posted: 28.12.2005
![]() |
1- Vài ghi chú thêm: EXODUS:
Moses dẩn dân Do Thái rời Ai Cập về
đất hứa, vua Pharaon không cho. Lúc đó Chúa còn được gọi là El-Shaddai
(chưa được gọi là Jehovah), có nghĩa là “Terrible Power.” Chúa liền khủng
bố tinh thần Pharaon bằng cách gây tai họa liên tiếp trên dân Ai Cập: Biến
sông Nile thành máu, cá chết hết, không có nước uống,. . Sai thiên thần
xuống giết hết những đứa con đầu lòng, kể cả con đầu lòng của
súc vật, . . tiếng than khóc khắp nước Ai Cập, nhà nào cũng có một người
chết, . . JOSHUA:
Joshua kế vị Moses. Chúa ra lệnh tiêu diệt thành phố Hà Ai, 12,000 dân, cả
đàn bà, trẻ con, vì không nghe lời Chúa. . giết 31 vị vua quanh vùng, và
hàng triệu dân của các vua nầy, .
2- Ý Nghĩa Địa Ngục: Chúa
Giê-xu mô tả: 1.
Ðó là nơi lửa cháy (Ma-thi-ơ 5:22), nơi thân xác đau đớn (Ma-thi-ơ
5:29,30); nơi phân cách hoàn toàn với Ðức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 7:23); nơi tối
tăm, khóc lóc và nghiến răng (Ma-thi-ơ 8:12). Các
sứ đồ mô tả: 2. Nơi
lửa cháy (Gia-cơ 3:6, Giu-đe 6,7), nơi khói đau khổ tỏa lên đời đời (Khải
huyền 14:11); hồ lửa là sự chết thứ hai (Khải Huyền 20:14, 15).
3- Pope Says Hell Is a Self-Inflicted Fate: Hell is a reality and
eternal damnation is a self-inflicted punishment, Pope John Paul II told pilgrims
attending his weekly general audience Wednesday. “Hell is not a
punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and
actions which people adopt in this life”, the Roman Catholic pontiff said. “It
is the ultimate consequence of sin itself”. John Paul regularly speaks
at his general audience on questions arising from church teachings. His talk on Hell
followed a discourse last week on heaven. Which he said is “neither an
abstraction nor a physical place in the clouds, but a living and personal relationship of
union with the Holy Trinity”. A lengthy editorial
published two weeks ago with the “Hell exists,
not as a place but as a state, a way of being of the person who suffers the pain of the
deprivation of God”, read the editorial in the journal. Speaking in similar terms,
the Pope told the 8,500 pilgrims attending his audience that “more than a physical
place, hell is the state of those who freely and definitively separate themselves
from God, the source of all life and joy”. “So eternal damnation
is not God’s work but is actually our own doing”, he said. Demons, he said, “are creatures who have already given a definitive “no” to God. These are the spirits who rebelled against God. They serve as a warning for human beings. Eternal damnation remains a real possibility for us too”. Religion News Service
Tạm
dịch: Giáo
Hoàng nói Địa Ngục là Khổ Mệnh Tự Tạo Nhật
báo Los Angeles Times, Chủ Nhật, ngày 31 tháng 7 năm 2999 Địa
ngục là
một sự thật và sự đày đọa là một hình phạt tự tạo. Giáo Hoàng đã
nói với những người hành hương tham dự buổi tiếp kiến tổng quát mỗi
tuần của Ngài vào ngày thứ Tư. “Địa ngục không phải là một hình
phạt được đặt để từ bên ngoài bởi Chúa, nhưng là điều kiện hậu
quả từ tính tình và hành vi của người ta trong cuộc đời nầy”, vị giáo chủ đạo Ca Tô La Mã đã
nói. “Nó là hậu quả tất nhiên của
chính tội ác.” Quỉ dữ,
ngài nói, “là tạo vật (nào) đã quyết định “từ chối” Chúa. Đây
là những linh hồn đã chống lại Chúa. Chúng xem như là lời cảnh cáo cho
loài người. Sự đọa đày vĩnh cữu cũng hiện diện như là một sự khả
dĩ thực sự đối với chúng ta.”
4- The Birth of the Universe – The Big Bang and After Trịnh Xuân Thuận
“Continuous Creation
in a Universe Without Beginning or End”
“Quite
a few cosmologists found this model (which contended that the universe has had the same
appearance at all times - PND) appealing because it avoided a creation event and its
religious implications.” “On
the other hand, if the cosmic density is greater than the critical value,
then the universe is finite and its expansion will eventually cease, giving way to an
accelerating contraction.... The contraction is just the expansion run backward: after
50,000 million years the universe would have regained its present
size, and after another 10,000 million years it would approach a singular state of
infinite density....” “Can
we really carry this sad story all the way to its end, to a state of infinite temperature
and density? Does time really have a stop some three minutes after the temperature reaches
a thousand million degrees? Obviously, we
cannot be sure....” “From
these uncertainties some cosmologists derive a sort of hope. It may be that the universe
will experience a kind of cosmic "bounce," and begin to re-expand.... But if the
universe does re-expand, its expansion will again slow to a halt and be followed by
another contraction, ending in another cosmic [expiration], followed by another bounce,
and so on forever....” Tạm
dịch: “Sự sáng tạo liên
tục trong vũ trụ không có bắt đầu cũng như chấm dứt.” “Có
không ít các nhà Vũ Trụ Học tìm thấy mô hình nầy (mô tả một vũ trụ
luôn luôn có hình thể bất biến với thời gian) khá hấp dẫn vì nó đã
tránh được hiện tượng sáng tạo và cái hàm ý tôn giáo của nó.” “Về
mặt khác, nếu tỉ trọng của vũ trụ lớn hơn một trị số quyết định,
thì vũ trụ có giới hạn và sự trương nở của nó sẽ đương nhiên ngưng
lại, tạo điều kiện cho một sự co rút gia tốc. . . Sự co rút chỉ đơn
thuần là một sự trương nở theo chiều ngược lại: sau 50,000 triệu năm
vũ trụ sẽ trở về cái kích thước hiện nay, và sau 10,000 triệu năm nữa,
nó sẽ tiến tới một dạng điểm có tỉ trọng vô cực. . .” Chúng
ta có thể tiếp tục cái câu chuyện buồn bả nầy mãi cho đến cái kết
cuộc của nó, cái trạng thái nhiệt độ và tỉ trọng vô cùng lớn? Có
phải thời gian sẽ ngưng lại ở khoảng 3 phút sau khi nhiệt độ đã lên
đến một ngàn triệu độ? Rõ ràng, chúng ta không thể bảo đảm được.
