giaodiem copyright
posted: 29.12.2005
giaodiem
"Coitus" is the last temptation of Christ!
giaodiem

So, is "up there" the last temptation of le nhan?

-note: Giaodiem's caption

KIẾN THỨC CHỈ CÓ VẬY THÔI HAY SAO ??
Vài Ý Kiến Về Một Bài Viết Của
Lê Nhân – Hà Nội - VN

                                                               Trần Chung Ngọc

Tôi không hiểu sao Giao Điểm lại đưa bài Mừng Chúa giáng sinh, bàn thêm về vấn đề tôn giáo” của Lê Nhân lên, một bài chỉ thích hợp với Trang Nhà Đàn Chim Việt hoặc các trang nhà Ki-Tô Giáo mà thôi, vì nội dung, giá trị văn phong và kiến thức trong đó không thể thích hợp với Giao Điểm.  Đối với giới trí thức và hiểu biết ngày nay thì chuyện “giáng sinh” trong Matthew và Luke chỉ là những chuyện phịa một cách vụng về như tôi đã chứng minh trong bài “Một Món Quà Giáng Sinh Cho 4 Linh Mục” trên trang nhà Giao Điểm tháng 12.  Cho nên ai muốn mừng thì cứ việc mừng, cũng như mọi người đều có quyền mừng một Chú Cuội trên Cung Hằng. Nhưng về sau tôi mới biết là người ta đã cố nài nỉ, yêu cầu đi, yêu cầu lại, và còn nói khích để bài đó được đăng trên Giao Diểm cho nên Giao Điểm cũng chẳng hẹp hòi gì mà không đăng, để cho độc giả thấy giá trị của một bài trên Trang Nhà Đàn Chim Việt.  Có lẽ tác giả muốn được nổi tiếng trên trang nhà Giao Điểm, một trang nhà được nhiều người đọc trên khắp thế giới.  Cũng có thề vì nội dung bài là để đả kích, chụp mũ vu vơ Giao Điểm nên tác giả coi đó như là một thách đố, cho rằng Giao Điểm không dám đăng.  Nhưng Giao Điểm đâu có sợ, đăng liền, chứng tỏ rằng Giao Điểm không coi những lời viết rất hạ cấp, chụp mũ vu vơ của tác giả vào đâu.  Sau một thời gian, tôi lại thấy Giao Điểm hạ bài đó xuống.  Tuy không hỏi Giao Điểm, nhưng tôi đoán chắc có một số độc giả phàn nàn là để bài đó trên Giao Điểm chỉ làm giảm giá trị của Giao Điểm mà thôi.  Tôi bèn nẩy ra ý định viết một bài phê bình để quý độc giả thấy rõ văn phong, tư cách, thủ đoạn, trình độ v..v.. của Lê Nhân và từ đó có thể đánh giá đúng bài viết của Lê Nhân.

Trước khi viết, tôi có hỏi một số bạn bè quen thuộc là có nên phê bình bài viết này không?  Tất cả đều trả lời là “mất thì giờ làm gì với thứ rác rưởi đó”.   Nhưng tự nghĩ, mình không vào địa ngục để hốt rác thì ai vào đây.  Cho nên tôi lại phải đeo “khẩu trang” xông vào hốt rác với hi vọng nhờ đó thiên hạ có thể thở được chút không khí trong sạch hơn một chút, và để cho độc giả của Giao Điểm biết đâu là rác rưởi và đâu là những nghiên cứu trí thức nghiêm chỉnh...  Tôi viết bài này với tư cách cá nhân, không phải là viết thay cho Giao Điểm.  Tôi không ở trong tổ chức Giao Điểm nên không có trách nhiệm này.  Nào! Bây giờ chúng ta bắt đầu.

Mở đầu bài Mừng Chúa giáng sinh, bàn thêm về vấn đề tôn giáo”, Lê Nhân viết:

"Này Lê Nhân, Chúa có tính Phật không? Có! Phật bảo: Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành! Chúa bảo: Ta ở khắp mọi nơi! Vậy thì, đi thấu Phật sẽ gặp Chúa và ngược lại Đọc kỹ những lời Phật dạy và Chúa phán, Lê Nhân xin thách những kẻ đang mượn Chúa để chống Phật, mượn Phật để chống Chúa tìm thấy sự mâu thuẫn trong lý thuyết của các Ngài, rằng: 95% ý nghĩa lời dạy của hai đại đức này trùng nhau?"

Chẳng phải thách đâu, dù tôi không phải là người ngu xuẩn đến mức mượn Phật để chống Chúa. Chúa chống Phật thì có, vụ đốt Chùa Hiển Quang trong giáo xứ Bà Rịa ở Việt Nam gần đây là một thí dụ, vụ “Bà vào bà đánh lung tung” để cướp Chùa Lá Vằng biến thành Thánh địa La Vang cho Mẹ Chúa là một thí dụ nữa trong hàng trăm ngàn thí dụ khác, chứ chưa bao giờ có ai mượn Phật chống Chúa, nhất là ở trong Giao Điểm. Những người trong Giao Điểm tuy phần lớn là Phật tử nhưng chưa có ai nhân danh Phật hay Phật Giáo để chống Chúa.  Họ chỉ đưa ra những sự thật về Chúa, những sự thật bất khả phủ bác, vì chúng nằm trong kho tài liệu trên khắp thế giới, đặc biệt trong thế giới văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nhưng rất hiếm thấy trong Phật Giáo.  Vì vậy Lê Nhân viết “những kẻ đang mượn Phật để chống Chúa” là viết bậy, vừa không hiểu gì về Chúa, vừa không hiểu gì về Phật.  Đọc ngay câu đầu chúng ta cũng đã thấy rõ là Lê Nhân chỉ biết một chứ không biết hai.  Chứng minh:

Này Lê Nhân!  Điều ông biết một là Phật có nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, đúng vậy.  Đức Phật cũng còn nói:  “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính”.  Do đó, Chúa của ông, sinh sau Phật khoảng trên 500 năm, tất nhiên cũng có Phật tính, việc gì phải hỏi.  Nhưng Phật tính là gì, chẳng qua chỉ là khả năng giác ngộ, nhìn được vạn pháp như chúng thật là như vậy (như thực tri kiến), không còn vọng tưởng, nghĩa là khả năng trở thành người tỉnh thức.  Khả năng thì có đấy nhưng nếu bị màn vô minh  dày đặc che khuất thì đến Chúa, Chúa Cha, Chúa Con, hay Chúa Ma cũng phải chịu thôi, không làm sao hiển lộ được Phật tính.   Do đó Chúa vẫn chỉ là Chúa, mà Phật luôn luôn đã là Phật.  Lê Nhân không hiểu được điều này nên cứ viết lăng nhăng về Phật Tính một cách hết sức ngớ ngẩn, chứng tỏ kiến thức về Phật Giáo của Lê Nhân là con số không, hoặc là như kiến thức của Alexandre de Rhodes trong Phép Giảng Tám Ngày và của các thừa sai khác trong thế kỷ 18-19.

