So, is "up there" the last temptation
of le nhan? -note: Giaodiem's caption |
Trần Chung Ngọc Tôi không hiểu
sao Giao Điểm lại đưa bài “Mừng Chúa giáng sinh, bàn thêm về vấn
đề tôn giáo” của
Lê Nhân lên, một bài chỉ thích hợp với Trang Nhà Đàn Chim Việt hoặc
các trang nhà Ki-Tô Giáo mà thôi, vì nội dung, giá trị văn phong và kiến
thức trong đó không thể thích hợp với Giao Điểm. Đối với giới trí thức và hiểu biết
ngày nay thì chuyện “giáng sinh” trong Matthew và Luke chỉ là những chuyện
phịa một cách vụng về như tôi đã chứng minh trong bài “Một Món
Quà Giáng Sinh Cho 4 Linh Mục” trên trang nhà Giao Điểm tháng 12. Cho nên ai muốn mừng thì cứ việc mừng,
cũng như mọi người đều có quyền mừng một Chú Cuội trên Cung Hằng.
Nhưng về sau tôi mới biết là người ta đã cố nài nỉ, yêu cầu đi, yêu
cầu lại, và còn nói khích để bài đó được đăng trên Giao Diểm cho
nên Giao Điểm cũng chẳng hẹp hòi gì mà không đăng, để cho độc giả
thấy giá trị của một bài trên Trang Nhà Đàn Chim Việt. Có lẽ tác giả muốn được nổi tiếng
trên trang nhà Giao Điểm, một trang nhà được nhiều người đọc trên khắp
thế giới. Cũng có thề vì nội dung
bài là để đả kích, chụp mũ vu vơ Giao Điểm nên tác giả coi đó như là
một thách đố, cho rằng Giao Điểm không dám đăng. Nhưng Giao Điểm đâu có sợ, đăng liền,
chứng tỏ rằng Giao Điểm không coi những lời viết rất hạ cấp, chụp
mũ vu vơ của tác giả vào đâu. Sau một
thời gian, tôi lại thấy Giao Điểm hạ bài đó xuống. Tuy không hỏi Giao Điểm, nhưng tôi đoán
chắc có một số độc giả phàn nàn là để bài đó trên Giao Điểm chỉ
làm giảm giá trị của Giao Điểm mà thôi. Tôi
bèn nẩy ra ý định viết một bài phê bình để quý độc giả thấy rõ văn
phong, tư cách, thủ đoạn, trình độ v..v.. của Lê Nhân và từ đó có thể
đánh giá đúng bài viết của Lê Nhân. Trước khi viết, tôi
có hỏi một số bạn bè quen thuộc là có nên phê bình bài viết này
không? Tất cả đều trả lời là “mất
thì giờ làm gì với thứ rác rưởi đó”.
Nhưng tự nghĩ, mình không vào địa ngục để hốt rác thì ai
vào đây. Cho nên tôi lại phải đeo
“khẩu trang” xông vào hốt rác với hi vọng nhờ đó thiên hạ có thể
thở được chút không khí trong sạch hơn một chút, và để cho độc giả
của Giao Điểm biết đâu là rác rưởi và đâu là những nghiên cứu trí
thức nghiêm chỉnh... Tôi viết bài
này với tư cách cá nhân, không phải là viết thay cho Giao Điểm. Tôi không ở trong tổ chức Giao Điểm nên
không có trách nhiệm này. Nào! Bây giờ
chúng ta bắt đầu. Mở đầu bài “Mừng Chúa giáng sinh, bàn thêm về vấn
đề tôn giáo”, Lê Nhân viết: "Này Lê Nhân, Chúa có tính Phật
không? Có! Phật bảo: Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành!
Chúa bảo: Ta ở khắp mọi nơi! Vậy thì, đi thấu Phật sẽ gặp Chúa và
ngược lại Đọc kỹ những lời Phật dạy và Chúa phán, Lê Nhân xin
thách những kẻ đang mượn Chúa để chống Phật, mượn Phật để chống
Chúa tìm thấy sự mâu thuẫn trong lý thuyết của các Ngài, rằng: 95% ý
nghĩa lời dạy của hai đại đức này trùng nhau? Chẳng phải thách đâu, dù tôi không
phải là người ngu xuẩn đến mức mượn Phật để chống Chúa. Chúa chống
Phật thì có, vụ đốt Chùa Hiển Quang trong giáo xứ Bà Rịa ở Việt Nam
gần đây là một thí dụ, vụ “Bà vào bà đánh lung tung” để cướp
Chùa Lá Vằng biến thành Thánh địa La Vang cho Mẹ Chúa là một thí dụ nữa
trong hàng trăm ngàn thí dụ khác, chứ chưa bao giờ có ai mượn Phật chống
Chúa, nhất là ở trong Giao Điểm. Những người trong Giao Điểm tuy phần lớn
là Phật tử nhưng chưa có ai nhân danh Phật hay Phật Giáo để chống Chúa. Họ chỉ đưa ra những sự thật về Chúa,
những sự thật bất khả phủ bác, vì chúng nằm trong kho tài liệu trên
khắp thế giới, đặc biệt trong thế giới văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nhưng
rất hiếm thấy trong Phật Giáo. Vì vậy
Lê Nhân viết “những kẻ đang mượn Phật để chống Chúa” là viết bậy,
vừa không hiểu gì về Chúa, vừa không hiểu gì về Phật. Đọc ngay câu đầu chúng ta cũng đã thấy
rõ là Lê Nhân chỉ biết một chứ không biết hai. Chứng minh: Này Lê Nhân! Điều ông biết một là Phật có nói: “Ta
là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, đúng vậy. Đức Phật cũng còn nói: “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật
tính”. Do đó, Chúa của ông, sinh
sau Phật khoảng trên 500 năm, tất nhiên cũng có Phật tính, việc gì phải
hỏi. Nhưng Phật tính là gì, chẳng
qua chỉ là khả năng giác ngộ, nhìn được vạn pháp như chúng thật là
như vậy (như thực tri kiến), không còn vọng tưởng, nghĩa là khả năng
trở thành người tỉnh thức. Khả năng
thì có đấy nhưng nếu bị màn vô minh dày
đặc che khuất thì đến Chúa, Chúa Cha, Chúa Con, hay Chúa Ma cũng phải chịu
thôi, không làm sao hiển lộ được Phật tính.
