gia cố vấn cho họ về vũ trụ học. Cuối buổi hội thảo, tham dự viên được dịp tiếp kiến Giáo hoàng. Ông ta đã nói với tham dự viên rằng, nghiên cứu về sự tiến hóa của vũ trụ sau vụ nổ lớn thì được, nhưng chúng ta không nên lạm bàn về chính cái vụ nổ lớn đó vì đó là thời điểm của sự sáng tạo (sáng thế - PND), và như vậy đó là công việc của Chúa. Lúc đó ông Hawking rất hân hạnh là ông ta (Giáo hoàng) đã không biết gì về câu chuyện mà ông đã thuyết trình trong buổi hội thảo – cái khả năng rằng không - thời gian có thể có giới hạn, nhưng đã không có ranh giới, nó có nghĩa là đã không hề có một khởi đầu, không có một thời điểm nào cho sự sáng tạo.  Ông Hawking không hề có chút mong muốn nào phải chia xẻ số phận của Galileo, mà với ông ta (Galileo), ông có cái cảm giác sâu đậm về một sự trùng hợp, ông được sinh ra đúng 300 năm sau cái chết của ông Galileo.”

“Một vũ trụ trương nở không hàm chứa sự cần thiết có một hoá công, nhưng nó quả đã đặt ra những giới hạn về thời gian cho hoá công nếu có để triển khai công việc của ông ta.

“Cái ý tưởng rằng không - thời gian có hình dạng như một bề mặt khíp kín mà không có ranh giới cũng có một hàm ý sâu đậm về vai trò của Chúa trong các sự kiện vũ trụ. Với những thành tựu của các lý thuyết khoa học trong việc diễn tả những hiện tượng, hầu hết chúng ta đã tin rằng Chúa cho phép vũ trụ quay cuồng theo một mớ luật lệ, và không hề xen vào hành trình của vũ trụ để vi phạm các luật lệ nầy. Tuy nhiên, luật không cho chúng ta biết vũ trụ đã như thế nào khi nó mới bắt đầu – nó hầu như vẫn tuỳ thuộc vào việc Chúa lên dây cót cái đồng hồ và chọn lựa phải bắt đầu nó như thế nào. Chừng nào mà vũ trụ có một bắt đầu, chúng ta có thể giả thiếc rằng có một tạo hoá. Nhưng nếu vũ trụ thật sự hoàn toàn khép kín trong chính nó, không có ranh giới hay cạnh biên, nó sẽ không có bắt đầu cũng không có kết thúc. Vậy thì có chỗ nào để dành cho một tạo hóa?”

Luật bảo Toàn Năng Lượng: Định luật khoa học nói rằng năng lượng (và/hay vật chất tương đương của nó) không thể được sinh ra hoặc bị huỷ diệt.”

            6- The World As I See It:

Albert Einstein

“To inquire after the meaning or object of one's own existence or of creation generally has always seemed to me absurd from an objective point of view”

“The really valuable thing in the pageant of human life seems to me not the State but the creative, sentient individual, the personality; it alone creates the noble and the sublime, while the herd as such remains dull in thought and dull in feeling.”

“I cannot conceive of a God who rewards and punishes his creatures, or has a will of the type of which we are conscious in ourselves. An individual who should survive his physical death is also beyond my comprehension, nor do I wish it otherwise; such notions are for the fears or absurd egoism of feeble souls. Enough for me the mystery of the eternity of life, and the inkling of the marvellous structure of reality, together with the single-hearted endeavour to comprehend a portion, be it never so tiny, of the reason that manifests itself in nature.”

Tạm dịch:

“Băng khoăng về cái ý nghĩa hay sự kiện hiên hữu của mình, hay sự sáng tạo nói chung, đối với tôi hình như chỉ là đần độn từ cái nhìn về đối tượng.”

“Gía trị thực sự trong sự thể hiện của một đời người với tôi hình như không phải chỉ là một Trạng thái nhưng là cái cá thể có tính cảm nhận và tạo tác, một nhân tính, tự nó tạo ra tính cao cả và siêu việt, trong khi cả tập đoàn thì vẫn là ngu mê trong suy tư và cảm giác.”

“Tôi không thể cảm nhận được một Chúa thưởng và phạt chính tạo vật của ông ta, hay có cái ý định về cách chúng ta cảm nhận trong lòng. Một cá nhân có thể sống dậy từ cái chết thể lý của chính ông ta cũng vượt khỏi khả năng ý thức của tôi, mà tôi cũng không kỳ vọng nó khác hơn được, những ý niệm như vậy chỉ là dành cho sự sợ hãi hay lòng ích kỹ ngu mê của những tâm hồn bệnh hoạn. Thực là quá đủ đối với tôi về sự bí ẩn của một cuộc sống vĩnh cửu, và sự hoa mỹ của cái kiến trúc diễm lệ về một sự thật, cùng với một quyết tâm thiên lệch ích kỷ để cho dầu chỉ có thể hiểu được một phần, dù nhỏ nhoi đến mấy, cái lý do để nó có thể hiện hữu trong thiên nhiên.”

            7- Autobiographical Notes, "W Schilpp, Albert Einstein: Philosopher-Scientist”

Paul Davies

Einstein Quotations – Phát Biểu của Einstein:

* The Liberty of Doctrine - a propos of the Gunibel Case:

“I want to know how God created this world. I am not interested in this or that phenomenon, in the spectrum of this or that element. I want to know his thoughts. The rest are details.”

“Tôi muốn biết Chúa đã tạo ra thế giới bằng cách nào. Tôi không quan tâm đến hiện tượng nầy hay hiện tượng kia, trong cái hào quang của chi tiết nầy hay chi tiết nọ. Tôi muốn biết những ý nghĩ của ngài. Mọi sự khác chỉ là tiểu tiết.”