Điều ông không biết hai là Chúa chưa bao giờ phán “Ta ở khắp mọi nơi”, chưa kể là ở trên đời này chẳng làm gì có Chúa, nhất lại là một Chúa giáng sinh để mà mửng [Xin đọc bài Một Món Quà Giáng Sinh Cho 4 Linh Mục của tôi trên trang nhà Giao Điểm], mà chỉ có một anh đầu óc bệnh hoạn, sống trong hoang tưởng, con một ông thợ mộc ở Nazareth tận tít bên miền Trung Đông, được những người trong thời bán khai tôn lên làm Chúa.  Đừng có cho tôi là phỉ báng Chúa nhé, tôi không có viết chơi đâu. 

Thật vậy, ngày nay, qua các công cuộc nghiên cứu  Kinh Thánh để tìm ra con người thực của Giê-su, đa số học giả đã cho rằng nhiều chuyện trong Kinh Thánh là những chuyện hoang đường, và đối với một số học giả trong ngành phân tâm học thì những điều Giê-su tự nhận như: “con duy nhất của Thiên Chúa”, “có khả năng chuộc tội cho nhân loại”, “đấng cứu thế”, “sẽ trở lại trần phán xét thiên hạ trong tương lai gần thời Giê-su” v..v.. đều là những ảo tưởng của một người bị bệnh tâm thần, mắc bệnh chứng hoang tưởng (paranoia).  Bệnh chứng này bắt nguồn từ một nguồn gốc lý lịch không mấy tốt đẹp của Giê-su, một tâm cảnh cuồng tín tôn giáo của Giê-su khi ông đọc và tuyệt đối tin những điều trong Cựu Ước, sinh ra nhiều ảo giác và tự cho mình những quyền năng thần thánh, vai trò cứu thế, rửa sạch tội lỗi nhân loại v..v..  Đó là kết luận của những nhà phân tâm học như các bác sĩ George de Loosten, William Hirsch, Binet-Sanglé, Tiến sĩ Emil Rasmussen v..v.. [Xin đọc thêm chi tiết về những nhận định của các bác sĩ tâm thần trên trong cuốn Giê-su Là Ai?  Giảng Dạy Những Gì? đã đưa lên trang nhà Giao Điểm gần đây]

Chỗ nào trong Kinh Thánh mà Chúa phán “Ta ở khắp mọi nơi”, Lê Nhân hãy nêu lên tôi coi.  Thuộc tính “Ta ở khắp mọi nơi” (omnipresent) là thuộc tính giáo hội Ca-Tô La Mã gán cho con ông thợ mộc trên, cùng với một lô những thuộc tính hoang đường mâu thuẫn khác như toàn năng, toàn trí, không ai thấy, không ai hiểu được v..v… để lòe bịp những đầu óc chứa toàn mì ăn liền chứ chẳng phải có ở trong Kinh Thánh.  Nhưng phân tích kỹ câu phán trên mà Lê Nhân cho là của Chúa thì chúng ta lại thấy nhiều điều thú vị.  Vì khắp mọi nơi đúng là khắp mọi nơi, không có chỗ nào mà không có, không chừa chỗ nào, vì Chúa là Chúa mà.  Vài chỗ điển hình: Tsunami, Katrina, Tina, bệnh AIDS, SARS, Cúm Gà, và cả ở trong những “hang hùm bé tị” của Lê Nhân viết trong bài.  Và như vậy Lê Nhân ở trong đời đã nhiều lần thấy Chúa ở khắp nơi rồi, có thể thấy hàng ngày mỗi khi có nhu cầu nào trong tứ khoái, có phải như vậy không?   này, Lê Nhân!  Đừng có cho là tôi phỉ báng Chúa đấy nhé.  Lê Nhân viết vậy chứ không phải tôi, tôi chỉ diễn giải (interpret) thêm cho đúng nghĩa và rõ nghĩa câu “Ta ở khắp mọi nơi” của Lê Nhân viết mà không hiểu mình viết cái gì.

Vậy đọc kỹ những lời Phật dạy và Chúa không hề phán thì chúng ta thấy đầy dẫy những mâu thuẫn trong lý thuyết  của các Ngài, giả thử là Chúa cũng có lý thuyết.   Bàn về lý thuyết của Phật thì chúng ta có thiên kinh vạn quyển, trong đó tuyệt đối không có một điều nào bất nhân độc ác, giết người, loạn luân.  Còn lý thuyết của Chúa thì chúng ta có cuốn Kinh Thánh, hơn nửa là những chuyện độc ác, giết người hàng loạt, loạn luân, phi lý trí, phản khoa học.  Như vậy có thể gọi là mâu thuẫn được hay không hả Lê Nhân.  Hơn nữa, Phật là bậc đại đức, đúng, vì Phật không nói chứ đừng nói là làm một điều gì ác, không có phân biệt chúng sinh.   Nhưng Chúa thì không thể nào là một đại đức được.  Một người mà lên tiếng nguyền rủa những người không tin mình là đồ rắn rết, phải đầy hỏa ngục vĩnh viễn để bị ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt, coi thường cha mẹ, gọi mẹ xách mé là “Người đàn bà kia” v..v.. thì không thể gọi là đại đức được.  Vậy chẳng có gì để mà đi so sánh rồng với tôm, phượng hoàng với chim sẻ.  Và tất nhiên không có ai ngu đến độ mượn rồng để mà chống tôm, mượn phượng hoàng để mà chống chim sẻ.

Tiếp theo, chúng ta hãy đọc Lê Nhân viết về chuyện Kiều:

Thuý Kiều, kẻ vô duyên nhất với cửa Phật, có duyên với cửa Lầu xanh, nhân vật văn học đẹp nhất của dân tộc ta, vốn chỉ là một con điếm. Nhờ có tâm Phật, dân tộc ta, thông qua Nguyễn Du đã biết cách biến cặn bã nhơ nhớp thành hoa thơm ngà ngọc, nâng một con điếm ngoại bang lên thành quốc hồn quốc tuý, thành BIỂU TƯỢNG CỦA CÁI ĐẸP MANG TÍNH THẨM MỸ VIỆT NAM ĐIỂN HÌNH rất Phật, rất Chúa, thì hà cớ gì Chúa và Phật không là hình bóng của nhau trên xứ sở này, nhân loại này?
Con điếm thì sao?  Con điếm không phải là người?  Tại sao Lê Nhân lại cho rằng điếm là vũng bùn tội lỗi nhơ nhớp nhất trần gian, đáy cùng của tội lỗi?  Cái vũng bùn này đã có từ thuở khai thiên lập địa, không thiếu gì các giáo hoàng, giám mục, linh mục, mục sư, và người thường ngày ngày lặn ngụp trong đó đấy.  Con điếm vì hoàn cảnh đưa đẩy còn đáng kính trọng hơn là những con điếm trí thức, đánh đĩ lương tâm, viết bậy viết bạ, cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, đánh phá phản bội quốc gia dân tộc..  Riêng về Công Giáo, trong lịch sử các Giáo Hoàng, chúng ta cũng thấy vài triều đại do điếm trị, Giáo hoàng do điếm đặt lên, loạn luân với cả con gái và với mẹ, vậy các điếm đó so với điếm Thúy Kiều, Lê Nhân có thấy khác biệt gì không?  Lê Nhân nên kiếm cuốn “Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy”, tác giả là tiến sĩ Giám Mục Peter de Rosa để đọc Chương về Triều Đại  Điếm Trị Của Các Giáo Hoàng (Papal Pornocracy) trong đó. Trong Kinh Thánh cũng có điếm Tamar, chồng chết ngủ với em chồng, em chồng chết ra ngồi ngoài đường đón bố chồng rồi ngủ với bố chồng sinh con. 

Nhưng vấn đề ở đây không phải là Lê Nhân viết về điếm mà là viết bậy về truyện Kiều.  Chưa bao giờ Nguyễn Du cũng như người Việt “nâng một con điếm ngoại bang lên thành quốc hồn quốc tuý”, hay thành “biểu tượng của cái đẹp mang tính thẩm mỹ Việt Nam điển hình”.  Lê Nhân đã dựa theo sự hiểu biết quá kém của mình về nhân vật Mary Magdalene trong Tân ước để mà suy diễn bậy bạ về nhân vật Thúy Kiều như chúng ta thấy rõ trong bài viết của Lê Nhân. Điều này tôi sẽ chứng minh trong một phần sau.

Nếu Lê Nhân đã học đến lớp 11 như ngày xưa tôi được Giáo sư Nghiêm Toản giảng trong lớp đó thì phải biết rằng, giá trị truyện Kiều không nằm nơi cốt truyện, vì cốt truyện này không có gì đặc biệt, thời nào cũng có những nhân vật và nghịch cảnh như trong truyện Kiều.  Về phương diện một vài khía cạnh đạo đức trong đó, các cụ nhà ta đã khuyên:

              Đàn ông chớ đọc Phan Trần
              Đàn Bà chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều

Vậy giá trị truyện Kiều ở đâu mà đã thành một áng văn tuyệt tác của Việt Nam: “Truyện Kiều còn, tiếng nước Nam còn” và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng ngoại quốc?  Giá trị truyện Kiều nằm nơi văn chương tài tình của Nguyễn Du, đã biến một chuyện tầm thường trong thời Gia Tĩnh Triều Minh bên Tàu thành một tác phẩm để đời, vì những câu thơ viết bằng chữ Nôm trong truyện Kiều đã đi thẳng vào lòng người dân Việt, từ giới trí thức cho tới giới bình dân, đến độ trong bất cứ hoàn cảnh nào trong xã hội người ta cũng có thể mượn đôi ba câu trong truyện Kiều để mô tả, thường gọi là "Lẩy Kiều."  Văn chương truyện Kiều hấp dẫn đến độ những người không biết chữ cũng thuộc, và có người đã có thể đọc ngược truyện Kiều từ dưới lên trên.  Những tên riêng của một số nhân vật trong truyện Kiều như Tú Bà, Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Ưng, Khuyển nay đã thành tên gọi những hạng người đặc biệt trong xã hội mà chúng ta thấy đầy dẫy trong xã hội ngày nay.  Đặc biệt là những Khuyển vẫy đuôi theo ngoại bang và những Ưng như quạ đen đang rỉa từng thớ thịt của quốc gia dân tộc để dâng cho người ngoài. Những câu thơ  tả tình tả   cảnh rất tài tình của Nguyễn Du,   sau  gần 200 năm, vẫn còn đậm đà, thấm thía và chính xác. Tôi không hiểu trình độ của Lê Nhân tới mức nào lại có thể hiểu chuyện Kiều một cách hời hợt như trên.  Viết bậy bạ như trên Lê Nhân có nằm trong sách lược xóa bỏ nền văn hóa Việt Nam để thay thế bằng một thứ văn hóa nô dịch độc thần ngoại lai hay không?

Thật ra, Lê Nhân viết bài Mừng Chúa giáng sinh, bàn thêm về vấn đề tôn giáo” chẳng phải để mừng Chúa với một văn phong côn đồ hạ cấp, vì văn phong loại đó chỉ làm nhục Chúa, mà cũng chẳng phải để bàn thêm về vấn đề tôn giáo, vì Lê Nhân đâu có hiểu gì về “Chúa giáng sinh” và “tôn giáo”.  Nội dung bài viết phần lớn là mượn Chúa và những tay sai của Chúa như Tổ Quốc Ăn Năn hay Thông Luận để chửi rủa cùng lúc hù dọa Giao Điểm bằng một văn phong mà Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang liệt vào loại  “côn đồ văn hóa” hay “đao phủ văn chương”.  Để cho quý độc giả thấy rõ loại văn phong này, sau đây là đoạn tiếp theo của Lê Nhân:

“Văn hào Hi Lạp Nikos Nazantzakis trong tác phẩm bất hủ của mình: “Cám dỗ cuối cùng của Chúa” đã có một trang viết tuyệt vời nhân bản, tuyệt vời vinh danh Chúa là trang nhà văn hào tả Chúa Jesus, khởi đầu công cuộc truyền đạo, đã âm thầm đến nhà thổ, xếp hàng cùng với những gã đàn ông trác táng khác để chờ đến lượt mình!
Đọc đến đây, chắc một số quý vị có đạo, thường xuyên đọc báo và nghe radio Thông Luận,  say mê tác phẩm Tổ Quốc ăn năn..
(sic) sẽ hét lên mà chửi Lê Nhân rằng: Thằng khốn nạn Lê Nhân bố tưởng mày tử tế hóa ra mày cũng chỉ là phường “Giao Điểm” đốn mạt, chết rồi mày sẽ bị quỷ dữ nó đè ngửa ra, đổ chì nóng vào rốn mày từng giọt, từng giọt xem mày còn dám báng bổ Thiên Chúa lòng lành vô cùng A-men hay không?
Thưa quý vị tin Chúa, xin hãy “khoan khoan ngồi đó chớ ra”, chớ chửi bới Lê Nhân vội! Hãy xem văn hào Nazantzakis tả Chúa Jesus xếp hàng đi chơi điếm để làm gì, để gặp ai đã nào? Vâng, muốn đánh rắn phải vào tận hang rắn, muốn bắt hùm phải vào tận hang hùm (trừ cái “hang hùm” bé tị của bà Hồ Xuân Hương: “Chốn ấy hang hùm chớ mó tay” thì đố quý vị nào chui lọt?), muốn cứu chuộc tội lỗi thiên hạ, Jesus cũng phải vào tận cùng đáy của tội lỗi! Vâng, Ngài xếp hàng chỉ để “chơi” một con điếm xinh đẹp nhất, nổi tiếng nhất Jerusalem là nữ thánh Madalenna, vị thánh nữ đầu tiên của đạo Thiên Chúa giáo! Ngài đã đến, đã gặp, và đã “chơi” vào tâm hồn gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa! Và ngay tắp lự, “Nàng” Kiều Jerusalem đã giác ngộ, đã nghe theo lời “dụ dỗ” của “Khách làng chơi” tuyệt mỹ này để theo “Chàng”- Jesus “về dinh” mà lội từ vũng bùn tội lỗi nhơ nhớp nhất trần gian, bước một bước lên đỉnh Thiên Đường của trinh bạch và thánh thiện; giống như Thuý Kiều bước một bước từ thế giới Tú Bà, theo cây cầu lục bát Nguyễn Du mà vào ngự trong đài hoa sen văn học có tên ĐỀN THỜ CỦA CÁI ĐẸP VIỆT NAM!