. .” “Từ
những sự vô định (tính không xác định) nầy một số nhà Vũ Trụ Học
đã đem lại vài hy vọng. Có thể là
vũ trụ sẽ thể hiện một loại “dội ngược vũ trụ” nào đó, và bắt
đầu trương nở trở lại . . Nhưng nếu vũ trụ trương nở trở lại, sự
trương nở của nó lại sẽ chậm lại, tới chỗ dừng hẳn, và tiếp nối
bằng một sự co rút khác, chấm dứt trong một sự bù trừ khác, rồi tiếp
nối bằng một sự dội ngược khác, và cứ như vậy mãi mãi . . “
5- A
Brief History of Time
Stephen
Hawking “In
order to talk about the nature of the universe and to discuss questions such as whether it
has a beginning or an end, you have to be clear about what a scientific theory is.” “However, within a few
years we should know whether we can believe that we live in a universe that is completely
self-contained and without beginning or end.” “Throughout the 1970’s I
had been mainly studying black holes, but in 1981 my interest in questions about the
origin and fate of the universe was reawakened when I attended a conference on cosmology
organized by the Jesuits in the “An
expanding universe does not preclude a creator, but it does place
limits on when he might have carried out his job!” “The idea that space and
time may form a closed surface without boundary also has profound implications for the
role of God in the affairs of the universe. With the
success of scientific theories in describing events, most people have come to believe
that God allows the universe to evolve according to a set of laws and does not intervene
in the universe to break these laws. However, the laws do not tell us what the universe
should have looked like when it started-it would still be up to God to wind up the
clockwork and choose how to start it off. So long as the universe had a beginning, we
could suppose it had a creator. But if the universe is really completely
self-contained, having no boundary or edge, it would have neither beginning nor end: it
would simply be. What place, then, for a creator?” “Conservation of
energy: The law of science that states that energy (or its equivalent in mass) can neither
be created nor destroyed.” Tạm
dịch: “Để bàn về tự tính của vũ trụ,
và thảo luận về những vấn đề như có hay không một bắt đầu hay một
kết thúc, bạn phải phân biện rõ ràng về lý thuyết khoa học mà bạn
dùng.” “Tuy vậy, trong vài năm nữa, có lẽ
chúng ta sẽ biết, có thể tin được hay không, rằng chúng ta đang sống
trong một vũ trụ hoàn toàn tự dung chứa, không có một bắt đầu hay kết
thúc.” “Trong thập niên 1970’s, ông Hawking
đã chuyên nghiên cứu về các lỗ đen, nhưng trong năm 1981 sự quan tâm của
ông Hawking về những câu hỏi về nguồn gốc và số phận của vũ trụ lại
được thức tỉnh khi ông tham dự một buổi hội thảo về vũ trụ học
được tổ chức bởi Dòng Chúa Cứu Thế ở Vatican. Ky-tô Giáo đã phạm một
lỗi lầm tệ hại với ông Galileo khi họ đã cố áp đặt luật lệ trên
một vấn đề khoa học, tuyên bố rằng mặt trời quay chung quanh trái đất.