* Said to his Berlin student Esther Salaman, probably around 1920. See Salaman, "A Talk with Einstein," Listener 54 (1955), 370-371

“If God created the world, his primary concern was certainly not to make its understanding easy for us.”

“Nếu Chúa đã sáng tạo thế giới, điều quan tâm đầu tiên của ông ta chắc chắn phải là làm thế nào để cho chúng ta không dễ gì hiểu nỗi.”

* To David Bohm, February 10, 1954. Einstein Archive 8-041

“I can, if the worse comes to worst, still realize that God may have created a world in which there are no natural laws. In short, chaos. But that there 'should be statistical laws with definite Solutions, i.e., laws that compel God to throw dice in each individual case, I find highly disagreeable.”

“Tôi còn có thể, nếu cái xấu hơn trở thành xấu nhất, nhận chân được rằng có lẽ Chúa đã sáng tạo thế giới mà trong đó không hề có những luật lệ tự nhiên. Nói gọn, . sự hổn độn (may rủi). Nhưng ở đó có lẽ những định luật thống kê lại phải có những giải đáp nhất định, i.e. những luật lệ nầy chủ quan quyết định việc Chúa thảy con lúc lắc như thế nào trong mỗi trường hợp. Tôi thấy không thể nào đồng ý.

* To James Franck. Quoted by C. P. Snow in French, Einstein: A Centenary Volume, 6

“In the beginning (if there was such a thing), God created Newton's laws of motion together with the necessary masses and forces. This is all; everything beyond this follows from the development of appropriate mathematical methods by means of deduction.”

“Lúc khởi đầu (nếu quả có điều nầy), Chúa đã sáng tạo những luật Newton về chuyển động cùng với những khối lượng và các lực cần thiết. Tất cả chỉ có thế, mọi sự khác đều theo sau qua sự triển khai thích hợp của các phương pháp toán học, bằng cách loại suy.”

            8- God & The New Physics

Paul Davies

“Before leaving the topic of the creation and whether or not it is meaningful to ask if it was caused by something, we must consider the possibility that the answer may be yes, but that the something may not be God.”

“There is no agreement among Christians on the weight to be placed on the biblical narrative of Genesis. In 1951, Pope Pius XII, addressing the Pontifical Academy of Sciences in Rome on the implications of modern scientific cosmology, alluded to the big bang theory, and the fact that “everything seems to indicate that the universe has in finite times a mighty beginning”. His remarks provoked a fierce reaction (not least among scientists), and contemporary theologians are still divided over whether the big bang is the creation event supposedly revealed to the Bible writers. Thus, Ernan McMullin of Notre Dame University in the United States, writing recently under the title, “How should cosmology relate to theology?”, concludes that: “What one cannot say is, first, that the Christian doctrine of creation "supports" the Big Bang model, or second, that the Big Bang model "supports" the doctrine of creation.". . “

Tạm dịch:

“Trước khi rời đề tài về sự sáng tạo và tìm hiểu xem có ý nghĩa gì không khi hỏi rằng có phải vũ trụ đã được tạo ra bởi một cái gì đó, chúng ta phải ghi nhận sự khả dĩ rằng câu trả lời có thể là “có”, nhưng cái gì đó thì có thể không phải là Chúa.”

“Không hề có sự đồng thuận nào giữa các tín đồ Ky-tô về độ tín cẩn có thể có của chương Sáng thế rất chi ly trong Kinh thánh. Năm 1951, Giáo hoàng Pius XII, trong khi nói chuyện trước Hàn Lâm Khoa Học Thánh kinh ở La mã về những ảnh hưởng tai hại của ngành khoa học vũ trụ tân tiến; đã đề cập đến thuyết về sự nỗ vũ trụ; và sự kiện rằng “mọi sự việc hình như chứng tỏ rằng vũ trụ có vô số lần khởi đầu rất toàn năng.” Những lưu ý của ông ta đã tạo ra một phản ứng rầm rộ (không có trong các nhà khoa học), và những nhà thần học cùng tông giáo cho đến nay vẫn còn bị chia rẽ trên quan điểm sự nỗ vũ trụ có phải là sự kiện đã được đặt ra với các tác giả Kinh thánh hay không. Rồi thì, Erman Mc Mullin của viện đại học Notre Dame ở Mỹ, trong một cuốn sách vừa mới viết dưới nhan đề, “Vũ trụ học có thể đã liên hệ như thế nào với thần học?”, kết luận rằng: “Cái không thể nói được là, trước hết, rằng đức tin Ky-tô về sự sáng tạo “hổ trợ” cho mô hình sự nỗ vũ trụ, thứ hai, rằng mô hình sự nỗ vũ trụ “hổ trợ” cho đức tin về sự sáng thế.”

            9:- The Extreme Oath of the Jesuits

      “I, M-N-, Now, in the presence of Almighty God, the Blessed Virgin Mary, the Blessed Michael the Archangel, the Blessed St. John the Baptist, the Holy Apostles St. Peter and St. Paul and all the saints and sacred hosts of heaven, and to you my ghostly father, the Superior General of the Society of Jesus, Founded by St. Ignatius Loyota, in the Pontificate of Paul the Third, and continued to the present, do by womb of virgin, the matrix of God, and the rod of Jesus Christ, declare and swear, that his holiness the Pope is Christ’s Vicegerent and is the true and only Head of the Catholic or Universal Church throughout the earth; and that by virtue of the keys of binding and loosing, given to his holiness by my Saviour, Jesus Christ, he hath power to depose heretical kings, princes, states, commonwealths and governments, all being illegal without his sacred confirmation and that they may safely be destroyed.