Do đó Chúa vẫn chỉ là Chúa, mà Phật luôn luôn đã là Phật. Lê Nhân không hiểu được điều này nên
cứ viết lăng nhăng về Phật Tính một cách hết sức ngớ ngẩn, chứng tỏ
kiến thức về Phật Giáo của Lê Nhân là con số không, hoặc là như kiến
thức của Alexandre de Rhodes trong Phép Giảng Tám Ngày và của các thừa
sai khác trong thế kỷ 18-19. Điều ông không biết
hai là Chúa chưa bao giờ phán “Ta ở khắp mọi nơi”, chưa kể là ở
trên đời này chẳng làm gì có Chúa, nhất lại là một Chúa giáng sinh
để mà mửng [Xin đọc bài Một Món Quà Giáng Sinh Cho 4 Linh Mục
của tôi trên trang nhà Giao Điểm], mà chỉ có một anh đầu óc bệnh hoạn,
sống trong hoang tưởng, con một ông thợ mộc ở Nazareth tận tít bên miền
Trung Đông, được những người trong thời bán khai tôn lên làm Chúa. Đừng có cho tôi là phỉ báng Chúa nhé,
tôi không có viết chơi đâu. Thật vậy, ngày nay,
qua các công cuộc nghiên cứu Kinh
Thánh để tìm ra con người thực của Giê-su, đa số học giả đã cho rằng
nhiều chuyện trong Kinh Thánh là những chuyện hoang đường, và đối với
một số học giả trong ngành phân tâm học thì những điều Giê-su tự nhận
như: “con duy nhất của Thiên Chúa”, “có
khả năng chuộc tội cho nhân loại”, “đấng cứu thế”, “sẽ trở lại
trần phán xét thiên hạ trong tương lai gần thời Giê-su” v..v.. đều
là những ảo tưởng của một người bị bệnh tâm thần, mắc bệnh chứng
hoang tưởng (paranoia). Bệnh chứng này
bắt nguồn từ một nguồn gốc lý lịch không mấy tốt đẹp của Giê-su,
một tâm cảnh cuồng tín tôn giáo của Giê-su khi ông đọc và tuyệt đối
tin những điều trong Cựu Ước, sinh ra nhiều ảo giác và tự cho mình những
quyền năng thần thánh, vai trò cứu thế, rửa sạch tội lỗi nhân loại
v..v.. Đó là kết luận của những
nhà phân tâm học như các bác sĩ George de Loosten, William Hirsch, Binet-Sanglé,
Tiến sĩ Emil Rasmussen v..v.. [Xin đọc thêm chi tiết về những nhận định
của các bác sĩ tâm thần trên trong cuốn Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì? đã đưa lên
trang nhà Giao Điểm gần đây] Chỗ nào trong Kinh
Thánh mà Chúa phán “Ta ở khắp mọi nơi”, Lê Nhân hãy nêu lên
tôi coi. Thuộc tính “Ta ở khắp mọi
nơi” (omnipresent) là thuộc tính giáo hội Ca-Tô La Mã gán cho con ông thợ
mộc trên, cùng với một lô những thuộc tính hoang đường mâu thuẫn
khác như toàn năng, toàn trí, không ai thấy, không ai hiểu được v..v… để
lòe bịp những đầu óc chứa toàn mì ăn liền chứ chẳng phải có ở
trong Kinh Thánh. Nhưng phân tích kỹ
câu phán trên mà Lê Nhân cho là của Chúa thì chúng ta lại thấy nhiều điều
thú vị. Vì khắp mọi nơi đúng là khắp
mọi nơi, không có chỗ nào mà không có, không chừa chỗ nào, vì Chúa là
Chúa mà. Vài chỗ điển hình: Tsunami,
Katrina, Tina, bệnh AIDS, SARS, Cúm Gà, và cả ở trong những “hang hùm bé tị”
của Lê Nhân viết trong bài. Và như vậy
Lê Nhân ở trong đời đã nhiều lần thấy Chúa ở khắp nơi rồi, có thể
thấy hàng ngày mỗi khi có nhu cầu nào trong tứ khoái, có phải như vậy
không? này, Lê Nhân! Đừng có cho là tôi phỉ báng Chúa đấy
nhé. Lê Nhân viết vậy chứ không phải
tôi, tôi chỉ diễn giải (interpret) thêm cho đúng nghĩa và rõ nghĩa câu “Ta
ở khắp mọi nơi” của Lê Nhân viết mà không hiểu mình viết
cái gì. Vậy đọc kỹ những
lời Phật dạy và Chúa không hề phán thì chúng ta thấy đầy dẫy
những mâu thuẫn trong lý thuyết của
các Ngài, giả thử là Chúa cũng có lý thuyết.
Bàn về lý thuyết của Phật thì chúng ta có thiên kinh vạn quyển,
trong đó tuyệt đối không có một điều nào bất nhân độc ác, giết người,
loạn luân. Còn lý thuyết của Chúa
thì chúng ta có cuốn Kinh Thánh, hơn nửa là những chuyện độc ác, giết
người hàng loạt, loạn luân, phi lý trí, phản khoa học. Như vậy có thể gọi là mâu thuẫn được
hay không hả Lê Nhân. Hơn nữa, Phật
là bậc đại đức, đúng, vì Phật không nói chứ đừng nói là làm một
điều gì ác, không có phân biệt chúng sinh.