Bây giờ, sau nhiều thế kỷ, họ đã quyết định mời một số chuyên gia
cố vấn cho họ về vũ trụ học. Cuối buổi hội thảo, tham dự viên được
dịp tiếp kiến Giáo hoàng. Ông ta đã nói với tham dự viên rằng, nghiên
cứu về sự tiến hóa của vũ trụ sau vụ nổ lớn thì được, nhưng chúng
ta không nên lạm bàn về chính cái vụ nổ lớn đó vì đó là thời điểm
của sự sáng tạo (sáng thế - PND), và như vậy đó là công việc của
Chúa. Lúc đó ông Hawking rất hân hạnh là ông ta (Giáo hoàng) đã không biết
gì về câu chuyện mà ông đã thuyết trình trong buổi hội thảo – cái khả năng rằng không - thời gian có thể
có giới hạn, nhưng đã không có ranh giới, nó có nghĩa là đã không hề
có một khởi đầu, không có một thời điểm nào cho sự sáng tạo. Ông Hawking không hề có chút mong muốn nào
phải chia xẻ số phận của Galileo, mà với ông ta (Galileo), ông có cái cảm
giác sâu đậm về một sự trùng hợp, ông được sinh ra đúng 300 năm sau
cái chết của ông Galileo.” “Một vũ trụ trương nở không hàm
chứa sự cần thiết có một hoá công, nhưng nó quả đã đặt ra những giới
hạn về thời gian cho hoá công nếu có để triển khai công việc của ông
ta. “Cái ý tưởng rằng không - thời
gian có hình dạng như một bề mặt khíp kín mà không có ranh giới cũng có
một hàm ý sâu đậm về vai trò của Chúa trong các sự kiện vũ trụ. Với
những thành tựu của các lý thuyết khoa học trong việc diễn tả những
hiện tượng, hầu hết chúng ta đã tin rằng Chúa cho phép vũ trụ quay cuồng
theo một mớ luật lệ, và không hề xen vào hành trình của vũ trụ để
vi phạm các luật lệ nầy. Tuy nhiên, luật không cho chúng ta biết vũ trụ
đã như thế nào khi nó mới bắt đầu – nó hầu như vẫn tuỳ thuộc vào
việc Chúa lên dây cót cái đồng hồ và chọn lựa phải bắt đầu nó như
thế nào. Chừng nào mà vũ trụ có một bắt đầu, chúng ta có thể giả
thiếc rằng có một tạo hoá. Nhưng nếu vũ trụ thật sự hoàn toàn khép
kín trong chính nó, không có ranh giới hay cạnh biên, nó sẽ không có bắt đầu cũng không có kết
thúc. Vậy thì có chỗ nào để dành cho một tạo hóa?” “Luật bảo Toàn Năng Lượng:
Định luật khoa học nói rằng năng lượng (và/hay vật chất tương
đương của nó) không thể được sinh ra hoặc bị huỷ diệt.”
6- The World As I See It: Albert
Einstein “To
inquire after the meaning or object of one's own existence or of creation generally has
always seemed to me absurd from an objective point of view” “The really valuable thing in the pageant
of human life seems to me not the State but the creative, sentient individual,
the personality; it alone creates the noble and the sublime, while the herd
as such remains dull in thought and dull in feeling.” “I
cannot conceive of a God who rewards and punishes his creatures, or has a will of the type
of which we are conscious in ourselves. An individual who should survive his physical
death is also beyond my comprehension, nor do I wish it otherwise; such notions are for
the fears or absurd egoism of feeble souls. Enough for me the mystery of the
eternity of life, and the inkling of the marvellous structure of reality, together with
the single-hearted endeavour to comprehend a portion, be it never so tiny, of the reason
that manifests itself in nature.” Tạm
dịch: “Băng
khoăng về cái ý nghĩa hay sự kiện hiên hữu của mình, hay sự sáng tạo
nói chung, đối với tôi hình như chỉ là đần độn từ cái nhìn về đối
tượng.” “Gía trị thực sự
trong sự thể hiện của một đời người với tôi hình như không phải chỉ
là một Trạng thái nhưng là cái cá thể có tính cảm nhận và tạo tác, một
nhân tính, tự nó tạo ra tính cao cả và siêu việt, trong khi cả tập đoàn
thì vẫn là ngu mê trong suy tư và cảm giác.” “Tôi
không thể cảm nhận được một Chúa thưởng và phạt chính tạo vật của
ông ta, hay có cái ý định về cách chúng ta cảm nhận trong lòng. Một cá
nhân có thể sống dậy từ cái chết thể lý của chính ông ta cũng vượt
khỏi khả năng ý thức của tôi, mà tôi cũng không kỳ vọng nó khác hơn
được, những ý niệm như vậy chỉ là dành cho sự sợ hãi hay lòng ích kỹ
ngu mê của những tâm hồn bệnh hoạn. Thực là quá đủ đối với tôi về
sự bí ẩn của một cuộc sống vĩnh cửu, và sự hoa mỹ của cái kiến
trúc diễm lệ về một sự thật, cùng với một quyết tâm thiên lệch
ích kỷ để cho dầu chỉ có thể hiểu được một phần, dù nhỏ nhoi đến
mấy, cái lý do để nó có thể hiện hữu trong thiên nhiên.”
7- Autobiographical Notes, " Paul Davies Einstein Quotations –
Phát Biểu của Einstein: * The “I want to know how God created this world. I am not interested in this or that phenomenon, in the spectrum of this or that element. I want to know his thoughts. The rest are details.” “Tôi muốn biết Chúa đã tạo ra thế giới bằng cách nào. Tôi không quan tâm đến hiện tượng nầy hay hiện tượng kia, trong cái hào quang của chi tiết nầy hay chi tiết nọ. Tôi muốn biết những ý nghĩ của ngài. Mọi sự khác chỉ là tiểu tiết.” * Said
to his “If God created the world, his primary concern was certainly not to make its understanding easy for us.” “Nếu Chúa đã sáng tạo thế giới, điều quan tâm đầu tiên của ông ta chắc chắn phải là làm thế nào để cho chúng ta không dễ gì hiểu nỗi.” * To
David Bohm, February 10, 1954. Einstein Archive 8-041 “I can, if the worse comes to worst,
still realize that God may have created a world in which there are no natural laws. In
short, chaos. But that there 'should be statistical laws with definite Solutions, i.e.,
laws that compel God to throw dice in each individual case, I find highly disagreeable.” “Tôi còn có thể, nếu cái xấu hơn
trở thành xấu nhất, nhận chân được rằng có lẽ Chúa đã sáng tạo thế
giới mà trong đó không hề có những luật lệ tự nhiên. Nói gọn, . sự
hổn độn (may rủi). Nhưng ở đó có lẽ những định luật thống kê lại
phải có những giải đáp nhất định, i.e. những luật lệ nầy chủ quan
quyết định việc Chúa thảy con lúc lắc như thế nào trong mỗi trường hợp.