      “Therefore, to the utmost of my power, I shall and will defend this doctrine and His Holiness’ right and custom against all usurpers of the heretical of Protestant authority and all adherents in regard that they be usurped and heretical, opposing the sacred Mother Church of Rome. I do now renounce and disown any allegiance as due to any heretical king, prince, or state named Protestants or Liberals or obedience to any of their laws, magistrates or officers.

      “I do further promise and declare, that I will have no opinion or will of my own, or any mental reservation whatever, even as corpse or cadaver, (perinde accadaver), but will unhesitatingly obey each and every command that I may receive from my superiors in the Militia of the Pope and of Jesus Christ.

      “I furthermore promise and declare that I will when opportunity present, make and wage relentless war, secretly or openly, against all heretics, Protestants, and Liberals, as I am directed to do, to extirpate and exterminate them from the face of the whole earth; and that I will hang, burn, waste, boil, flay, strangle, and bury alive these infamous heretics, rip up the stomachs and wombs of their women and crush their infants’ heads against the walls, in order to annihilate forever their execrable race.

      “That when the same can not be done openly, I will secretly use the poisoned cup, the strangulating cord, the steel of the poniard or the leaden bullet, regardless of the honor, rank, dignity, or authority of the person or persons, whatever may be their condition in life, either public or private, as I at any time may be directed so to do by any agent of the Pope or Superior of the Brotherhood of the Holy Faith, of the Society of Jesus.

      “In confirmation of which, I hereby dedicate my life, my soul, and all my corporeal powers, and with this dagger which I now receive, I will subscribe my name written in my own blood, in testimony thereof; and should I prove false or weaken in my determination, may my brethren and fellow soldiers of the Militia of the Pope cut off my hand and my feet, and my throat from ear to ear, my belly opened and sculpture burned therein, with all the punishment that can be inflicted upon me on earth and my soul be tortured by demons in an eternal hell forever!”

Bản dịch của Thái Vân, theo “Gia Tô Thực Dân Sử Liệu” của Chu Văn Trình, Văn Sử Địa 1990, in lần thứ 3, Ban Tu Thư Tự Lực, trang 255-257):

      Lời Thề của các tu sĩ Dòng Tên[1] - (trước Tổng Quản Cộng Đồng Dòng Chúa Cứu Thế)

      “Con, tên là   . . .- Giờ đây, trước sự hiện diện của Chúa Toàn Năng, của Đức Mẹ Thánh Linh Đồng Trinh Maria, của các Thiên Thần Michael, của Thánh John Baptist, của các Thánh Tông Đồ Peter và Paul, và tất cả các vị Thánh Thần từ trên thiên đàng, và với Ngài, là Cha Thánh Linh, là Tổng Quản Cộng Đồng Dòng Chúa Cứu Thế, sáng lập bởi Thánh Ignatius Loyota trong nhiệm kỳ Giáo Hoàng Paul III, và tiếp tục đến ngày nay, được tạo thành từ cái tử cung của trinh nữ, bởi sự mầu nhiệm của Chúa, và quyền năng của Chúa Jesus Christ; xin tuyên thệ, rằng sự Thánh Linh của Giáo Hoàng là đại diện của Chúa Cứu Thế, xứng đáng là thủ lãnh duy nhất của Giáo Hội Gia Tô hay Giáo Hội Toàn Cầu; và theo bí quyết của sự ràng buộc và buông lơi đã được đấng cứu thế, Chúa Jesus ban cho, ngài có quyền năng trút bỏ các vị vua chúa dị giáo (khác “tôn giáo” – PND), các quốc gia, các nước Cộng Hòa Quốc Dân và các chính quyền, tất cả đều bất hợp pháp nếu họ không chịu phép bí tích của Chúa và chắc chắn họ sẽ bị huỹ diệt.

      “Do đó, với quyền lực tối hậu của con, con sẽ kiên quyết bảo vệ đường lối, quyền năng và tập quán của Đức Thánh Cha để chống lại tất cả những kẻ tiếm vị, những tên dị giáo, hay giới chức Tin Lành và đối với tất cả những kẻ liên đới, chúng sẽ bị tước đoạt và bị coi là dị giáo, chống lại quyền bất khả xâm phạm của Giáo Hội Đức Mẹ La Mã.

      “Giờ đây con xim tuyên bố từ bỏ mọi bổn phận như là món nợ đối với bất cứ những tên vua chúa dị giáo hay quốc gia mệnh danh là Tin Lành, hay Tự Do, hoặc tuân theo bất cứ điều luật tài phán hay viên chức nào của họ.

      “Con xin tuyên hứa thêm rằng, con sẽ không có ý kiến hay quyết định của riêng mình, ngay cả đặc nhượng tinh thần, thể xác, nhưng con không ngần ngại tuân theo mệnh lệnh của Cha Bề Trên trong vệ binh của Giáo Hoàng và của Chúa Jesus.

      “Con xin tuyên hứa rằng, trong trường hợp nếu có dịp, con sẽ tạo ra chiến tranh và tham chiến một cách bí mật hay công khai chống lại tất cả những kẻ dị giáo, Tin Lành, và Tự Do mà không do dự. Khi được lệnh thi hành, con sẽ tàn sát và triệt hạ tận gốc những tên nầy sạch trên khắp mặt địa cầu. Con sẽ không từ một kẻ nào, không kể tuổi tác, đàn ông, hay đàn bà, con sẽ treo cổ chúng, thiêu sống chúng, bỏ chúng vào nước sôi, lột da, siết cổ hay chôn sống những kẻ dị giáo, mổ bụng, moi bào thai trong tử cung vợ chúng nó ra và đạp nát đầu những hài nhi vào tường, trong mục đích huỷ diệt một dân tộc đáng ghét.