Nhưng Chúa thì không thể nào là một đại đức được. Một người mà lên tiếng nguyền rủa những
người không tin mình là đồ rắn rết, phải đầy hỏa ngục vĩnh viễn
để bị ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt, coi thường cha mẹ, gọi mẹ xách
mé là “Người đàn bà kia” v..v.. thì không thể gọi là đại đức được. Vậy chẳng có gì để mà đi so sánh rồng
với tôm, phượng hoàng với chim sẻ. Và
tất nhiên không có ai ngu đến độ mượn rồng để mà chống tôm, mượn
phượng hoàng để mà chống chim sẻ. Tiếp theo, chúng ta hãy đọc Lê Nhân
viết về chuyện Kiều: Thuý Kiều, kẻ
vô duyên nhất với cửa Phật, có duyên với cửa Lầu xanh, nhân vật văn
học đẹp nhất của dân tộc ta, vốn chỉ là một con điếm. Nhờ có tâm
Phật, dân tộc ta, thông qua Nguyễn Du đã biết cách biến cặn bã nhơ nhớp
thành hoa thơm ngà ngọc, nâng một con điếm ngoại bang lên thành quốc hồn
quốc tuý, thành BIỂU TƯỢNG CỦA CÁI ĐẸP MANG TÍNH THẨM MỸ VIỆT NAM
ĐIỂN HÌNH rất Phật, rất Chúa, thì hà cớ gì Chúa và Phật không là
hình bóng của nhau trên xứ sở này, nhân loại này? Nhưng vấn đề ở
đây không phải là Lê Nhân viết về điếm mà là viết bậy về truyện
Kiều. Chưa bao giờ Nguyễn Du cũng như
người Việt “nâng một con điếm ngoại bang lên thành quốc hồn quốc
tuý”, hay thành “biểu tượng của cái đẹp mang tính thẩm mỹ Việt
Nếu Lê Nhân đã học
đến lớp 11 như ngày xưa tôi được Giáo sư Nghiêm Toản giảng trong lớp
đó thì phải biết rằng, giá trị truyện Kiều không nằm nơi cốt truyện,
vì cốt truyện này không có gì đặc biệt, thời nào cũng có những nhân
vật và nghịch cảnh như trong truyện Kiều.
Về phương diện một vài khía cạnh đạo đức trong đó, các cụ
nhà ta đã khuyên:
Vậy giá trị truyện Kiều ở đâu
mà đã thành một áng văn tuyệt tác của Việt Thật ra, Lê Nhân viết bài “Mừng Chúa giáng sinh, bàn thêm về vấn
đề tôn giáo” chẳng phải để mừng Chúa với một văn phong côn đồ
hạ cấp, vì văn phong loại đó chỉ làm nhục Chúa, mà cũng chẳng phải
để bàn thêm về vấn đề tôn giáo, vì Lê Nhân đâu có hiểu gì về “Chúa
giáng sinh” và “tôn giáo”. Nội
dung bài viết phần lớn là mượn Chúa và những tay sai của Chúa như Tổ
Quốc Ăn Năn hay Thông Luận để chửi rủa cùng lúc hù dọa Giao
Điểm bằng một văn phong mà Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang liệt vào loại “côn đồ văn hóa” hay “đao phủ văn
chương”. Để cho quý độc giả thấy
rõ loại văn phong này, sau đây là đoạn tiếp theo của Lê Nhân: “Văn hào Hi Lạp Nikos Nazantzakis
trong tác phẩm bất hủ của mình: “Cám dỗ cuối cùng của Chúa” đã
có một trang viết tuyệt vời nhân bản, tuyệt vời vinh danh Chúa là
trang nhà văn hào tả Chúa Jesus, khởi đầu công cuộc truyền đạo, đã
âm thầm đến nhà thổ, xếp hàng cùng với những gã đàn ông trác
táng khác để chờ đến lượt mình! Chúng ta hãy bỏ qua
loại văn phong đặc biệt này và đi vào nội dung của đoạn trên. Như Thường Đức đã nhận xét: Lê
Nhân đâu có đọc nguyên tác: “The Last Temptation of Christ” của Nikos
Kazantzakis bao giờ đâu, nên chỉ diễn giải láo lếu một đoạn vặt vãnh
trong tác phẩm của Nikos Kazantzakis. Nếu
đã đọc kỹ Kazantzakis và có đủ trình độ thì Lê Nhân không bao giờ
dám viết như trên. Nhưng theo tôi thì
Lê Nhân chưa đủ trình độ để hiểu Nikos Kazantzakis, vì muốn hiểu ý của
Nikos Kazantzakis trong tác phẩm “The
Last Temptation of Christ” chúng ta cần phải biết khá kỹ nội dung Tân
Ước cũng như lịch sử và xã hội Do Thái thời Tân ước được viết ra
vào cuối thế kỷ 1, một cái vốn kiến thức mà chắc chắn Lê Nhân
không hề có. Tôi sẽ chứng minh điều
này cho quý độc giả rõ và đồng thời để làm một bài học vỡ lòng
cho Lê Nhân về một điều: “không nên múa gậy vường hoang” trước giới
trí thức Việt Trước hết, cái mà
Lê Nhân cho là một trang viết tuyệt vời thì chẳng có gì là tuyệt vời
cả, vì trang đó chẳng có gì đúng với những đều Lê Nhân viết. Mặt khác, chắc chắn là Lê Nhân cũng
chưa hề đọc những trang trước cũng như những trang sau của trang này
nên mới diễn giải láo lếu như vậy. Vì sự thực là, Giê-su đi xếp hàng
vào nhà điếm Magdalene không phải là để cứu chuộc hay cứu độ gì cô
gái ăn sương này mà là thúc đẩy bởi sự cám dỗ xác thịt, một ám ảnh
từ lâu. Điều này rất rõ ràng trong
văn bản của Nikos Kazantzakis nhưng Lê Nhân chỉ muốn vinh danh Chúa nên mới
phịa ra chuyện “Ngài đã đến, đã gặp, và đã “chơi” vào tâm hồn
gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa và ngay tắp lự, “Nàng”