Chúng ta hãy bỏ qua loại văn phong đặc biệt này và đi vào nội dung của đoạn trên.  Như Thường Đức đã nhận xét: Lê Nhân đâu có đọc nguyên tác: “The Last Temptation of Christ” của Nikos Kazantzakis bao giờ đâu, nên chỉ diễn giải láo lếu một đoạn vặt vãnh trong tác phẩm của Nikos Kazantzakis.  Nếu đã đọc kỹ Kazantzakis và có đủ trình độ thì Lê Nhân không bao giờ dám viết như trên.  Nhưng theo tôi thì Lê Nhân chưa đủ trình độ để hiểu Nikos Kazantzakis, vì muốn hiểu ý của Nikos Kazantzakis  trong tác phẩm “The Last Temptation of Christ” chúng ta cần phải biết khá kỹ nội dung Tân Ước cũng như lịch sử và xã hội Do Thái thời Tân ước được viết ra vào cuối thế kỷ 1, một cái vốn kiến thức mà chắc chắn Lê Nhân không hề có.  Tôi sẽ chứng minh điều này cho quý độc giả rõ và đồng thời để làm một bài học vỡ lòng cho Lê Nhân về một điều: “không nên múa gậy vường hoang” trước giới trí thức Việt Nam hải ngoại cũng như trong nước.  

Trước hết, cái mà Lê Nhân cho là một trang viết tuyệt vời thì chẳng có gì là tuyệt vời cả, vì trang đó chẳng có gì đúng với những đều Lê Nhân viết.  Mặt khác, chắc chắn là Lê Nhân cũng chưa hề đọc những trang trước cũng như những trang sau của trang này nên mới diễn giải láo lếu như vậy. Vì sự thực là, Giê-su đi xếp hàng vào nhà điếm Magdalene không phải là để cứu chuộc hay cứu độ gì cô gái ăn sương này mà là thúc đẩy bởi sự cám dỗ xác thịt, một ám ảnh từ lâu.  Điều này rất rõ ràng trong văn bản của Nikos Kazantzakis nhưng Lê Nhân chỉ muốn vinh danh Chúa nên mới phịa ra chuyện “Ngài đã đến, đã gặp, và đã “chơi” vào tâm hồn gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa và ngay tắp lự, “Nàng” Kiều Jerusalem đã giác ngộ” trong khi chính Giê-su trong truyện nhiều lúc cũng hoang mang vật lộn giữa hai con đường: theo Thiên Chúa và đời sống thế tục, và Magdalen cũng chẳng ngay tắp lự đi theo Giê-su.  Trong thời đại của chúng ta ngày nay,  ân sủng của Thiên Chúa chỉ là cái bánh vẽ trên trời do nền thần học Ki-Tô Giáo đưa ra để nhử những đầu óc yếu kém, thiếu nhiều neuron.  Thứ nhì, bản văn của Nikos Kazantzakis viết khác hẳn, không có chỗ nào như Lê Nhân phịa láo ra.  Nhưng trước hết, chúng ta hãy tóm tắt nội dung cuốn “The Last Temptation of Christ” của Nikos Kazantzakis.

Trong cuốn truyện, Giê-su được trình bày như là một con người đầu óc bấn loạn,  nhút nhát, luôn luôn sợ hãi, bối rối về vấn đề tình dục và phân vân trước cuộc sống.  Giê-su là một anh thợ mộc kiếm sống bằng nghề đóng những cây thập giá để cho người La Mã đóng đinh những người Do Thái yêu nước nên bị dân chúng nguyền rủa là kẻ phản bội (traitor) và đôi khi còn ném đá vào Giê-su.  Suốt trong cuộc đời, Giê-su trải qua nhiều cám dỗ và sự cám dỗ cuối cùng là sự mơ màng trên thập giá: được lấy Mary Magdalene làm vợ, làm tình với Mary, và sống một cuộc đời bình thường trong một gia đình với vợ và con.  Sự cám dỗ cuối cùng này thực ra chẳng phải là cám dỗ mà chỉ là sự kết tinh của những ám ảnh tình dục và mơ ước của Giê-su với Mary Magdalene đã hiện ra trong trí óc của Giê-su trước khi chết. [Đây là điều bình thường với tất cả mọi người, trước khi chết còn chưa dứt bỏ được những gì mà mình còn lưu luyến, hối tiếc, trừ những người đã ý thức được lý vô thường của vạn pháp.  TCN]

Cũng vì vậy mà cuốn phim The Last Temptation of Christ do Martin Scorsese đạo diễn, tung ra trình chiếu năm 1988, đã bị tất cả các hệ phái Ki-Tô lên án ở trong nước Mỹ cũng như ở một số nước khác. Những tín đồ Ki-Tô quá khích, cuồng tín, khắp nơi đã lên tiếng phản đối, dàn hàng ngoài các rạp chiếu phim để ngăn cản những người đi coi phim, hô hào tẩy chay và đe dọa đặt bom phá rạp, [tương tự như những cuộc biểu tình, dàn hàng ngăn cản những buổi trình diễn văn nghệ của những nghệ sĩ từ trong nước sang bởi những người Việt Nam tị nạn cao quý khao khát tự do và dân chủ. TCN] và ngay từ đầu tác phẩm trên của Nikos Kazantzakis đã bị Giáo hội Ca-Tô La Mã cấm tín đồ đọc.  Nhưng chuyện bất ngờ là những sự chống đối lại gây ra những phản ứng ngược:  thu hoạch của cuốn phim rất cao, DVD ra bán rất chạy, và cuốn “The Last Temptation of Christ” của Nikos Kazantzakis lại càng được nhiều người đọc hơn.