      “Khi nhiệm vụ kể trên không thể thi hành một cách công khai, con SẼ BÍ MẬT DÙNG LY THUỐC ĐỘC, DÙNG DÂY THẮC CỔ, DAO GĂM, HAY ĐẠN CHÌ, không cần biết đến danh gía, cấp bậc, phẩm hạnh, hay quyền hạn của một người hay một nhóm nào, bất cứ hoàn cảnh của họ trong cuộc sống, dù đời công hay cá nhân, bất cứ lúc nào được lệnh thi hành của bất cứ vị đại diện nào của Giáo Hoàng hay Cha Bề Trên, của Huynh Đệ của Hội Thánh Linh Chúa Jeus.

      “Trong sự xác quyết tuyên thệ, con xin dâng hiến đời con, linh hồn con, và tất cả quyền năng cụ thể của con, và với LƯỠU DAO THÁNH GIÁO mà con hiện đã nhận được, con sẽ viết tên con bằng chính máu của con, trong lời thề nầy; nếu con gỉa dối hay yếu mềm trong quyết định của con, thì người đại diện hay bạn đồng ngũ, vệ binh của Giáo Hoàng có thể cắt bỏ tay chân con, cưa cổ con từ tai nầy qua tai kia, banh bụng con nhét lưu huỳnh vào mà đốt, con xin chịu tất cả những hình phạt đau đớn trên trái đất và linh hồn con, sẽ bị quỷ sứ dưới địa ngục hành hạ đời đời!”

            10 :

giaodiem

 Henry VIII

giaodiemEngland was far distant and isolated from the rest of Europe. While Protestantism tore apart European society, it took a far different form in England, retaining much of the doctrine and the practices of Catholicism. England also experienced the greatest wavering between the two religions as the monarchs of England passed from one religion to the next.

   England had, for several centuries, an uncomfortable relationship with Rome. Some of the most strident and successful reformers in the Middle Ages were English; the first translation of the Bible from Latin into a vernacular language was made in England. Two major movements in England&emdash;the Wycliffite rebellion against the church in the fourteenth century (Wycliff was the first to translate the Bible into a vernacular language) and the spread of Northern humanism&emdash;prepared the foundations for English Protestantism.

Henry VIII
by Luke Hornbelt

   The adoption of Protestantism, however, was a political rather than a religious move. King Henry VIII had originally married Catherine of Aragon; since she had been previously married to his brother, though, Henry had to get special papal dispensation for the marriage. Marrying the wife of one's brother was incest; it was almost equivalent to marrying one's sister. The marriage, however, produced no male children to occupy the throne at Henry's death. Henry began to doubt both of the marriage and the spiritual validity of the marriage. In the mid-1520's, he met and fell in love with Ann Boleyn, a lady in waiting to Catherine. He wished to annul his marriage to Catherine and marry Ann; not only did he love Ann, he feared leaving the throne of England without a male heir.

   In order to marry Ann, the marriage with Catherine had to be annulled by the pope. Circumstances, however, were working against him. First, in order to marry Catherine, he needed special papal dispensation. Annulling the marriage would imply that the first papal dispensation was in error, something the pope was not willing to admit. Second, Charles V, the Holy Roman Emperor, had recently invaded Rome and captured the pope. While the pope was allowed to stay pope, he was the virtual prisoner of Charles. The answer to Henry's request, then, was no and no again.

   When he met with failure, Henry did what every other king would do. He fired his closest advisor. This was an important move. His closest advisor on the matter was Cardinal Wolsey, the Lord Chancellor of England. The negotiations with the papal court were largely carried out by Wolsey. When he failed, Henry dismissed and arrested him and replaced him with Thomas Cranmer and Thomas Cromwell. Both these men were sympathetic to the new ideas of Martin Luther. They gave the king some radical advice: if the pope does not grant the annulment, then split the English church off from the Roman church. Rather than the pope, the king would be the spiritual head of the English church. If the King wants an annulment, then the King can grant his own annulment.

   In 1529, the English Parliament began to debate this question; this debate would occupy the English Parliament for seven years and so gave it the name, the "Reformation Parliament." It did not settle the matter all at once,but steadily granted powers over the church clergy to the king. In 1531, the clergy of England recognized Henry as the head of the church, and in 1533, Parliament passed the "Submission of the Clergy," a law which placed the clergy completely under Henry's control. In that same year Henry married Ann Boleyn, who was already pregnant with his second daughter, Elizabeth. In 1534 Parliament stopped all contributions to the Roman chuch by English clergy and lay people and, in the same year, gave Henry complete control over all church appointments. Finally, the Act of Succession declared the children of Ann Boleyn to be the heirs to the throne and officially declared the king the supreme head of the church.

   Despite all this storm of activity, the English church didn't really change. The average person going to church would see almost no change in the practices or dogma of the church. It was still for all practical purposes a Catholic church; the only real difference that anybody would notice was the use of English Bibles in the church. In 1539, Henry reaffirmed his commitment to Catholic practice by passing into law the Six Articles. These articles affirmed the transubstantiation of the Eucharist (that is, that the Eucharist was mystically transformed into the body and blood of Christ), confession, private masses, celibate vows, and the sanctity of the Eucharistic cup. The only substantive change Henry made merely involved the head of the church. The English church, however, would radically change under Henry's successor, Edward VI.

Edward VI

   Edward VI (ruled 1547-1553) was Henry's third child, born by his third wife, Jane Seymour. Edward was only a teenager when he became king, but he thoroughly sympathized with the Protestant cause. Edward and Thomas Cranmer set about turning the church of England into a thoroughly Protestant church. He repealed the Six Articles, allowed clergy to marry, and imposed Thomas Cranmer's Book of Common Prayer on all church services. He also ordered any and all images and altars to be removed from churches. Had Edward lived, England would have become a more or less Calvinist country.