Kiều Jerusalem đã giác ngộ” trong khi chính Giê-su trong truyện nhiều
lúc cũng hoang mang vật lộn giữa hai con đường: theo Thiên Chúa và đời sống
thế tục, và Magdalen cũng chẳng ngay tắp lự đi theo Giê-su. Trong thời đại của chúng ta ngày nay, ân sủng của Thiên Chúa chỉ là cái bánh vẽ
trên trời do nền thần học Ki-Tô Giáo đưa ra để nhử những đầu óc yếu
kém, thiếu nhiều neuron. Thứ nhì, bản
văn của Nikos Kazantzakis viết khác hẳn, không có chỗ nào như Lê Nhân phịa
láo ra. Nhưng trước hết, chúng ta hãy
tóm tắt nội dung cuốn “The Last Temptation of Christ” của Nikos
Kazantzakis. Trong cuốn truyện, Giê-su
được trình bày như là một con người đầu óc bấn loạn, nhút nhát, luôn luôn sợ hãi, bối rối về
vấn đề tình dục và phân vân trước cuộc sống. Giê-su là một anh thợ mộc kiếm sống bằng
nghề đóng những cây thập giá để cho người La Mã đóng đinh những người
Do Thái yêu nước nên bị dân chúng nguyền rủa là kẻ phản bội (traitor)
và đôi khi còn ném đá vào Giê-su. Suốt
trong cuộc đời, Giê-su trải qua nhiều cám dỗ và sự cám dỗ cuối cùng
là sự mơ màng trên thập giá: được lấy Mary Magdalene làm vợ, làm tình
với Mary, và sống một cuộc đời bình thường trong một gia đình với vợ
và con. Sự cám dỗ cuối cùng này thực
ra chẳng phải là cám dỗ mà chỉ là sự kết tinh của những ám ảnh
tình dục và mơ ước của Giê-su với Mary Magdalene đã hiện ra trong trí
óc của Giê-su trước khi chết. [Đây là điều bình thường với tất cả
mọi người, trước khi chết còn chưa dứt bỏ được những gì mà mình
còn lưu luyến, hối tiếc, trừ những người đã ý thức được lý vô thường
của vạn pháp. TCN] Cũng vì vậy mà cuốn
phim The Last Temptation of Christ do Martin Scorsese đạo diễn, tung ra trình
chiếu năm 1988, đã bị tất cả các hệ phái Ki-Tô lên án ở trong nước
Mỹ cũng như ở một số nước khác. Những tín đồ Ki-Tô quá khích, cuồng
tín, khắp nơi đã lên tiếng phản đối, dàn hàng ngoài các rạp chiếu
phim để ngăn cản những người đi coi phim, hô hào tẩy chay và đe dọa đặt
bom phá rạp, [tương tự như những cuộc biểu tình, dàn hàng ngăn cản những
buổi trình diễn văn nghệ của những nghệ sĩ từ trong nước sang bởi những
người Việt Nam tị nạn cao quý khao khát tự do và dân chủ. TCN] và ngay từ
đầu tác phẩm trên của Nikos Kazantzakis đã bị Giáo hội Ca-Tô La Mã cấm
tín đồ đọc. Nhưng chuyện bất ngờ
là những sự chống đối lại gây ra những phản ứng ngược: thu hoạch của cuốn phim rất cao, DVD ra
bán rất chạy, và cuốn “The Last Temptation of Christ” của Nikos
Kazantzakis lại càng được nhiều người đọc hơn. Bây giờ, chúng ta
hãy trích vài đoạn trong cuốn “The Last Temptation of Christ” của
Nikos Kazantzakis, để chứng minh những điều tôi viết ở trên không phải
là vô căn cứ và để vạch mặt Lê Nhân về sự láo lếu ngu dốt của hắn
khi hắn viết: Ngài đã đến, đã gặp, và đã “chơi” vào tâm hồn
gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa! Và ngay tắp lự, “Nàng”
Kiều Jerusalem đã giác ngộ, đã nghe theo lời “dụ dỗ” của “Khách
làng chơi” tuyệt mỹ này để theo “Chàng”- Jesus “về dinh” mà lội
từ vũng bùn tội lỗi nhơ nhớp nhất trần gian, bước một bước lên đỉnh
Thiên Đường của trinh bạch và thánh thiện.
Sau đây là vài cảnh trước khi Giê-su xếp hàng vào nhà điếm:
Đoạn sau đây là cảnh
Giê-su đứng bên đường chờ đợi Magdalene với một bông hồng trên tay: Trang 26: “Giê-su quay đầu lại. Đi xuống phía hắn với đôi giép đỏ, tóc
xõa, với toàn bộ những vòng kiềng ở cổ chân, cổ tay và bông tai là
Magdalene, người con gái duy nhất của ông cậu Rabbi của hắn. Đầu óc người trẻ này quay cuồng. Giê-su kêu lên “Chính là nàng, là nàng
mà tôi muốn!” và đưa tay ra để tặng cho nàng bông hồng.” (He turned.
Descending upon him with her red sandals, unplaited hair and complete armor
of ankle bands, bracelets and earings was Magdalene, the only daughter of his uncle rabbi. The young’s mind
shook violently. “It’s her I want, her I
want!” he cried, and he held out his hand to give her the rose.) [Đoạn này chứng tỏ
Giê-su rất mết Magdalene. TCN] Đoạn sau đây tả
tâm trạng của Giê-su khi nghe ơn kêu gọi của God: Trang 28: “Nhưng rồi bỗng nhiên một người nào
đó ở trên trời đang nói với Giê-su [Đây là Ki Tô Giáo thường cho là
ơn kêu gọi của God. TCN] Giê-su vểnh tai lên nghe – nghe, và lắc đầu
liên tục, như là muốn nói Không! Không! Không!