Bây giờ, chúng ta hãy trích vài đoạn trong cuốn “The Last Temptation of Christ” của Nikos Kazantzakis, để chứng minh những điều tôi viết ở trên không phải là vô căn cứ và để vạch mặt Lê Nhân về sự láo lếu ngu dốt của hắn khi hắn viết: Ngài đã đến, đã gặp, và đã “chơi” vào tâm hồn gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa! Và ngay tắp lự, “Nàng” Kiều Jerusalem đã giác ngộ, đã nghe theo lời “dụ dỗ” của “Khách làng chơi” tuyệt mỹ này để theo “Chàng”- Jesus “về dinh” mà lội từ vũng bùn tội lỗi nhơ nhớp nhất trần gian, bước một bước lên đỉnh Thiên Đường của trinh bạch và thánh thiện.   Sau đây là vài cảnh trước khi Giê-su xếp hàng vào nhà điếm:

Đoạn sau đây là cảnh Giê-su đứng bên đường chờ đợi Magdalene với một bông hồng trên tay:

Trang 26:  “Giê-su quay đầu lại.  Đi xuống phía hắn với đôi giép đỏ, tóc xõa, với toàn bộ những vòng kiềng ở cổ chân, cổ tay và bông tai là Magdalene, người con gái duy nhất của ông cậu Rabbi của hắn.  Đầu óc người trẻ này quay cuồng.  Giê-su kêu lên “Chính là nàng, là nàng mà tôi muốn!” và đưa tay ra để tặng cho nàng bông hồng.”  (He turned.   Descending upon him with her red sandals, unplaited hair and complete armor of ankle bands, bracelets and earings was Magdalene, the only daughter of his uncle rabbi.  The young’s  mind shook violently.  “It’s her I want, her I want!” he cried, and he held out his hand to give her the rose.) [Đoạn này chứng tỏ Giê-su rất mết Magdalene.  TCN]

Đoạn sau đây tả tâm trạng của Giê-su khi nghe ơn kêu gọi của God:

Trang 28:  “Nhưng rồi bỗng nhiên một người nào đó ở trên trời đang nói với Giê-su [Đây là Ki Tô Giáo thường cho là ơn kêu gọi của God.  TCN]  Giê-su vểnh tai lên nghe – nghe, và lắc đầu liên tục, như là muốn nói Không! Không! Không!   Sau cùng Giê-su mở miệng.  Giọng nói của Giê-su không còn run sợ.  “Tôi không thể!  Tôi là kẻ mù chữ, một kẻ vô tích sự, sợ hãi đủ mọi thứ.  Tôi thích ăn ngon, uống rượu, và cười đùa.   Tôi muốn lấy vợ, có con…”Hãy để mặc tôi”…

Đột nhiên hắn phải lấy hai tay che tai để làm nhẹ đi tiếng nói man rợ ở trên hắn… và trả lời:  “Đúng vậy, đúng vậy, tôi sợ…  Tôi có thể nói gì được và phải nói làm sao?  Tôi bảo người, tôi không thể!  Tôi là kẻ mù chữ!..  Ông nói gì vậy?…  Nước thiên đường?..  Tôi cóc cần cái nước thiên đường.  Tôi thích thế gian này.  Tôi bảo cho ông biết, tôi muốn lấy vợ.  Tôi muốn Magdalene, ngay cả khi nàng là một con điếm.”  [Vậy mà Lê Nhân viết là Giê-su mang ân sủng Thiên Chúa đến cho Magdalene]

(But then, suddenly, someone above was speaking to him.  He cocked his ear and heard – heard, and shook his head violently, continually, as though saying, No!No!No!  Finally he too opened his mouth.  His voice no longer trembled.  “I can’t!  I am illiterate, an idler, afraid of everything.  I love good food, wine, laughter.  I want to marry, to have children..  “Leave me alone!”…

Suddenly he had to put his hands over his ears to soften the savage voice above him… and answered: “Yes, Yes, I’m afraid… What can I say, how can I say it?  I can’t, I tell you!  I am illiterate!… What did you say? … The kingdom of heaven?… I don’t care about the kingdom of heaven.  I like the earth.   I want to marry, I tell you;  I want Magdalene, even if she’s a prostitute..”)

Đoạn tiếp theo tả cảnh Giê-su tự hành xác để xua đuổi những ám ảnh về tình dục với Magdalene:

Trang 81:  “Hắn cởi chiếc thắt lưng da có đinh, dẫm chân lên quần áo hắn vừa mặc, không nói năng gì, bắt đầu quất không thương tiếc vào đùi, lưng và mặt mình.  Máu túa ra và chảy đầm đìa.  Hắn cảm thấy vậy và cảm thấy nhẹ nhàng”. (He unbelted the nail-studded leather strap, trampled the clothes he was wearing underfoot and, without speaking, began pitilessly to scourge his thighs, back and face.  The blood spurted out and splashed him.  He felt it and was relieved.)  [Có một số học giả đã cho rằng Giê-su là một sadist, nghĩa là người cảm thấy thoải mái sung sướng khi tự hành xác.  Và trong Ki Tô Giáo cũng có một dòng áp dụng lối hành xác này, đặc biệt là cho nữ tu.  TCN]

Vài đoạn sau đây mô tả sự mâu thuẫn trong tâm trạng của Giê-su.  Giê-su không muốn đến nhà của Mary Magdalene nhưng rồi vẫn không cưỡng lại được tiếng gọi của thể xác nên đã đến, tuyệt đối không phải đến để “chơi” vào tâm hồn gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa như Lê Nhân ca tụng láo Giê-su, mà để xin được Magdalene tha thứ, vì Giê-su luôn luôn bị ám ảnh bởi một điều hoang tưởng là vì mình mà Magdalene trở thành gái điếm.

Trang 82:  Giê-su nghĩ: Ta phải đi lánh xa,  phải đi thoát, không được đặt chân đến Magdala [một thị trấn ở Galilee, nơi Magdalene ở] – cái chỗ bị nguyền rủa.  Ta sẽ đi không ngừng cho đến khi ta tới sa mạc và tự chôn trong tu viện.   Ở đây ta sẽ diệt sự đòi hỏi của  xác thịt và làm cho chúng trở thành tâm linh..

Giê-su tới con đường chính.. lại tự nhủ “Ta không được đi qua Magdala”.  Ta sợ.  Giê-su ngừng lại để quyết định sẽ đi đường nào tới hồ.  Hắn rẽ vào con đường nhỏ đầu tiên ở phía bên phải.   Hắn biết là Magdala ở phía bên trái, hồ ở bên phải, và hắn đi với sự tự tin.