Mary

   Edward, however, died only six years into his reign. He was succeeded by Mary (1553-1558), who was Henry's first child by Catherine of Aragon. Mary had been raised in France and was devoutly Catholic. When she assumed the throne of England, she declared England to be a Catholic country and assertively went about converting churches back to Catholic practices. Images and altars were returned, the Book of Common Prayer was removed, clerical celibacy was reimposed, and Eucharistic practices reaffirmed. She met opposition with steely-eyed defiance; because of the sheer number of executions of Protestant leaders, the English would eventually call her "Bloody Mary." Had she lived longer, England would probably have reverted to Catholicism for another century or so.

Elizabeth I

   Mary was succeeded by Elizabeth, the daughter of Ann Boleyn. Henry had executed Ann as an adulterer and Elizabeth was declared a bastard child. Nevertheless, she assumed the throne in 1558 and reigned until 1603. Elizabeth was perhaps the greatest monarch in the history of England, and possibly the greatest and most brilliant monarch in European history.

   Elizabeth understood that her country was being torn apart by the warring doctrines. While she repealed Mary's Catholic legislation, she did not return to Edward's more austere Protestantism. Rather, she worked out a compromise church that retained as much as possible from the Catholic church while putting into place most of the foundational ideas of Protestantism.

   The pope excommunicated her and this created intense internal difficulties in England. For it was incumbent on any Catholic to attempt to assassinate or overthrow her if possible, and a large part of the English nobility was Catholic. Despite this, she managed to avoid assassination because of her brilliant political skills and her pervasive network of spies. The Catholic plots on her life finally met their end when she executed her cousin, Mary, Queen of Scots, in 1587.

   Mary was a cousin of Elizabeth's and the next in line for the English throne. She was a committed Catholic, but ruled over a country&emdash;Scotland&emdash; that had become and still is fiercely Calvinist. Catholic extremists in England understood that Elizabeth could spell the end of any hopes of a Catholic revival in England, so they began to plot Elizabeth's assassination. Mary, for her part, feeling justified by the Pope's excommunication of Elizabeth, foolishly took part in several of these plots. Elizabeth eventually brought her to trial and condemned her, reluctantly, to death.

   Elizabeth's greatest legacy was the spirit of compromise that infused her version of the Church of England. She managed to please Catholics by retaining several important aspects of Catholicism and also managed to please moderate Calvinists who wanted all traces of the Roman church to be expunged. She effected this by allowing English Calvinists (called "Puritans" because the wanted to purify the church from all Roman influences) to participate in Parliament and to set up semiautonomous congregations that practiced Calvinist doctrine but still recognized the Queen as the head of the church.

Richard Hooker

Tạm dịch:

Tin Lành Anh Quốc

Henry VIII

Nước Anh ở xa và cách ly với phần còn lại của Âu châu. Trong khi phong trào Canh cải đã chia rẻ người châu Âu, thì nó đã có một hình thức rất khác biệt ở Anh, còn giữ đậm nét tín lý và cách phụng sự của Ka-tô. Anh quốc cũng đã kinh qua một thời kỳ giao động lớn giữa hai tôn giáo khi những chính quyền quân chủ Anh đã thay đổi từ tôn giáo nầy qua tôn giáo khác.

Nước Anh đã có sự liên hệ lạnh nhạt với La mã trong nhiều thế kỷ. Một trong những cải cách nỗi tiếng và thành công nhất vào thời Trung cổ đã xảy ra ở Anh; lần đầu tiên cuốn Kinh thánh được dịch ra một thổ ngữ, cũng ở Anh. Hai phong trào lớn ở Anh-và-phụ-cận: phong trào cách mạng Wycliffite chống lại giáo hội trong thế kỷ thứ 14 (Wycliff là bản dịch đầu tiên của Kinh thánh ra một thổ ngữ), và sự phát triển của các nền văn hóa miền bắc, làm cơ sở, chuẩn bị cho phong trào Tin Lành ở Anh.

 

Henry VIII – theo Luke Hornbelt:

Sự phát triển đạo Tin Lành, tuy nhiên, đã là một phong trào có tính cách chính trị hơn là tôn giáo. Vua Henry VIII đầu tiên đã cưới bà Catherine of Aragon; sau khi mà bà ta trước đó đã lấy một người anh em ruột của ông, như vậy, Henry đã phải được phép bải bỏ luật lệ thông thường về hôn nhân của Giáo hoàng. Cưới người vợ của chính anh hay em mình là loạn luân; cũng gần giống như là cưới chị hay em của chính mình vậy. Tuy vây cuộc hôn nhân nầy cũng không đem lại cho ông một người con trai nào để nối ngôi vua.sau khi ông chết. Henry bắt đầu nghi ngờ cả hôn nhân lẫn tính thần quyền của nó. Vào giữa thập niên 1520’s, ông ta đã gặp và yêu thương bà Ann Boleyn, người đàn bà kế tiếp Catherine. Ông mong mỏi hũy bỏ hôn nhân với bà Catherine và cưới bà Ann; không phải chỉ vì ông yêu thương bà Ann, mà còn vì nỗi sợ hãi sẽ phải thoái ngôi mà không có con trai kế vị.

Để cưới bà Ann, hôn nhân với bà Catherine phải được Giáo hoàng hũy bỏ. Tuy nhiên, Hoàn cảnh đã nghịch lại với ông. Trước hết, trước kia để cưới Catherine, lẽ ra ông đã phải được sự chấp thuận bải bỏ luật lệ thông thường về hôn nhân của Giáo hoàng. Hũy bỏ hôn nhân nầy lại có nghĩa là sự chấp thuận đó đã sai lầm, một điều mà Giáo hoàng không tiện nhìn nhận. Thứ hai, Charles V, “Hoàng đế Thánh La mã”, đã vừa mới xâm lăng La mã và bắt giữ Giáo hoàng. Trong khi Giáo hoàng còn được cho phép giữ nguyên danh hiệu Giáo hoàng, thật ra ông chỉ là tù nhân của Charles. Vì vậy câu trả lời cho Henry đã là “Không”, và lại là  “Không”.