Tôi thấy không thể nào đồng ý. * To
James Franck. Quoted by C. P. Snow in French, Einstein: A Centenary
Volume, 6 “In the beginning (if there was such a
thing), God created “Lúc khởi đầu (nếu
quả có điều nầy), Chúa đã sáng tạo những luật
8-
God & The New Physics
Paul
Davies “Before
leaving the topic of the creation and whether or not it is meaningful to ask if it was
caused by something, we must consider the possibility that the answer may be yes, but that
the something may not be God.” “There
is no agreement among Christians on the weight to be placed on the biblical narrative of
Genesis. In 1951, Pope Pius XII, addressing the Pontifical Academy of Sciences in Rome on
the implications of modern scientific cosmology, alluded to the big bang theory, and the
fact that “everything seems to indicate that the universe has in finite times a mighty
beginning”. His remarks provoked a fierce reaction (not least among scientists), and
contemporary theologians are still divided over whether the big bang is the creation event
supposedly revealed to the Bible writers. Thus, Ernan McMullin of Notre Dame University in
the United States, writing recently under the title, “How should cosmology relate to
theology?”, concludes that: “What one cannot say is, first, that the Christian
doctrine of creation "supports" the Big Bang model, or second, that the Big
Bang model "supports" the doctrine of creation.". . “ Tạm dịch: “Trước khi rời đề
tài về sự sáng tạo và tìm hiểu xem có ý nghĩa gì không khi hỏi rằng
có phải vũ trụ đã được tạo ra bởi một cái gì đó, chúng ta phải
ghi nhận sự khả dĩ rằng câu trả lời có thể là “có”, nhưng cái gì
đó thì có thể không phải là Chúa.” “Không hề có sự
đồng thuận nào giữa các tín đồ Ky-tô về độ tín cẩn có thể có của
chương Sáng thế rất chi ly trong Kinh thánh. Năm 1951, Giáo hoàng Pius XII,
trong khi nói chuyện trước Hàn Lâm Khoa Học Thánh kinh ở La mã về những
ảnh hưởng tai hại của ngành khoa học vũ trụ tân tiến; đã đề cập
đến thuyết về sự nỗ vũ trụ; và sự kiện rằng “mọi sự việc
hình như chứng tỏ rằng vũ trụ có vô số lần khởi đầu rất toàn năng.”
Những lưu ý của ông ta đã tạo ra một phản ứng rầm rộ (không có
trong các nhà khoa học), và những nhà thần học cùng tông giáo cho đến
nay vẫn còn bị chia rẽ trên quan điểm sự nỗ vũ trụ có phải là sự
kiện đã được đặt ra với các tác giả Kinh thánh hay không. Rồi thì,
Erman Mc Mullin của viện đại học Notre Dame ở Mỹ, trong một cuốn sách vừa
mới viết dưới nhan đề, “Vũ trụ học có thể đã liên hệ như thế nào
với thần học?”, kết luận rằng: “Cái không thể nói được là, trước
hết, rằng đức tin Ky-tô về sự sáng tạo “hổ trợ” cho mô hình sự
nỗ vũ trụ, thứ hai, rằng mô hình sự nỗ vũ trụ “hổ trợ” cho đức
tin về sự sáng thế.”
9:- The Extreme Oath of the Jesuits “I, M-N-, Now, in the
presence of Almighty God, the Blessed Virgin Mary, the Blessed Michael the Archangel, the
Blessed St. John the Baptist, the Holy Apostles St. Peter and St. Paul and all the saints
and sacred hosts of heaven, and to you my ghostly father, the Superior General of the
Society of Jesus, Founded by St. Ignatius Loyota, in the Pontificate of Paul the Third,
and continued to the present, do by womb of virgin, the matrix of God, and the rod of
Jesus Christ, declare and swear, that his holiness the Pope is Christ’s Vicegerent and
is the true and only Head of the Catholic or Universal Church throughout the earth; and
that by virtue of the keys of binding and loosing, given to his holiness by my Saviour,
Jesus Christ, he hath power to depose heretical kings, princes, states, commonwealths and
governments, all being illegal without his sacred confirmation and that they may safely be
destroyed. “Therefore, to the utmost
of my power, I shall and will defend this doctrine and His Holiness’ right and custom
against all usurpers of the heretical of Protestant authority and all adherents in regard
that they be usurped and heretical, opposing the sacred Mother Church of Rome. I do now
renounce and disown any allegiance as due to any heretical king, prince, or state named
Protestants or Liberals or obedience to any of their laws, magistrates or officers. “I do further promise and
declare, that I will have no opinion or will of my own, or any mental reservation
whatever, even as corpse or cadaver, (perinde accadaver), but will unhesitatingly obey
each and every command that I may receive from my superiors in the Militia of the Pope and
of Jesus Christ. “I furthermore promise and
declare that I will when opportunity present, make and wage relentless war, secretly or
openly, against all heretics, Protestants, and Liberals, as I am directed to do, to
extirpate and exterminate them from the face of the whole earth; and that I will hang,
burn, waste, boil, flay, strangle, and bury alive these infamous heretics, rip up the
stomachs and wombs of their women and crush their infants’ heads against the walls, in
order to annihilate forever their execrable race.