Giê-su đi và đi, đầu óc lang bang.  Giê-su  đang chạy trốn cô gái điếm Magdalen để đến với God…

Giê-su đi và đi.  Con đường ngoằn ngoèo uốn sang phải sang trái đi qua  những vườn nho, đi lên giốc một lần nữa, tới hang ô-li-vờ.  Người con trai của Mary đi theo con đường đó như theo luồng nước chảy hay theo tiếng hát buồn chán của một người cưỡi lạc đà. [Đọc đoạn trên, chúng ta thấy Giê-su luôn luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh Magdalene.  Đi vào sa mạc mà tu thì cứ đi chứ việc gì cứ phải tự nhủ là đừng đến với Magdalene]

 (I must go away, I must escape, he thought, must not set foot in Magdala - curse the place!  I won’t stop untill I reach the desert and bury myself in the monastery.  There I shall kill the flesh and turn it into spirit…

He reached the main road..”I must not go through Magdala” he murmured again.   “I’m afraid”  He stopped to decide which way to turn in order to reach the lake.  He took the first narrow road he found on his right.  He knew that Magdala sat to the left, the lake to the right, and he proceeded with confidence.

He marched and marched, and his mind wandered.  He was running from Magdalen, the whore to God... 

He marched and marched. The twisting path wound in and out through the vineyards, rose once more, reached the olive groves.  The son of Mary followed it as one follows running water or the sad, monotonous chant of a camel driver.)

Giê-su có chạy trốn khỏi được Magdalene không, chúng ta hãy đọc tiếp:

Trang 83: “Giê-su đi theo con đường hẹp, và đầu óc vẫn suy nghĩ lang bang, nhưng đột nhiên hắn ta dừng lại, ngỡ ngàng.  Ngay trước mặt trong một khoảng trống bị che, trải rộng dưới rặng dừa, là Magdala.  Trong đầu Giê-su muốn quay trở lại, quay trở lại, nhưng cước bất tòng tâm, bắt đầu dẫn hắn với những bước chân quyết định để đi tới ngôi nhà ngào ngạt hương thơm của người em gái họ Magdalene, đến căn nhà đã bị kết án là sẽ bị thiêu bởi những ngọn lửa dưới hỏa ngục.

“Không được, ta không muốn đến đó, ta không muốn đến đó” Giê-su tự nhủ, trong lòng sợ hãi.  Hắn định quay trở lại nhưng thể xác hắn từ chối ý muốn của hắn.  Hắn quyết định với mình một lần nữa: “Ta phải đi xa khỏi đây”, nhưng hắn không hề nhúc nhích.  Hắn nghe thấy một tiếng nói ngọt ngào trong nội tâm:  Ta phải gặp nàng, Ta phải gặp nàng…”  [Vậy mà Lê Nhân đã viết bậy là Nikos Kazantzakis đã viết một trang tuyệt vời để vinh danh Chúa là Ngài đã đến, đã gặp, và đã “chơi” vào tâm hồn gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa!  TCN]

(He followed the path, and his mind ran on, but suddenly he stopped, startled.  There before him in a sheltered hollow, spread out beneath the date palms, was Magdala.  His mind turned back, turned back, but his feet, against his will, began to lead him with sure steps to the perfumed hermitage of his cousin Magdalene, to the house which was condemned to the fires of hell.

“No, I don’t want to go, I don’t want to go” he murmured in terror.  He tried to reverse his course, but his body refused… I’ll go away! he decided once more within himself, but he did not budge… I must see her, must see her, he heard a sweet voice within him say.)

Và, như Lê Nhân viết, Giê-su đã đứng xếp hàng với một số người đến trước để chờ đến lượt vào với Magdalene.  Từ những đoạn mà tôi vừa trích dẫn trong cuốn “The Last Temptation of Christ” của Nikos Kazantzakis ở trên, có người nào có thể tin rằng Giê-su đã cố ý xếp hàng chờ đến lượt vào với Mary Magdalene để “chơi” vào tâm hồn gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa?   Ân sủng Thiên Chúa nằm ở chỗ nào trong người của Giê-su? chắc hẳn Lê Nhân biết rõ.  Chúng ta đã thấy rõ,  Giê-su luôn luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh của Magdalene, ám ảnh cho đến lúc chết trên thập giá.  Chúng ta cũng biết, Giê-su là một thanh niên nhút nhát, luôn luôn sợ hãi, tinh thần bấn loạn, tâm thần bất ổn, bị giằng co giữa hai cám dỗ, nửa muốn “zui zẻ” với Magdalene, nửa muốn làm người trong sạch tinh khiết để đi theo God.  Không ai hiểu rõ Giê-su bằng Magdalene, cho nên khi vào với Magdalene rồi, chúng ta nghe được Magdalene lật tẩy của Giê-su như sau:

Trang 90:  “Anh [Giê-su là anh họ của Magdalene] thèm khát thân thể của tôi, thay vì nói thẳng ra như vậy, điều mà anh không dám, anh lại bắt đầu đổ tội cho linh hồn của tôi và nói là muốn cứu vớt nó.  Linh hồn nào, cái tên mơ màng vớ vẩn kia.  Linh hồn của người đàn bà là cái xác thịt của bà ta.   Anh biết vậy mà; nhưng anh không có can đảm như một người đàn ông để ôm cái linh hồn đó vào trong vòng tay và hôn nó – hôn nó và cứu vớt nó.!  Tôi thật thương hại và ghê tởm anh.” (You crave my body, and instead of saying so, which you wouldn’t dare, you start blaming my soul and saying you want to save it.  What soul, daydreamer?  A woman’s soul is her flesh.  You know it; but you don’t have the courage to take this soul in your arms like a man and kiss it – kiss it and save it!  I pity you and detest you!”)

Đến đây, tưởng chúng ta cũng đã rõ chuyện Giê-su xếp hàng chờ đến lượt vào với cô điếm Magdalene là như thế nào, tuyệt đối không có chỗ nào như Lê Nhân phịa láo ra như trên để vinh danh Chúa.  Nhưng thật ra thì vai trò “điếm” của Mary Magdalene là do Giáo hoàng Gregory dựng lên vào năm 591 qua xảo thuật ngụy diễn những nhân vật cùng có tên Mary và không có tên trong Tân ước.  Tại sao Giáo hoàng và giáo hội lại cố tình bôi nhọ Mary Magdalene?  Đây là một vấn đề đã được nghiên cứu tường tận nhưng không thuộc bài viết này.   Chúng ta chỉ cần biết rằng, năm 1969, Giáo hội Ca-Tô La Mã đã chính thức bác bỏ sự ngụy diễn Tân Ước của Giáo hoàng Gregory và khẳng định lại là Mary Magdalene không phải là một gái điếm như Giáo Hoàng Gregory đã quyết định như vậy.  Lẽ dĩ nhiên, Lê Nhân không biết điều này nên ngày nay vẫn ngu ngơ đi mượn  danh một người mà Lê Nhân cho là một gái điếm, viết bậy viết bạ bằng một văn phong hạ cấp để vinh danh Chúa cùng hạ thấp giá trị truyện Kiều và chống.. Giao Điểm. 