Sau cùng Giê-su mở miệng. Giọng
nói của Giê-su không còn run sợ. “Tôi
không thể! Tôi là kẻ mù chữ, một kẻ
vô tích sự, sợ hãi đủ mọi thứ. Tôi
thích ăn ngon, uống rượu, và cười đùa.
Tôi muốn lấy vợ, có con…”Hãy để mặc tôi”… Đột nhiên hắn phải lấy hai tay che
tai để làm nhẹ đi tiếng nói man rợ ở trên hắn… và trả lời: “Đúng vậy, đúng vậy, tôi sợ… Tôi có thể nói gì được và phải nói
làm sao? Tôi bảo người, tôi không thể! Tôi là kẻ mù chữ!.. Ông nói gì vậy?… Nước thiên đường?.. Tôi cóc cần cái nước thiên đường. Tôi thích thế gian này. Tôi bảo cho ông biết, tôi muốn lấy vợ. Tôi muốn Magdalene, ngay cả khi nàng là một
con điếm.” [Vậy mà Lê Nhân viết
là Giê-su mang ân sủng Thiên Chúa đến cho Magdalene] (But then, suddenly,
someone above was speaking to him. He cocked
his ear and heard – heard, and shook his head violently, continually, as though saying,
No!No!No! Finally he too opened his mouth. His voice no longer trembled. “I can’t! I
am illiterate, an idler, afraid of everything. I
love good food, wine, laughter. I want to
marry, to have children.. “Leave me alone!”… Suddenly he had to put
his hands over his ears to soften the savage voice above him… and answered: “Yes, Yes,
I’m afraid… What can I say, how can I say it? I
can’t, I tell you! I am illiterate!… What
did you say? … The kingdom of heaven?… I don’t care about the kingdom of heaven. I like the earth.
I want to marry, I tell you; I
want Magdalene, even if she’s a prostitute..”) Đoạn tiếp theo tả
cảnh Giê-su tự hành xác để xua đuổi những ám ảnh về tình dục với
Magdalene: Trang 81: “Hắn cởi chiếc thắt lưng da có
đinh, dẫm chân lên quần áo hắn vừa mặc, không nói năng gì, bắt đầu
quất không thương tiếc vào đùi, lưng và mặt mình. Máu túa ra và chảy đầm đìa. Hắn cảm thấy vậy và cảm thấy nhẹ
nhàng”. (He unbelted the nail-studded leather strap, trampled the clothes he was
wearing underfoot and, without speaking, began pitilessly to scourge his thighs, back and
face. The blood spurted out and splashed him. He felt it and was relieved.) [Có một số học giả đã cho rằng Giê-su
là một sadist, nghĩa là người cảm thấy thoải mái sung sướng khi tự hành
xác. Và trong Ki Tô Giáo cũng có một
dòng áp dụng lối hành xác này, đặc biệt là cho nữ tu. TCN] Vài đoạn sau đây mô tả sự mâu thuẫn
trong tâm trạng của Giê-su. Giê-su
không muốn đến nhà của Mary Magdalene nhưng rồi vẫn không cưỡng lại
được tiếng gọi của thể xác nên đã đến, tuyệt đối không phải đến
để “chơi” vào tâm hồn gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên
Chúa như Lê Nhân ca tụng láo Giê-su, mà để xin được Magdalene tha thứ,
vì Giê-su luôn luôn bị ám ảnh bởi một điều hoang tưởng là vì mình
mà Magdalene trở thành gái điếm. Trang 82: Giê-su nghĩ: Ta phải đi lánh xa, phải đi thoát, không được đặt chân đến
Magdala [một thị trấn ở Giê-su tới con đường chính.. lại tự
nhủ “Ta không được đi qua Magdala”. Ta
sợ. Giê-su ngừng lại để quyết định
sẽ đi đường nào tới hồ. Hắn rẽ
vào con đường nhỏ đầu tiên ở phía bên phải.
Hắn biết là Magdala ở phía bên trái, hồ ở bên phải, và hắn
đi với sự tự tin. Giê-su đi và đi, đầu
óc lang bang. Giê-su đang chạy trốn cô gái điếm Magdalen để
đến với God… Giê-su đi và đi. Con đường ngoằn ngoèo uốn sang phải sang
trái đi qua những vườn nho, đi lên giốc
một lần nữa, tới hang ô-li-vờ. Người
con trai của Mary đi theo con đường đó như theo luồng nước chảy hay
theo tiếng hát buồn chán của một người cưỡi lạc đà. [Đọc đoạn trên, chúng ta thấy
Giê-su luôn luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh Magdalene. Đi vào sa mạc mà tu thì cứ đi chứ việc
gì cứ phải tự nhủ là đừng đến với Magdalene] (I
must go away, I must escape, he thought, must not set foot in Magdala - curse the place! I won’t stop untill I reach the desert and bury
myself in the monastery. There I shall kill
the flesh and turn it into spirit… He reached the main
road..”I must not go through Magdala” he murmured again.
“I’m afraid” He stopped to
decide which way to turn in order to reach the lake. He
took the first narrow road he found on his right. He
knew that Magdala sat to the left, the lake to the right, and he proceeded with
confidence. He marched and marched,
and his mind wandered. He was running from
Magdalen, the whore to God... He marched and marched.