“That when the same can not be done openly, I will secretly use the
poisoned cup, the strangulating cord, the steel of the poniard or the leaden bullet,
regardless of the honor, rank, dignity, or authority of the person or persons, whatever
may be their condition in life, either public or private, as I at any time may be directed
so to do by any agent of the Pope or Superior of the Brotherhood of the Holy Faith, of the
Society of Jesus. “In confirmation of which,
I hereby dedicate my life, my soul, and all my corporeal powers, and with this dagger
which I now receive, I will subscribe my name written in my own blood, in testimony
thereof; and should I prove false or weaken in my determination, may my brethren and
fellow soldiers of the Militia of the Pope cut off my hand and my feet, and my throat from
ear to ear, my belly opened and sculpture burned therein, with all the punishment that can
be inflicted upon me on earth and my soul be tortured by demons in an eternal hell
forever!” Bản dịch của
Thái Vân, theo “Gia Tô Thực Dân Sử Liệu” của Chu Văn Trình, Văn Sử Địa
1990, in lần thứ 3, Ban Tu Thư Tự Lực, trang 255-257): Lời Thề của các tu
sĩ Dòng Tên[1]
- (trước Tổng Quản Cộng Đồng Dòng Chúa Cứu Thế)
“Con, tên là . . .- Giờ đây,
trước sự hiện diện của Chúa Toàn Năng, của Đức Mẹ Thánh Linh Đồng
Trinh Maria, của các Thiên Thần Michael, của Thánh John Baptist, của các
Thánh Tông Đồ Peter và Paul, và tất cả các vị Thánh Thần từ trên
thiên đàng, và với Ngài, là Cha Thánh Linh, là Tổng Quản Cộng Đồng Dòng
Chúa Cứu Thế, sáng lập bởi Thánh Ignatius Loyota trong nhiệm kỳ Giáo
Hoàng Paul III, và tiếp tục đến ngày nay, được tạo thành từ cái tử
cung của trinh nữ, bởi sự mầu nhiệm của Chúa, và quyền năng của Chúa
Jesus Christ; xin tuyên thệ, rằng sự Thánh Linh của Giáo Hoàng là đại diện
của Chúa Cứu Thế, xứng đáng là thủ lãnh duy nhất của Giáo Hội Gia
Tô hay Giáo Hội Toàn Cầu; và theo bí quyết của sự ràng buộc và buông lơi
đã được đấng cứu thế, Chúa Jesus ban cho, ngài có quyền năng trút bỏ
các vị vua chúa dị giáo (khác “tôn giáo” – PND), các quốc gia, các nước
Cộng Hòa Quốc Dân và các chính quyền, tất cả đều bất hợp pháp nếu
họ không chịu phép bí tích của Chúa và chắc chắn họ sẽ bị huỹ diệt.
“Do đó, với quyền lực tối hậu của con, con sẽ kiên quyết bảo
vệ đường lối, quyền năng và tập quán của Đức Thánh Cha để chống
lại tất cả những kẻ tiếm vị, những tên dị giáo, hay giới chức Tin
Lành và đối với tất cả những kẻ liên đới, chúng sẽ bị tước đoạt
và bị coi là dị giáo, chống lại quyền bất khả xâm phạm của Giáo Hội
Đức Mẹ La Mã.
“Giờ đây con xim tuyên bố từ bỏ mọi bổn phận như là món nợ
đối với bất cứ những tên vua chúa dị giáo hay quốc gia mệnh danh là
Tin Lành, hay Tự Do, hoặc tuân theo bất cứ điều luật tài phán hay viên
chức nào của họ.
“Con xin tuyên hứa thêm rằng, con sẽ không có ý kiến hay quyết định
của riêng mình, ngay cả đặc nhượng tinh thần, thể xác, nhưng con không
ngần ngại tuân theo mệnh lệnh của Cha Bề Trên trong vệ binh của Giáo
Hoàng và của Chúa Jesus.
“Con xin tuyên hứa rằng, trong trường hợp nếu có dịp, con sẽ tạo
ra chiến tranh và tham chiến một cách bí mật hay công khai chống lại tất
cả những kẻ dị giáo, Tin Lành, và Tự Do mà không do dự. Khi được lệnh
thi hành, con sẽ tàn sát và triệt hạ tận gốc những tên nầy sạch trên
khắp mặt địa cầu. Con sẽ không từ một kẻ nào, không kể tuổi tác,
đàn ông, hay đàn bà, con sẽ treo cổ chúng, thiêu sống chúng, bỏ chúng
vào nước sôi, lột da, siết cổ hay chôn sống những kẻ dị giáo, mổ bụng,
moi bào thai trong tử cung vợ chúng nó ra và đạp nát đầu những hài nhi
vào tường, trong mục đích huỷ diệt một dân tộc đáng ghét.
“Khi nhiệm vụ kể trên không thể thi hành một cách công khai, con SẼ
BÍ MẬT DÙNG LY THUỐC ĐỘC, DÙNG DÂY THẮC CỔ, DAO GĂM, HAY ĐẠN CHÌ,
không cần biết đến danh gía, cấp bậc, phẩm hạnh, hay quyền hạn của
một người hay một nhóm nào, bất cứ hoàn cảnh của họ trong cuộc sống,
dù đời công hay cá nhân, bất cứ lúc nào được lệnh thi hành của bất
cứ vị đại diện nào của Giáo Hoàng hay Cha Bề Trên, của Huynh Đệ của
Hội Thánh Linh Chúa Jeus.