Lê Nhân dùng một trang mà chắc chắn Lê Nhân chưa đọc trong cuốn “The Last Temptation of Christ” của Nikos Kazantzakis, phịa láo để đạt những mục đích trên.  Nhưng nếu Lê Nhân đã đọc cuốn truyện trên của Nikos Kazantzakis  và nếu Lê Nhân đủ trình độ để hiểu những điều tác giả viết trong đó thì tôi dám chắc Lê Nhân không bao giờ dám viết càn như trên.  Trong cuốn “The Last Temptation of Christ” của Nikos Kazantzakis, có một từ để gọi Giê-su mà tác giả dùng trong suốt cuốn sách, đó là “Con trai của Mary” (The son of Mary).   Chắc Lê Nhân cho rằng như vậy là đúng chứ sao vì Giê-su chẳng là con trai của Mary là gì?  Không hẳn vậy.   Nikos Kazantzakis đã dựa vào chính Tân ước để gọi Giê-su như vậy.  Nhưng gọi như vậy thì có gì là sai?  Chẳng có gì sai cả nhưng nó hàm ý một nghĩa mà những người Ki-Tô Giáo không ai muốn nhìn nhận.  Lê Nhân có muốn biết tại sao không?  Có ngay!

Trong Tân Ước,  Mark 6: 3 cho biết rằng Giê-su có 4 người em trai và ít nhất là 2 em gái như sau: “Đây có phải là anh thợ mộc (Giê-su), con bà Mary, anh của James, Joses, Judas, và Simon?  Các em gái của hắn chẳng phải đang có mặt tại đây sao?” (Is this not the carpenter, the son of Mary, and brother of James, Joses, Judas, and Simon?  And are not his sisters here with us?).  Chúng ta hãy bỏ qua chuyện Mary vẫn còn đồng trinh vĩnh viễn sau khi sinh nở 7 người con mà Giê-su là con trai đầu lòng.   Nhưng đối với các học giả nghiên cứu Thánh Kinh và cổ sử Do Thái thì câu “Đây có phải là anh thợ mộc, con bà Mary” lại nói lên một chuyện khác.  Theo truyền thống Do Thái thời bấy giờ thì dân chúng thường gọi một người còn trẻ là con ông này, con ông nọ, chứ không bao giờ gọi là con của bà này, bà nọ.  Gia hệ của Giê-su trong Matthew và Luke đều kể tên đàn ông qua nhiều đời.  Trường hợp gọi một người là con của bà này, bà nọ là để ám chỉ đứa con đó là đứa con hoang (bastard).

Thật vậy, trong tuần báo Time, tờ báo có uy tín và phát hành vào bậc nhất trên thế giới, số ngày 6 tháng 12, 1999, có bài viết của Reynolds Price, một học giả chuyên gia về Thánh Kinh (biblical scholar), về Giê-su ở Nazareth: Xưa và Nay (Jesus of Nazareth: Then and Now).  Tác giả viện dẫn Phúc Âm James và viết như sau:

  Chuyện người ta cho rằng Giê-su là đứa con hoang có lẽ uẩn hàm trong câu hỏi của dân làng trong Mark 6, “Đây có phải là con bà Mary không?”  Bị gọi là con của người mẹ, thay vì con của người cha, thường hàm ý đó là đứa con hoang, hay ít nhất là một dấu chỉ không biết cha là ai, bất kể người cha này là thần thánh hay là người thường.  Nhiều người chống đối thuyết đồng trinh thời đó cũng cho rằng Mary có mang Giê-su với một người lính La Mã tên là Panthera.  Chuyện sinh ra đời của Giê-su thật là mù mờ bởi những nghi vấn về người cha là ai.

  (Reynolds Price, Time, Dec. 6, 1999:  The suggestion that Jesus' childhood may have been dogged by the accusation of bastardy is perhaps implicit in his townspeople's question in Mark 6, "Isn't this Mary's son?"   To be called one's mother son, as opposed to one's father's, was often an implication of bastardy, or at least a sign that one's paternity was unknown, whether divine or not.  Early opponents likewise suggested that Mary had conceived Jesus with a Roman soldier, Panthera.  His childhood may well be clouded by questions about his paternity.)

   Nhiều học giả cho rằng, rất có thể những chuyện “giáng sinh” về Giêsu, sinh ra từ một trinh nữ trong Matthew và Luke được tạo ra để che đậy những phê bình phân tích về Ki Tô Giáo trong thế kỷ đầu: Giê-su là một đứa con hoang của Mary.  Rải rác trong các Phúc Âm có những chi tiết chứng tỏ như vậy, nếu chúng ta biết đọc những bản văn này. Cũng vì vậy mà Giám Mục Spong, trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Giê-su Sinh Ra Đời, đã đưa ra nhận xét:

Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này.  Chẳng có ai biết cha ông ta là ai.  Rất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những trái mìn chưa kiếm ra và chưa nổ .

Tôi có nên phê bình tiếp hay không?  Tôi nghĩ hốt rác từng đó cũng đủ để cho quý độc giả nhận rõ giá trị, nếu có, bài Mừng Chúa giáng sinh, bàn thêm về vấn đề tôn giáo”  của  Lê Nhân.  Tôi hi vọng phần phân tích chứng minh ở trên là một bài học vỡ lòng cho Lê Nhân về nghệ thuật nghiên cứu trước khi viết bài để từ đây về sau, có viết lách gì hãy nên quay bút bảy vòng trước khi viết.

Vài Lời Kết.-

Như trên tôi đã nói, Lê Nhân viết bài Mừng Chúa giáng sinh, bàn thêm về vấn đề tôn giáo”  với một văn phong hết sức hạ cấp nhằm ba mục đích: vinh danh Chúa của ông ấy, xuyên tạc hạ thấp giá trị truyện Kiều, và tố khổ Giao Điểm.  Lê Nhân có đạt được ba mục đích trên không?