The twisting path wound in and out through the vineyards, rose once more, reached the
olive groves. The son of Mary followed it as
one follows running water or the sad, monotonous chant of a camel driver.) Giê-su có chạy trốn
khỏi được Magdalene không, chúng ta hãy đọc tiếp: Trang 83:
“Giê-su đi theo con đường hẹp, và đầu óc vẫn suy nghĩ lang bang, nhưng
đột nhiên hắn ta dừng lại, ngỡ ngàng. Ngay
trước mặt trong một khoảng trống bị che, trải rộng dưới rặng dừa,
là Magdala. Trong đầu Giê-su muốn
quay trở lại, quay trở lại, nhưng cước bất tòng tâm, bắt đầu dẫn hắn
với những bước chân quyết định để đi tới ngôi nhà ngào ngạt hương
thơm của người em gái họ Magdalene, đến căn nhà đã bị kết án là
sẽ bị thiêu bởi những ngọn lửa dưới hỏa ngục. “Không được, ta không muốn đến
đó, ta không muốn đến đó” Giê-su tự nhủ, trong lòng sợ hãi. Hắn định quay trở lại nhưng thể xác hắn
từ chối ý muốn của hắn. Hắn quyết
định với mình một lần nữa: “Ta phải đi xa khỏi đây”, nhưng hắn
không hề nhúc nhích. Hắn nghe thấy
một tiếng nói ngọt ngào trong nội tâm: Ta
phải gặp nàng, Ta phải gặp nàng…” [Vậy mà Lê Nhân đã
viết bậy là Nikos Kazantzakis đã viết một trang tuyệt
vời để vinh danh Chúa là Ngài đã đến, đã gặp, và đã “chơi” vào
tâm hồn gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa! TCN] (He followed the path, and his mind ran on,
but suddenly he stopped, startled. There
before him in a sheltered hollow, spread out beneath the date palms, was Magdala. His mind turned back, turned back, but his feet,
against his will, began to lead him with sure steps to the perfumed hermitage of his
cousin Magdalene, to the house which was condemned to the fires of hell. “No, I don’t want to
go, I don’t want to go” he murmured in terror. He
tried to reverse his course, but his body refused… I’ll go away! he decided once more
within himself, but he did not budge… I must see her, must see her, he heard a sweet
voice within him say.) Và, như Lê Nhân viết, Giê-su đã đứng
xếp hàng với một số người đến trước để chờ đến lượt vào với
Magdalene. Từ những đoạn mà tôi vừa
trích dẫn trong cuốn “The Last Temptation of Christ” của Nikos
Kazantzakis ở trên, có người nào có thể tin rằng Giê-su đã cố ý xếp
hàng chờ đến lượt vào với Mary Magdalene để “chơi” vào tâm hồn
gái điếm Madalenna toàn bộ ân sủng Thiên Chúa?
Ân sủng Thiên Chúa nằm ở chỗ nào trong người của Giê-su?
chắc hẳn Lê Nhân biết rõ. Chúng ta
đã thấy rõ, Giê-su luôn luôn bị ám
ảnh bởi hình ảnh của Magdalene, ám ảnh cho đến lúc chết trên thập
giá. Chúng ta cũng biết, Giê-su là một
thanh niên nhút nhát, luôn luôn sợ hãi, tinh thần bấn loạn, tâm thần bất
ổn, bị giằng co giữa hai cám dỗ, nửa muốn “zui zẻ” với Magdalene, nửa
muốn làm người trong sạch tinh khiết để đi theo God. Không ai hiểu rõ Giê-su bằng Magdalene, cho
nên khi vào với Magdalene rồi, chúng ta nghe được Magdalene lật tẩy của
Giê-su như sau: Trang 90: “Anh [Giê-su là anh họ của
Magdalene] thèm khát thân thể của tôi, thay vì nói thẳng ra như vậy, điều
mà anh không dám, anh lại bắt đầu đổ tội cho linh hồn của tôi và nói
là muốn cứu vớt nó. Linh hồn nào,
cái tên mơ màng vớ vẩn kia. Linh hồn
của người đàn bà là cái xác thịt của bà ta.
Anh biết vậy mà; nhưng anh không có can đảm như một người
đàn ông để ôm cái linh hồn đó vào trong vòng tay và hôn nó – hôn nó
và cứu vớt nó.! Tôi thật thương hại
và ghê tởm anh.” (You crave my body, and instead of saying so, which you wouldn’t
dare, you start blaming my soul and saying you want to save it. What soul, daydreamer? A woman’s soul is her flesh. You know it; but you don’t have the courage to
take this soul in your arms like a man and kiss it – kiss it and save it! I pity you and detest you!”) Đến đây, tưởng
chúng ta cũng đã rõ chuyện Giê-su xếp hàng chờ đến lượt vào với cô
điếm Magdalene là như thế nào, tuyệt đối không có chỗ nào như Lê Nhân
phịa láo ra như trên để vinh danh Chúa. Nhưng
thật ra thì vai trò “điếm” của Mary Magdalene là do Giáo hoàng Gregory dựng
lên vào năm 591 qua xảo thuật ngụy diễn những nhân vật cùng có tên Mary
và không có tên trong Tân ước. Tại
sao Giáo hoàng và giáo hội lại cố tình bôi nhọ Mary Magdalene? Đây là một vấn đề đã được nghiên cứu
tường tận nhưng không thuộc bài viết này.