“Trong sự xác quyết tuyên thệ, con xin dâng hiến đời con, linh hồn
con, và tất cả quyền năng cụ thể của con, và với LƯỠU DAO THÁNH GIÁO
mà con hiện đã nhận được, con sẽ viết tên con bằng chính máu của
con, trong lời thề nầy; nếu con gỉa dối hay yếu mềm trong quyết định
của con, thì người đại diện hay bạn đồng ngũ, vệ binh của Giáo
Hoàng có thể cắt bỏ tay chân con, cưa cổ con từ tai nầy qua tai kia, banh
bụng con nhét lưu huỳnh vào mà đốt, con xin chịu tất cả những hình phạt
đau đớn trên trái đất và linh hồn con, sẽ bị quỷ sứ dưới địa ngục
hành hạ đời đời!”
10 :
Henry
VIII The
adoption of Protestantism, however, was a political rather than a religious move. King
Henry VIII had originally married Catherine of Aragon; since she had been previously
married to his brother, though, Henry had to get special papal dispensation for the
marriage. Marrying the wife of one's brother was incest; it was almost equivalent to
marrying one's sister. The marriage, however, produced no male children to occupy the
throne at Henry's death. Henry began to doubt both of the marriage and the spiritual
validity of the marriage. In the mid-1520's, he met and fell in love with Ann Boleyn, a
lady in waiting to Catherine. He wished to annul his marriage to Catherine and marry Ann;
not only did he love Ann, he feared leaving the throne of In
order to marry Ann, the marriage with Catherine had to be annulled by the pope.
Circumstances, however, were working against him. First, in order to marry Catherine, he
needed special papal dispensation. Annulling the marriage would imply that the first papal
dispensation was in error, something the pope was not willing to admit. Second, Charles V,
the Holy Roman Emperor, had recently invaded When
he met with failure, Henry did what every other king would do. He fired his closest
advisor. This was an important move. His closest advisor on the matter was Cardinal
Wolsey, the Lord Chancellor of England. The negotiations with the papal court were
largely carried out by Wolsey. When he failed, Henry dismissed and arrested him and
replaced him with Thomas Cranmer and Thomas Cromwell. Both these men were
sympathetic to the new ideas of Martin Luther. They gave the king some radical advice: if
the pope does not grant the annulment, then split the English church off from the Roman
church. Rather than the pope, the king would be the spiritual head of the English church.
If the King wants an annulment, then the King can grant his own annulment. In
1529, the English Parliament began to debate this question; this debate would occupy the
English Parliament for seven years and so gave it the name, the "Reformation
Parliament." It did not settle the matter all at once,but steadily granted powers
over the church clergy to the king. In 1531, the clergy of Despite
all this storm of activity, the English church didn't really change. The average person
going to church would see almost no change in the practices or dogma of the church. It was
still for all practical purposes a Catholic church; the only real difference that anybody
would notice was the use of English Bibles in the church. In 1539, Henry reaffirmed his
commitment to Catholic practice by passing into law the Six Articles. These
articles affirmed the transubstantiation of the Eucharist (that is, that the Eucharist was
mystically transformed into the body and blood of Christ), confession, private masses,
celibate vows, and the sanctity of the Eucharistic cup. The only substantive change Henry
made merely involved the head of the church. The English church, however, would
radically change under Henry's successor, Edward VI. Edward
VI Edward
VI (ruled 1547-1553) was Henry's third child, born by his third wife, Jane Seymour. Edward
was only a teenager when he became king, but he thoroughly sympathized with the Protestant
cause. Edward and Thomas Cranmer set about turning the church of England into a thoroughly
Protestant church. He repealed the Six Articles, allowed clergy to marry, and imposed
Thomas Cranmer's Book of Common Prayer on all church services. He also ordered any
and all images and altars to be removed from churches. Had Edward lived, Mary Edward,
however, died only six years into his reign. He was succeeded by Mary (1553-1558), who was
Henry's first child by Catherine of Aragon. Mary had been raised in Elizabeth
I Mary
was succeeded by Elizabeth, the daughter of Ann Boleyn. Henry had executed Ann as an
adulterer and The
pope excommunicated her and this created intense internal difficulties in Mary
was a cousin of Richard
Hooker Tạm
dịch: Tin
Lành Anh Quốc Henry VIII Nước
Anh ở xa và cách ly với phần còn lại của Âu châu. Trong khi phong trào
Canh cải đã chia rẻ người châu Âu, thì nó đã có một hình thức rất
khác biệt ở Anh, còn giữ đậm nét tín lý và cách phụng sự của Ka-tô.
Anh quốc cũng đã kinh qua một thời kỳ giao động lớn giữa hai tôn giáo
khi những chính quyền quân chủ Anh đã thay đổi từ tôn giáo nầy qua tôn
giáo khác. Nước
Anh đã có sự liên hệ lạnh nhạt với La mã trong nhiều thế kỷ. Một
trong những cải cách nỗi tiếng và thành công nhất vào thời Trung cổ đã
xảy ra ở Anh; lần đầu tiên cuốn Kinh thánh được dịch ra một thổ ngữ,
cũng ở Anh. Hai phong trào lớn ở Anh-và-phụ-cận: phong trào cách mạng
Wycliffite chống lại giáo hội trong thế kỷ thứ 14 (Wycliff là bản dịch
đầu tiên của Kinh thánh ra một thổ ngữ), và sự phát triển của các nền
văn hóa miền bắc, làm cơ sở, chuẩn bị cho phong trào Tin Lành ở Anh.