Thứ nhất, thay vì vinh danh thì Lê Nhân đã làm nhục Chúa với văn phong của mình, và như tôi đã phê bình ở trên, Lê Nhân không đọc Tân ước, không đọc The Last Temptation of Christ, nên chẳng biết gì về Chúa cũng như về cuốn truyện của Nikos Kazantzakis.  Lê Nhân cũng không đọc những nghiên cứu mới nhất về Mary Magdalene nên đã viết bậy về một nạn nhân đã bị Giáo Hội Ca-Tô bôi nhọ để giữ quyền lực của phái Nam.  Mặt khác, Phật Giáo đang đi vào thế giới Tây Phương mà không cần phải đi theo những đoàn quân viễn chinh thực dân, không cần phải dùng bả vật chất, không cần phải cưỡng ép bất cứ một ai v..v.. cho nên Tây phương đang có khuynh hướng đánh đồng, so sánh vặt vãnh để  đặt Giê-su lên song song với Phật, nhưng phần lớn là không có cơ sở.  Thí dụ, Lê Nhân viết: “Phật và Chúa có thù dai như …một số Phật tử và tín đồ của các Ngài bao giờ đâu?“ hoặc “Phật và Chúa đều có mẫu số chung nhân từ, tuyệt đối tha thứ, lấy ân báo oán”  Những câu trên chỉ đúng có một nửa.  Phật thì chẳng bao giờ thù ai đừng nói là thù dai.   Phật dạy: “Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan”  Nhưng Chúa thì thù dai nhất thiên hạ.  Lê Nhân chắc không biết rằng Chúa đã phán:  “Hãy mang những kẻ thù của ta ra đây, những kẻ không muốn ta ngự trị trên chúng, và giết chúng ngay trước mặt ta”  Đây không phải là thù dai mà là thù tức thời.   Chúa cũng còn dọa những người không tin Chúa là sẽ bị đầy đọa xuống hỏa ngục để bị ngọn lửa vĩnh hằng như Chúa thiêu đốt.  Đây mới là thứ thù dai nhất hạng.  Vậy muốn đặt Chúa ngang hàng với Phật là một chuyện làm vô ích.

Thứ nhì, Lê Nhân đã xuyên tạc giá trị của truyện Kiều với sự hiểu biết hời hợt, quá kém của mình về truyện Kiều.  Có thể đây nằm trong sách lược “Tổ quốc ăn năn” của Nguyễn Gia Kiểng và thế lực đen.

Sau cùng, Lê Nhân viết xỏ xiên vu vơ về Giao Điểm.   Lê Nhân chống Giao Điểm là quyền của Lê Nhân, nhưng muốn cho sự chống có giá trị phần nào thì cần có một điều kiện cần và đủ:  đó là Lê Nhân phải có cùng trình độ hay ít ra cũng sấp sỉ với trình độ của các tác giả trên Giao Điểm.  Điều kiện này Lê Nhân tuyệt đối không hội đủ.  Vì vậy những câu vu vơ như:  “Thế mà người anh em WEBSITE GIAO ĐIỂM (GĐ) đang hàng ngày tấn công vào đạo Thiên Chúa, tấn công, bôi nhọ giáo hội của Ngài…”  “Người anh em GĐ săm soi lấy từng câu chữ trong Kinh Thánh ra để phê bình, bắt bẻ rất giáo điều, thô thiển, xuyên tạc láo liên…” chứng tỏ Lê Nhân không biết phân biệt giữa nghiên cứu trí thức nghiêm chỉnh và “tấn công, bôi nhọ, phê bình, bắt bẻ v..v..” 

Nhưng có phải thật sự là Giao Điểm chống, bôi nhọ đạo Thiên Chúa hay không?  Giao Điểm toàn dùng tài liệu của các học giả, giáo sư đại học, Tổng giám mục, Giám mục, Linh mục, Đại văn hào v..v.. Tây phương, tuyệt đối không có một tài liệu nào của chính Giao Điểm hay của Cộng Sản.  Vậy, ai là những người chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa.?  Tổng Giám Mục Peter de Rosa? Giám mục John Shelby Spong? Linh Mục James Kavanaugh? Mục sư Ernie Bringas? Các nhà thần học Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann? Bertrand Russell, Victor Hugo, Diderot, Voltaire?  Chỉ kể vài tên trong số hàng trăm các nhà trí thức khác trong những xã hội Tây phương.  Đó là những người chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa đấy.  Nhưng xét cho cùng thì chẳng có ai chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa cả, vì đạo Thiên Chúa đã đen kịt rồi, đâu còn chỗ nào hở để mà bôi nhọ, người ta chỉ nói ra những sự thật về đạo Thiên Chúa mà thôi.  Chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa chính là đạo Thiên Chúa.  Lịch sử ô nhục đẫm máu của đạo Thiên Chúa với những cuộc Thánh Chiến, Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, Săn Lùng Phù Thủy, Giết Người Ngoại Đạo, cưỡng ép cải đạo, theo gót thực dân đã là những sự kiện chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa hơn gì hết.  Sự suy sụp đạo đức của một số giáo hoàng khi xưa, của một số linh mục ngày nay can tội hiếp dâm các “sơ”, loạn dâm với trẻ con, của Tin Lành can tội diệt chủng dân da đỏ ở Mỹ Châu v..v.. đã là những sự kiện chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa rõ ràng nhất.  Lịch sử của Ca-Tô Việt Nam tiếp tay với thực dân Pháp để đưa nước nhà vào vòng nô lệ đã là những sự kiện chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa mà không ai có thể chối cãi trước những bằng chứng lịch sử bất khả phủ bác.  Lê Nhân không hiểu được như vậy hay sao mà đổ tội cho Giao Điểm.  Giao Điểm chỉ có mỗi một tội là có can đảm đưa ra những sự thật về tôn giáo để mở mang đầu óc của quần chúng, nâng cao dân trí mà thôi.

Lê Nhân cũng còn dùng cái mũ Cộng Sản chụp lên đầu Giao Điểm.   Nếu cái mửng này mà có phần nào giá trị thì Giao Điểm đã xẹp tiệm từ lâu rồi, đâu có thể trở thành một Website thuộc loại có nhiều người đọc nhất.  Cái mũ Cộng Sản ngày nay đã hết thời rồi.  Lê Nhân cũng không biết là Giao Điểm một thời đã bị bức tường lửa ở Việt Nam ngăn chận.  Lê Nhân cũng không biết rằng có lần về Việt Nam, Hồng Quang đã bị mời lên “làm việc”.  Lê Nhân muốn chống Giao Điểm chỉ vì Giao Điểm đưa ra những sự thực lịch sử về tôn giáo và dân tộc dựa trên những  tài liệu khả tín. Cho nên những câu chụp mũ vu vơ vô căn cứ, vô bằng chứng của Lê Nhân, tôi cho rằng Giao Điểm [Tôi không ở trong tổ chức Giao Điểm, viết bài này nhân danh cá nhân chứ không nhân danh Giao Điểm] chỉ coi như những tiếng ồn ào vu vơ bên đường, và đoàn lữ hành Giao Điểm cứ thản nhiên đi qua.  “La Caravane Passe.”   Có phải như vậy không? Này! Lê Nhân!

Hà Nội!  Đất ngàn năm văn vật mà từ xưa tới nay tôi biết có nhiều bậc cao nhân văn hóa, không hiểu sao lại sản sinh ra một Lê Nhân, không hiểu gì về văn hóa dân tộc, mà cũng chẳng hiểu gì về văn hóa Ki-Tô Giáo, nhưng lại bất cần đến liêm sỉ, viết bậy về cả hai.  Thật đáng buồn.

© Copyright 2005 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com