 

Khi ông cảm nhận được sự thất bại, Henry đã làm điều mà mọi vua chúa khác vẫn đã thường làm. Ông ta sa thải người cố vấn thân cận. Đây là một hành động quan trọng. Cố vấn thân cận nhất của ông ta là Hồng y Wolsey, một Đại diện Chúa cao nhất của nước Anh. Sự thương lượng với giáo hội lại hầu như chỉ do ông Wolsey tổ chức. Khi thất bại, Henry liền sa thải và bắt giữ ông nầy, và thay thế bằng hai ông Thomas Cranner và Thomas Cromwell. Cả hai ông nầy đều rất có cảm tình với những quan niệm mới của Martin Luther. Họ đã cho nhà vua những cố vấn rất cải cách; nếu Giáo hoàng không chuẩn thuận sự hũy hôn, thì hãy tách rời Giáo hội Anh ra khỏi La mã. Như vậy nếu muốn hũy hôn, nhà vua có thể tự công nhận cho mình.

 

Năm 1529, quốc hội Anh bắt đầu thảo luận vấn đề nầy; sự tranh cải hầu như đã chiếm trọn nghị trình của họ trong suốt bảy năm, và được gán cho một cái tên là “Quốc hội Cải cách.” Quốc hội nầy đã không tức thời giải quyết vấn đề một cách dứt khoác, nhưng đã dần dần chuyển đổi quyền lực từ các giáo sĩ qua nhà vua. Năm 1531, Hội đồng giáo sĩ Anh đã thừa nhận Anh hoàng là người đứng đầu Giáo hội, và đến năm 1533, quốc hội thông qua dự luật “Sự phục tùng của Hội đồng giáo sĩ,” một án luật đã hoàn toàn đặt Hội đồng giáo sĩ dưới sự kiểm soát của Henry. Cùng trong năm đó, Henry cưới bà Ann Boleyn, khi ấy bà đã mang thai đứa con gái thứ nhì của ông ta, Elizabeth. Năm 1534, quốc hội ngưng mọi đóng góp của tất cả giáo sĩ cũng như giáo dân Anh cho Giáo hội La mã, và trong cùng năm ấy, giao cho Henry toàn bộ quyền hành chấp chưởng trong Giáo hội. Cuối cùng, “Quy chế kế tục” đã tuyên bố rằng con cái của Ann Boleyn là những thừa kế của ngôi vua và chính thức công bố nhà vua đứng đầu Giáo hội.

 

Bất kể tất cả những sinh hoạt bảo tố nầy, Giáo hội Anh thật tế vẫn không có gì thay đổi. Giáo dân bình thường vẫn đến nhà thờ mà không hề thấy có một đổi thay nào trong cách thờ phượng và giáo điều của giáo hội. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn là những mục đích thờ phượng của giáo hội Ka tô; chỉ trừ ra một điểm khác biệt ghi nhận được là việc xữ dụng cuốn Kinh thánh Anh giáo trong giáo hội. Năm 1530, Henry xác nhận lại sư ưng thuận của ông trong các nghi thức Ka tô bằng cách thông qua một dự luật “Sáu chương.” Những chương nầy đã xác thực “Sự hóa thể” của “Lễ bang thánh thể” (đó là, xác nhận rằng Thánh thể đã được truyền vào thân thể và máu của chúa Ky-tô bằng phép lạ), sự xưng tội, (private mases), những lời nguyện độc thân, và sự thánh thiện của ly thánh thể. Một thay đổi thật sự mà Henry đã làm hầu như chỉ là cái ngôi đứng đầu giáo hội. Tuy vậy, Giáo hội Anh thực sự đã cải đổi rất nhiều dưới triều đại kế thừa cuả Henry, Edward VI.

 

Edward VI:

Edward VI (trị vì 1547 – 1553) là người con trai thứ ba của Henry, sinh bởi người vợ thứ ba của ông, Jane Seymour. Khi lên ngôi, Edward chỉ là một thanh niên dưới 20 tuổi, nhưng ông đã hoàn toàn có thiện cảm với sự cải cách. Edward và Thomas Cranner đã thực sự dàng xếp cải đổi giáo hội anh thành một giáo hội Tin lành. Ông ta đã hũy bỏ “Sáu chương”, cho phép giáo sĩ cưới vợ, và đặt cách xữ dụng cuốn sách “Sách cầu nguyện chung” của Thomas Cranner trong những lễ thờ phượng của giáo hội. Ônh cũng đã ra lệnh tháo gỡ mọi hình tượng và bàn thờ ra khỏi các nhà thờ. Nếu Edward còn sống, Anh quốc có lẽ ít nhiều đã biến thành xứ Tin lành (môn hộ Calvin).

 

Mary:

Tuy nhiên, Edward đã chết sau khi trị vì chỉ có sáu năm. Mary nối ngôi (1553-1558) ông ta, và là người con đầu của Henry với Catherine of Aragon. Mary đã được nuôi nấng ở Pháp và đã là một tín đồ Ka tô thuần thành. Khi bà lên ngôi ở Anh, bà đã tuyên bố Anh quốc là một quốc gia Ka tô và mạnh mẽ biến đổi các nhà thờ trở lại cách thờ phượng của Ka tô. Hình tượng và bàn thờ được dựng lên trở lại, và “Sách cầu nguyện chung” bị hũy bỏ, lời nguyện độc thân của giáo sĩ được tái áp dụng, và Lễ bang thánh thể được tái xác nhận. Bà đã gặp sự chống đối dữ dội; vì một số lượng khủng khiếp tội tử hình của các nhà lãnh đạo Tin lành, và nước Anh tự nhiên đã gọi bà là “Mary sắc máu”. Nếu bà sống lâu hơn, có lẽ Anh quốc đã bị biến cải thành một xứ Ka tô trong một thế kỷ nũa không chừng.