Chúng ta chỉ cần biết rằng, năm 1969, Giáo hội Ca-Tô La Mã
đã chính thức bác bỏ sự ngụy diễn Tân Ước của Giáo hoàng Gregory và
khẳng định lại là Mary Magdalene không phải là một gái điếm như Giáo
Hoàng Gregory đã quyết định như vậy. Lẽ
dĩ nhiên, Lê Nhân không biết điều này nên ngày nay vẫn ngu ngơ đi mượn danh một người mà Lê Nhân cho là một
gái điếm, viết bậy viết bạ bằng một văn phong hạ cấp để vinh danh
Chúa cùng hạ thấp giá trị truyện Kiều và chống.. Giao Điểm. Lê Nhân dùng một
trang mà chắc chắn Lê Nhân chưa đọc trong cuốn “The Last Temptation of
Christ” của Nikos Kazantzakis, phịa láo để đạt những mục đích
trên. Nhưng nếu Lê Nhân đã đọc cuốn
truyện trên của Nikos Kazantzakis và nếu
Lê Nhân đủ trình độ để hiểu những điều tác giả viết trong đó
thì tôi dám chắc Lê Nhân không bao giờ dám viết càn như trên. Trong cuốn “The Last Temptation of Christ”
của Nikos Kazantzakis, có một từ để gọi Giê-su mà tác giả dùng trong
suốt cuốn sách, đó là “Con trai của Mary” (The son of Mary). Chắc Lê Nhân cho rằng như vậy là đúng
chứ sao vì Giê-su chẳng là con trai của Mary là gì? Không hẳn vậy.
Nikos Kazantzakis đã dựa vào chính Tân ước để gọi Giê-su như
vậy. Nhưng gọi như vậy thì có gì
là sai? Chẳng có gì sai cả nhưng nó
hàm ý một nghĩa mà những người Ki-Tô Giáo không ai muốn nhìn nhận. Lê Nhân có muốn biết tại sao không? Có ngay! Trong Tân Ước, Mark 6: 3 cho biết rằng Giê-su có 4 người
em trai và ít nhất là 2 em gái như sau: “Đây có phải là anh thợ mộc (Giê-su),
con bà Mary, anh của James, Joses, Judas, và Simon? Các em gái của hắn chẳng phải đang có mặt
tại đây sao?” (Is this not the carpenter, the son of Mary, and brother of
James, Joses, Judas, and Simon? And are not
his sisters here with us?). Chúng ta hãy bỏ
qua chuyện Mary vẫn còn đồng trinh vĩnh viễn sau khi sinh nở 7 người con mà
Giê-su là con trai đầu lòng. Nhưng
đối với các học giả nghiên cứu Thánh Kinh và cổ sử Do Thái thì câu “Đây
có phải là anh thợ mộc, con bà Mary” lại nói lên một chuyện khác. Theo truyền thống Do Thái thời bấy giờ
thì dân chúng thường gọi một người còn trẻ là con ông này, con ông nọ,
chứ không bao giờ gọi là con của bà này, bà nọ. Gia hệ của Giê-su trong Matthew và Luke đều
kể tên đàn ông qua nhiều đời. Trường
hợp gọi một người là con của bà này, bà nọ là để ám chỉ đứa con
đó là đứa con hoang (bastard). Thật vậy, trong tuần báo Time,
tờ báo có uy tín và phát hành vào bậc nhất trên thế giới, số ngày 6
tháng 12, 1999, có bài viết của Reynolds Price, một học giả chuyên gia về
Thánh Kinh (biblical scholar), về Giê-su ở Nazareth: Xưa và Nay (Jesus of
Nazareth: Then and Now). Tác giả viện dẫn
Phúc Âm James và viết như sau: Chuyện
người ta cho rằng Giê-su là đứa con hoang có lẽ uẩn hàm trong câu hỏi của
dân làng trong Mark 6, “Đây có phải là con bà Mary không?” Bị gọi là con của người mẹ, thay vì
con của người cha, thường hàm ý đó là đứa con hoang, hay ít nhất là một
dấu chỉ không biết cha là ai, bất kể người cha này là thần thánh hay
là người thường. Nhiều người
chống đối thuyết đồng trinh thời đó cũng cho rằng Mary có mang
Giê-su với một người lính La Mã tên là Panthera. Chuyện sinh ra đời của Giê-su thật là
mù mờ bởi những nghi vấn về người cha là ai.
(Reynolds Price, Time, Dec. 6, 1999: The suggestion that Jesus' childhood may have been
dogged by the accusation of bastardy is perhaps implicit in his townspeople's question in
Mark 6, "Isn't this Mary's son?" To
be called one's mother son, as opposed to one's father's, was often an implication of
bastardy, or at least a sign that one's paternity was unknown, whether divine or not. Early opponents likewise suggested that Mary had
conceived Jesus with a Roman soldier, Panthera. His
childhood may well be clouded by questions about his paternity.)
Nhiều học giả cho rằng, rất có thể những chuyện “giáng
sinh” về Giêsu, sinh ra từ một trinh nữ trong Matthew và Luke được tạo
ra để che đậy những phê bình phân tích về Ki Tô Giáo trong thế kỷ đầu:
Giê-su là một đứa con hoang của Mary.