Henry VIII – theo Luke Hornbelt: Sự
phát triển đạo Tin Lành, tuy nhiên, đã là một phong trào có tính cách
chính trị hơn là tôn giáo. Vua Henry VIII đầu tiên đã cưới bà Catherine
of Aragon; sau khi mà bà ta trước đó đã lấy một người anh em ruột của
ông, như vậy, Henry đã phải được phép bải bỏ luật lệ thông thường
về hôn nhân của Giáo hoàng. Cưới người vợ của chính anh hay em mình
là loạn luân; cũng gần giống như là cưới chị hay em của chính mình vậy.
Tuy vây cuộc hôn nhân nầy cũng không đem lại cho ông một người con trai
nào để nối ngôi vua.sau khi ông chết. Henry bắt đầu nghi ngờ cả hôn
nhân lẫn tính thần quyền của nó. Vào giữa thập niên 1520’s, ông ta đã
gặp và yêu thương bà Ann Boleyn, người đàn bà kế tiếp Catherine. Ông
mong mỏi hũy bỏ hôn nhân với bà Catherine và cưới bà Ann; không phải chỉ
vì ông yêu thương bà Ann, mà còn vì nỗi sợ hãi sẽ phải thoái ngôi mà
không có con trai kế vị. Để
cưới bà Ann, hôn nhân với bà Catherine phải được Giáo hoàng hũy bỏ.
Tuy nhiên, Hoàn cảnh đã nghịch lại với ông. Trước hết, trước kia để
cưới Catherine, lẽ ra ông đã phải được sự chấp thuận bải bỏ luật
lệ thông thường về hôn nhân của Giáo hoàng. Hũy bỏ hôn nhân nầy lại
có nghĩa là sự chấp thuận đó đã sai lầm, một điều mà Giáo hoàng
không tiện nhìn nhận. Thứ hai, Charles V, “Hoàng đế Thánh La mã”, đã vừa
mới xâm lăng La mã và bắt giữ Giáo hoàng. Trong khi Giáo hoàng còn được
cho phép giữ nguyên danh hiệu Giáo hoàng, thật ra ông chỉ là tù nhân của
Charles. Vì vậy câu trả lời cho Henry đã là “Không”, và lại là “Không”.
Khi
ông cảm nhận được sự thất bại, Henry đã làm điều mà mọi vua chúa
khác vẫn đã thường làm. Ông ta sa thải người cố vấn thân cận. Đây
là một hành động quan trọng. Cố vấn thân cận nhất của ông ta là Hồng
y Wolsey, một Đại diện Chúa cao nhất của nước Anh. Sự thương lượng với
giáo hội lại hầu như chỉ do ông Wolsey tổ chức. Khi thất bại, Henry liền
sa thải và bắt giữ ông nầy, và thay thế bằng hai ông Thomas Cranner và
Thomas Cromwell. Cả hai ông nầy đều rất có cảm tình với những quan niệm
mới của Martin Luther. Họ đã cho nhà vua những cố vấn rất cải cách; nếu
Giáo hoàng không chuẩn thuận sự hũy hôn, thì hãy tách rời Giáo hội Anh
ra khỏi La mã. Như vậy nếu muốn hũy hôn, nhà vua có thể tự công nhận
cho mình.
Năm
1529, quốc hội Anh bắt đầu thảo luận vấn đề nầy; sự tranh cải hầu
như đã chiếm trọn nghị trình của họ trong suốt bảy năm, và được gán
cho một cái tên là “Quốc hội Cải cách.” Quốc hội nầy đã không tức
thời giải quyết vấn đề một cách dứt khoác, nhưng đã dần dần chuyển
đổi quyền lực từ các giáo sĩ qua nhà vua. Năm 1531, Hội đồng giáo sĩ
Anh đã thừa nhận Anh hoàng là người đứng đầu Giáo hội, và đến năm
1533, quốc hội thông qua dự luật “Sự phục tùng của Hội đồng giáo sĩ,”
một án luật đã hoàn toàn đặt Hội đồng giáo sĩ dưới sự kiểm soát
của Henry. Cùng trong năm đó, Henry cưới bà Ann Boleyn, khi ấy bà đã mang
thai đứa con gái thứ nhì của ông ta, Elizabeth. Năm 1534, quốc hội ngưng mọi
đóng góp của tất cả giáo sĩ cũng như giáo dân Anh cho Giáo hội La mã,
và trong cùng năm ấy, giao cho Henry toàn bộ quyền hành chấp chưởng trong
Giáo hội. Cuối cùng, “Quy chế kế tục” đã tuyên bố rằng con cái của
Ann Boleyn là những thừa kế của ngôi vua và chính thức công bố nhà vua
đứng đầu Giáo hội.