 

Elizabeth I:

Mary được nối ngôi bới Elizabeth, con gái của Ann Boleyn. Henry đã xử tử Ann vì tội ngoại tình và Elizabeth đã được gọi là đứa con hoang. Dẫu sao bà cũng đã lên ngôi năm 1558 và trị vì cho đến năm 1603. Elizabeth đã có lẽ là một nhà quân chủ vĩ đại nhất trong lịch sử nước Anh, và cũng có thể đã là một nhà quân chủ vĩ đại và thông minh nhất trong lịch sử của cả Âu châu.

Elizabeth hiểu rằng quốc gia của bà đã bị xé nát bởi những tín lý đầy tính chiến tranh. Trong khi bà hũy bỏ quốc hội Ky tô của Mary, bà cũng đã không trở lại với đạo Tin lành đơn thuần của Edward.. Thay vì như vậy, bà đã xây dựng một giáo hội dung hòa, vẫn giữ lại được chừng nào hay chừng ấy những hình thái của giáo hội Ka tô, trong khi áp dụng những quan niệm căn bản của Tin lành.

 

Giáo hoàng đã hũy bỏ phép thông công của bà, và điều nầy đã tạo ra những khó khăn lớn lao trong nội bộ Anh quốc. Vì một sự kiện là mọi tín đồ Ka tô đều đã mang trách nhiệm phải làm mọi cách để lật đổ và ám sát bà, và phần lớn giới thượng lưu là Ka tô. Mặc dầu vậy, bà đã khéo léo tránh khỏi sự ám sát, nhờ vào tài lãnh đạo chính trị khôn khéo và mạng lưới tình báo dày đặc của bà. Quyết tâm tiêu diệt bà của Ka tô đã chấm dứt khi bà xử tử người chị em họ, Mary, Nữ hoàng Tô Cách Lan, vào năm 1587.

 

Mary là một người chị em họ với Elizabeth và là người sẽ kế vị ngai vàng sau Elizabeth. Bà nầy là một tín đồ Ka tô tận tụy, nhưng bị khống chế bởi tập quán của quốc-gia-và-phụ-cận; Tô-cách-lan-và-phụ-cận; đã trở thành và vẫn còn là Tin lành mãnh liệt. Tín đồ Ka tô bảo thủ ở nước Anh hiểu rằng Elizabeth có thể chấm dứt mọi hy vọng phục hồi của Ka tô trên lãnh thổ nầy. Vì vậy họ đã bắt đầu lập kế hoạch ám sát bà. Về phần bà Mary, bà nầy cảm thấy rằng việc Giáo hoàng cắt phép thông công của Elizabeth là hợp lẽ, và đã ngu xuẩn tham gia vào nhiều hoạt động của kế hoạch ám sát nầy. Tự nhiên Elizabeth đã khởi tố và đã miễn cưởng kết án tử hình bà ta.

 

Di sản lớn nhất của Elizabeth là tinh thần hòa hợp pha trộn thành Giáo hội Anh. Bà đã uyển chuyển làm hài lòng nhiều tín đồ Ka tô bằng cách giữ lại rất nhiều thể cách quan trọng Ka tô và cũng đã khéo léo áp dụng những cải cách  mới mẽ của những tín đồ Tin Lành, mong mỏi dần dần đưa La mã đến chỗ bị xóa bỏ hẳn. Bà ảnh hưởng đến sự kiện nầy bằng cách cho phép tín đồ Tin lành ở Anh (Gọi là “Người được làm sạch” vì ước muốn làm sạch giáo hội khỏi ảnh hưởng của La mã) được tham gia vào quốc hội và thành lập một Giáo đoàn bán tự trị, hành trì tín lý Tin lành, nhưng vẫn thừa nhận Nữ hoàng là Giáo chủ.

Richard Hooker

INQUISITION:

The Inquisition, as a religious court, was operated by Church authorities; however, if a person was found to be heretical, they were turned over ("relaxed") to the secular authorities to be punished, since "the Church does not shed blood!" Torture was often used to gain repentance. Punishments ranged from public shame (dressing in the sambenito) to burning at the stake—dead after garroting (strangulation) for those who repented, alive for the unrepentant, or in effigy for those condemned in absentia. These punishments were conducted in public ceremonies (called auto de fe) that could last a whole day. The clerical members of the tribunal were assisted by civilians (familiares). The office of familiar of the Inquisition was very prestigious.

Tạm dịch: Tòa án dị giáo, một tòa án tôn giáo, điều hành bởi các giới chức quyền uy của các nhà thờ (Ky-tô); tuy nhiên nếu ai bị kết tội bỏ đạo hay chống đạo, họ đã bị giao cho (từ gọi là “cho thư giản”) những cơ quan hình sự xử phạt, vì “nhà thờ không làm đổ máu!” Hành hạ tra tấn thường được dùng để yêu sách sự hối cải. Hình phạt bao gồm từ sự xử nhục trước công chúng (áo hộp rộng thời trung cổ mà tòa án dị giáo Tây Ban Nha dùng mặc cho người bị kết tội bỏ đạo hay chống đạo), cột và đốt trên cây trụ - sau khi chết vì bị thắc cổ đối với người đã hối cải, khi đang còn sống đối với người không chịu hối cải - hay trong một cái hòm đối với người bị xử vắng mặt. Những hình phạt đó đã được hành xữ qua những nghi lễ công cọng (gọi là “Hành động của sự thật”) có thể kéo dài suốt cả ngày. Giáo sĩ thành viện tòa án được các chuyên viên dân sự trợ sự (gọi là các “chuyên viên”). Văn phòng chuyên viên của tòa án dị giáo rất có thế lực.