Rải rác trong các Phúc Âm có những chi tiết chứng tỏ như vậy, nếu
chúng ta biết đọc những bản văn này. Cũng vì vậy mà Giám Mục Spong,
trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện
Giê-su Sinh Ra Đời, đã đưa ra nhận xét: Ông ta (Giê-su) không
là ai cả, một đứa trẻ ở Tôi có nên phê bình
tiếp hay không? Tôi nghĩ hốt rác từng
đó cũng đủ để cho quý độc giả nhận rõ giá trị, nếu có, bài “Mừng Chúa giáng sinh, bàn thêm về vấn
đề tôn giáo” của Lê Nhân. Tôi
hi vọng phần phân tích chứng minh ở trên là một bài học vỡ lòng cho
Lê Nhân về nghệ thuật nghiên cứu trước khi viết bài để từ đây về
sau, có viết lách gì hãy nên quay bút bảy vòng trước khi viết. Vài Lời Kết.-
Như trên tôi đã nói, Lê Nhân viết
bài “Mừng Chúa giáng sinh, bàn
thêm về vấn đề tôn giáo” với
một văn phong hết sức hạ cấp nhằm ba mục đích: vinh danh Chúa của ông
ấy, xuyên tạc hạ thấp giá trị truyện Kiều, và tố khổ Giao Điểm. Lê Nhân có đạt được ba mục đích trên
không? Thứ nhất, thay vì
vinh danh thì Lê Nhân đã làm nhục Chúa với văn phong của mình, và như tôi
đã phê bình ở trên, Lê Nhân không đọc Tân ước, không đọc The Last
Temptation of Christ, nên chẳng biết gì về Chúa cũng như về cuốn truyện
của Nikos Kazantzakis. Lê Nhân cũng không
đọc những nghiên cứu mới nhất về Mary Magdalene nên đã viết bậy về
một nạn nhân đã bị Giáo Hội Ca-Tô bôi nhọ để giữ quyền lực của
phái Thứ nhì, Lê Nhân đã xuyên tạc giá
trị của truyện Kiều với sự hiểu biết hời hợt, quá kém của mình về
truyện Kiều. Có thể đây nằm trong
sách lược “Tổ quốc ăn năn” của Nguyễn Gia Kiểng và thế lực đen. Sau cùng, Lê Nhân viết
xỏ xiên vu vơ về Giao Điểm. Lê
Nhân chống Giao Điểm là quyền của Lê Nhân, nhưng muốn cho sự chống có
giá trị phần nào thì cần có một điều kiện cần và đủ: đó là Lê Nhân phải có cùng trình độ
hay ít ra cũng sấp sỉ với trình độ của các tác giả trên Giao Điểm. Điều kiện này Lê Nhân tuyệt đối không
hội đủ. Vì vậy những câu vu vơ
như: “Thế mà người anh em WEBSITE
GIAO ĐIỂM (GĐ) đang hàng ngày tấn công vào đạo Thiên Chúa, tấn công,
bôi nhọ giáo hội của Ngài…” “Người
anh em GĐ săm soi lấy từng câu chữ trong Kinh Thánh ra để phê bình, bắt bẻ
rất giáo điều, thô thiển, xuyên tạc láo liên…” chứng tỏ Lê
Nhân không biết phân biệt giữa nghiên cứu trí thức nghiêm chỉnh và “tấn
công, bôi nhọ, phê bình, bắt bẻ v..v..” Nhưng có phải thật
sự là Giao Điểm chống, bôi nhọ đạo Thiên Chúa hay không? Giao Điểm toàn dùng tài liệu của các học
giả, giáo sư đại học, Tổng giám mục, Giám mục, Linh mục, Đại văn hào
v..v.. Tây phương, tuyệt đối không có một tài liệu nào của chính Giao
Điểm hay của Cộng Sản. Vậy, ai là
những người chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa.? Tổng Giám Mục Peter de Rosa? Giám mục John
Shelby Spong? Linh Mục James Kavanaugh? Mục sư Ernie Bringas? Các nhà thần học
Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann? Bertrand Russell, Victor Hugo, Diderot, Voltaire? Chỉ kể vài tên trong số hàng trăm các
nhà trí thức khác trong những xã hội Tây phương. Đó là những người chống và bôi nhọ đạo
Thiên Chúa đấy. Nhưng xét cho cùng
thì chẳng có ai chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa cả, vì đạo Thiên
Chúa đã đen kịt rồi, đâu còn chỗ nào hở để mà bôi nhọ, người ta
chỉ nói ra những sự thật về đạo Thiên Chúa mà thôi. Chống và bôi nhọ đạo Thiên Chúa chính
là đạo Thiên Chúa. Lịch sử ô nhục
đẫm máu của đạo Thiên Chúa với những cuộc Thánh Chiến, Tòa Hình Án
Xử Dị Giáo, Săn Lùng Phù Thủy, Giết Người Ngoại Đạo, cưỡng ép cải
đạo, theo gót thực dân đã là những sự kiện chống và bôi nhọ đạo
Thiên Chúa hơn gì hết. Sự suy sụp đạo
đức của một số giáo hoàng khi xưa, của một số linh mục ngày nay can tội
hiếp dâm các “sơ”, loạn dâm với trẻ con, của Tin Lành can tội diệt
chủng dân da đỏ ở Mỹ Châu v..v.. đã là những sự kiện chống và bôi
nhọ đạo Thiên Chúa rõ ràng nhất. Lịch
sử của Ca-Tô Việt Nam tiếp tay với thực dân Pháp để đưa nước nhà
vào vòng nô lệ đã là những sự kiện chống và bôi nhọ đạo Thiên
Chúa mà không ai có thể chối cãi trước những bằng chứng lịch sử bất
khả phủ bác. Lê Nhân không hiểu được
như vậy hay sao mà đổ tội cho Giao Điểm. Giao
Điểm chỉ có mỗi một tội là có can đảm đưa ra những sự thật về tôn
giáo để mở mang đầu óc của quần chúng, nâng cao dân trí mà thôi. Lê Nhân cũng còn
dùng cái mũ Cộng Sản chụp lên đầu Giao Điểm.
Nếu cái mửng này mà có phần nào giá trị thì Giao Điểm đã
xẹp tiệm từ lâu rồi, đâu có thể trở thành một Website thuộc loại
có nhiều người đọc nhất. Cái mũ Cộng
Sản ngày nay đã hết thời rồi. Lê
Nhân cũng không biết là Giao Điểm một thời đã bị bức tường lửa ở
Việt Hà Nội! Đất ngàn năm văn vật mà từ xưa tới
nay tôi biết có nhiều bậc cao nhân văn hóa, không hiểu sao lại sản sinh
ra một Lê Nhân, không hiểu gì về văn hóa dân tộc, mà cũng chẳng hiểu
gì về văn hóa Ki-Tô Giáo, nhưng lại bất cần đến liêm sỉ, viết bậy
về cả hai. Thật đáng buồn. © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com