Bất
kể tất cả những sinh hoạt bảo tố nầy, Giáo hội Anh thật tế vẫn
không có gì thay đổi. Giáo dân bình thường vẫn đến nhà thờ mà không
hề thấy có một đổi thay nào trong cách thờ phượng và giáo điều của
giáo hội. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn là những mục đích thờ phượng
của giáo hội Ka tô; chỉ trừ ra một điểm khác biệt ghi nhận được là
việc xữ dụng cuốn Kinh thánh Anh giáo trong giáo hội. Năm 1530, Henry xác
nhận lại sư ưng thuận của ông trong các nghi thức Ka tô bằng cách thông
qua một dự luật “Sáu chương.” Những chương nầy đã xác thực “Sự
hóa thể” của “Lễ bang thánh thể” (đó là, xác nhận rằng Thánh thể
đã được truyền vào thân thể và máu của chúa Ky-tô bằng phép lạ), sự
xưng tội, (private mases), những lời nguyện độc thân, và sự thánh thiện
của ly thánh thể. Một thay đổi thật sự mà Henry đã làm hầu như chỉ
là cái ngôi đứng đầu giáo hội. Tuy vậy, Giáo hội Anh thực sự đã cải
đổi rất nhiều dưới triều đại kế thừa cuả Henry, Edward VI.
Edward VI: Edward
VI (trị vì 1547 – 1553) là người con trai thứ ba của Henry, sinh bởi người
vợ thứ ba của ông, Jane Seymour. Khi lên ngôi, Edward chỉ là một thanh niên
dưới 20 tuổi, nhưng ông đã hoàn toàn có thiện cảm với sự cải cách.
Edward và Thomas Cranner đã thực sự dàng xếp cải đổi giáo hội anh thành
một giáo hội Tin lành. Ông ta đã hũy bỏ “Sáu chương”, cho phép giáo sĩ
cưới vợ, và đặt cách xữ dụng cuốn sách “Sách cầu nguyện chung” của
Thomas Cranner trong những lễ thờ phượng của giáo hội. Ônh cũng đã ra lệnh
tháo gỡ mọi hình tượng và bàn thờ ra khỏi các nhà thờ. Nếu Edward
còn sống, Anh quốc có lẽ ít nhiều đã biến thành xứ Tin lành (môn hộ
Calvin).
Mary: Tuy
nhiên, Edward đã chết sau khi trị vì chỉ có sáu năm. Mary nối ngôi
(1553-1558) ông ta, và là người con đầu của Henry với Catherine of
Elizabeth I: Mary
được nối ngôi bới Elizabeth, con gái của Ann Boleyn. Henry đã xử tử Ann
vì tội ngoại tình và Elizabeth hiểu rằng quốc gia của
bà đã bị xé nát bởi những tín lý đầy tính chiến tranh. Trong khi bà hũy
bỏ quốc hội Ky tô của Mary, bà cũng đã không trở lại với đạo Tin lành
đơn thuần của Edward.. Thay vì như vậy, bà đã xây dựng một giáo hội
dung hòa, vẫn giữ lại được chừng nào hay chừng ấy những hình thái của
giáo hội Ka tô, trong khi áp dụng những quan niệm căn bản của Tin lành.
Giáo
hoàng đã hũy bỏ phép thông công của bà, và điều nầy đã tạo ra những
khó khăn lớn lao trong nội bộ Anh quốc. Vì một sự kiện là mọi tín đồ
Ka tô đều đã mang trách nhiệm phải làm mọi cách để lật đổ và ám
sát bà, và phần lớn giới thượng lưu là Ka tô. Mặc dầu vậy, bà đã
khéo léo tránh khỏi sự ám sát, nhờ vào tài lãnh đạo chính trị khôn
khéo và mạng lưới tình báo dày đặc của bà. Quyết tâm tiêu diệt bà của
Ka tô đã chấm dứt khi bà xử tử người chị em họ, Mary, Nữ hoàng Tô
Cách Lan, vào năm 1587.
Mary
là một người chị em họ với
Di sản
lớn nhất của Richard
Hooker INQUISITION: The Inquisition, as a
religious court, was operated by Church authorities; however, if a person was found to be
heretical, they were turned over ("relaxed") to the secular authorities to be
punished, since "the Church does not shed blood!" Torture
was often used to gain repentance. Punishments ranged from public shame (dressing in the sambenito) to burning at the stake—dead after garroting
(strangulation) for those who repented, alive for the unrepentant, or in effigy
for those condemned in absentia. These punishments were conducted in public ceremonies
(called auto de fe) that could last a whole day. The
clerical members of the tribunal were assisted by civilians (familiares). The
office of familiar of the Inquisition was very prestigious. Tạm dịch: Tòa án dị
giáo, một tòa án tôn giáo, điều hành bởi các giới chức quyền uy của
các nhà thờ (Ky-tô); tuy nhiên nếu ai bị kết tội bỏ đạo hay chống đạo,
họ đã bị giao cho (từ gọi là “cho thư giản”) những cơ quan hình
sự xử phạt, vì “nhà thờ không làm đổ máu!” Hành hạ tra tấn
thường được dùng để yêu sách sự hối cải. Hình phạt bao gồm từ sự
xử nhục trước công chúng (áo hộp rộng thời trung cổ mà tòa án dị
giáo Tây Ban Nha dùng mặc cho người bị kết tội bỏ đạo hay chống đạo),
cột và đốt trên cây trụ - sau khi chết vì bị thắc cổ đối với người
đã hối cải, khi đang còn sống đối với người không chịu hối cải -
hay trong một cái hòm đối với người bị xử vắng mặt. Những hình phạt
đó đã được hành xữ qua những nghi lễ công cọng (gọi là “Hành động
của sự thật”) có thể kéo dài suốt cả ngày. Giáo sĩ thành viện
tòa án được các chuyên viên dân sự trợ sự (gọi là các “chuyên
viên”). Văn phòng chuyên viên của tòa án dị giáo rất có thế lực. Pedro Berruguete. Saint Dominic presiding over an Auto-da-fe (1475).
|