Pedro Berruguete. Saint Dominic presiding over an Auto-da-fe (1475).

giaodiemAuto de fe

From Wikipedia, the free encyclopedia.

The phrase auto de fe refers to the ritual of public penance or humiliation of condemned heretics and apostates that took place when the Spanish Inquisition or the Portuguese Inquisition had decided their punishment.

Auto de fe in medieval Spanish means "act of faith". The phrase also commonly occurs in English in its Portuguese form auto da fe (or auto da fé).

Punishments for those convicted by the Inquisition ranged from wearing a special identifying penetential tabard or sanbenit, through other penances or terms of imprisonment, to the ultimate penalty of being "relaxed", that is, being released to the secular arm. The secular state performed executions, which generally punished a repeated offense of heresy, following a first conviction. If prisoners in this category remained obdurate, the executioners burned them alive; but if such prisoners became reconciled to the Roman Catholic Church, the executioners would strangle them at the stake before lighting the fire.

Tạm dịch: Hình của Pedro Beruguete: Thánh Dominic chủ tọa một tòa án “Hành động của sự thật” (1475)

 

Hành động của sự thật

 

Tài liệu Wikipedia, trong the free encyclopedia.

Nhóm từ hành động của sự thật được dẫn từ nghi thức ép buộc cải hối hay ăn năn trước công chúng của những người chối đạo hay chống đạo đã khởi diễn trong thời kỳ mà Toà án Dị giáo Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha đã quyết định xử phạt họ.

Auto de fe trong thời kỳ Tây Ban Nha trung cổ có nghĩa là “hành động của sự thật”. Nhóm từ nầy cũng hiện diện phổ thông trong Anh ngữ dưới hình thức tiếng gốc Bồ Đào Nha auto da lé.

 

giaodiem Những hình phạt dành cho tội nhân các tòa án dị giáo bao gồm từ việc phải mang áo hộp ngắn tay dành cho tội nhân tôn giáo thời trung cố, qua những hình thức hành hạ khác, cho đến hình phạt khủng khiếp được gọi là “cho thư giản”, tức là, bị giao cho hình sự. Cơ quan hình sự thi hành việc xử chết,  thường được dùng để trừng trị những người tiếp tục chống đạo hay bỏ đạo, sau lần vi phạm thứ nhất. Nếu tù nhân thuộc loại nầy giữ nguyên thái độ, những xử nhân sẽ đốt sống họ; nhưng nếu những tù nhân nào đã có sự chuẩn thuận của Giáo hội La mã, thì những xử nhân sẽ cột và hành hạ họ trên cây trụ trước khi châm lửa đốt.

 

Autos de fe took place in public squares or esplanades. They lasted several hours: ecclesiastical and civil authorities attended.

The first auto de fe took place in Seville, Spain, in 1481, with the execution of six men and women. The Inquisition enjoyed limited power in Portugal, having been established in 1536 and officially lasting until 1821, although its influence was much weakened with the government of Marquis of Pombal, in the second half of the 18th century.

Autos de fe also took place in Mexico, Brazil and Peru: contemporary historians of the Conquistadors such as Bernal Díaz del Castillo recorded them. They also occurred in the Portuguese colony of Goa, India, following the establishment of Inquisition there in 1562-1563.

The last execution due to the Spanish Inquisition – the last auto de fe – involved the schoolmaster Cayetano Ripoll and took place on July 26, 1826. His trial (on a charge of deism) lasted nearly two years. He died by garotting on the gibbet.

 

giaodiem Tạm dịch: Autos de fe được tổ chức ở những quảng trường hay những khoảng đât trống công cọng. Những cuộc hành xử thường kéo dài nhiều tiếng đồng hồ; có sự hiện diện của những chức sắc thẩm quyền của “Tòa thánh” cũng như chính quyền.

“Hành động của sự thật” lần đầu tiên xảy ra ở Seville, Tây Ban Nha, vào năm 1481, đã xử tử sáu người vừa đàn ông lẫn đàn bà. Tòa án dị giáo, thực hiện quyền hành xử của họ ở Bồ đào Nha, đã được thành lập vào năm 1536 và chính thức tồn tại cho đến năm 1821, mặc dầu tác dụng của nó đã bị suy yếu nhiều qua chính quyền của Marquis of Pombal (13 May 1699 – 15 May 1782) trong hạ bán thế kỷ thứ 18.

“Hành động của sự thật” cũng đã xảy ra ở Mễ Tây Cơ, Ba Tây, và Pê-Ru; đã được những sử gia đương thời của quân xâm lượt (Tây Ban Nha) như ông Bernal Diaz del Castillo ghi chép lại. Chúng cũng xảy ra ở các thuộc địa của Bồ đào Nha như Goa, Ấn Độ, theo sau sự thành lập các toà án dị giáo ở những nơi nầy vào năm 1562 – 1563.

Vụ xử tử hình cuối cùng của tòa án dị giáo – “hành động của sự thật” sau cùng - xảy ra với nhà giáo Cayetano Ripoll vào ngày 26 tháng 7 năm 1826. Vụ xử ông ta (về tội “Duy lý”, không tin Chúa trời) đã kéo dài suốt hai năm. Ông chết vì bị thắc cổ trên trụ đứng. 

This picture is described as displaying Roman Catholic Church officials presiding over the torture of a man during the Spanish Inquisition.