giaodiem copyright
posted: 05.12.2005
   LA VANG – LỘ ĐỨC – FATIMA
    [Phần II :  Mary & Lourdes]

Trần Chung Ngọc

Vài Lời Nói Đầu.-

Trong Phần I viết về Mary & La Vang tôi đã viết về nhân vật Mary trong Tân Ước cũng như về ngụy tích Mary hiện ra ở La Vang, Việt Nam.  Dựa vào chính Tân Ước tôi đã chứng tỏ là những danh hiệu mà Giáo hội Ca-Tô La Mã đặt ra cho Mary không đặt cơ sở trên Tân Ước, thực chất chỉ là những luận điệu Thần học để kéo tín đồ vào sự sùng tín và mê tín một nhân vật tầm thường được dựng lên làm Mẹ Thiên Chúa, và chính hình ảnh của Giê-su như là Thiên Chúa cũng là do Giáo hội Ca-Tô dựng lên, trong khi giới trí thức và học giả nghiên cứu Kinh Thánh ngày nay đã biết rõ Giê-su chỉ là một người thường sống với một ảo tưởng và ảo giác.  Vì vậy, những sự hiện ra của Mary đã trở thành vô nghĩa, ít ra là trong giới hiểu biết.  Sự hiện ra của Mary ở La Vang chỉ có tính cách địa phương, không gây một tiếng vang nào trên thế giới, và không nằm trong sách lược của Giáo hội Ca Tô La Mã (Roman Catholic Church).  Tất cả các vụ hiện ra của Mary trên thế giới đều chỉ có tính cách địa phương, với mục đích nuôi dưỡng sự mê tín và đẩy mạnh lòng sùng tín Mary của các tín đồ bản địa, trừ hai nơi có tầm vóc quốc tế, thu hút hàng triệu tín đồ đến hành hương: LourdesFatima.

Cũng vì vậy, đối với trí thức Tây phương, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội Ca-Tô La Mã, nhiều người kinh ngạc khi thấy trong thời đại ngày nay mà nhiều tín đồ Ca-Tô La Mã vẫn còn tin vào những chuyện “không thể tin được”. Mỗi khi nghe tin là Mary hiện hình ở đâu, dưới gầm cầu, trên chiếc bánh trong tiệm ăn, trên vựa chứa ngũ cốc, trên sàn nhà tắm trong một tiệm bán đồ phụ tùng xe hơi v..v.., hoặc pho tượng Mary chảy nước mắt, hay chảy nước nhờn (dầu), chảy nước đỏ (máu), v..v.. ở đâu là tín đồ lại đổ xô đến chiêm bái, bất kể là ngay chính giáo hội, sau khi điều tra cũng phải thú nhận đó chỉ là do bàn tay người ngụy tạo ra, thí dụ như trường hợp tượng Mary chảy nước nhờn ở Brisbane bên Úc, nhưng giáo dân Việt Nam vẫn tin là tượng Mary chảy nước nhờn thật, và ở Saigon, dù nhiều vị lãnh đạo Ca-Tô đã lên tiếng phủ nhận tượng Mary chảy nước mắt, giáo dân vẫn tin là một pho tượng có thể chảy nước mắt thật và còn nói: “các Cha không tin thì để các con tin”.  Giáo hội Ca-tô quả đã rất thành công trong dịch vụ đào tạo đầu óc của những lớp tín đồ như vậy.  Lớp tín đồ có đầu óc thuộc loại này cũng không hề quan tâm đến đến chuyện tượng bà Mary chảy nước mắt, hay chảy máu, chảy dầu v..v.. để làm gì, có ích gì cho nhân loại, đã giúp ích được gì cho ai một cách cụ thể, trừ việc làm đầy túi những người đã dàn dựng ra chúng, và lẽ dĩ nhiên để hấp dẫn tín đồ có cùng loại đầu óc như họ trong một khoảng thời gian.

Người trong đạo cứ thường hay diễn giải một cách vô nghĩa là vì thương thế gian tội lỗi, thương thế gian đầy những bất hạnh đau khổ, hay…Cộng Sản vẫn chưa chết, hay vì Mỹ không công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ v..v.., nên Đức Mẹ đã khóc, hoặc chảy máu, hay chảy dầu v..v.. Nhưng  chính những điều diễn giải này lại chứng tỏ sự bất lực của bà Mary, mẹ của Thiên Chúa toàn năng,  trước những thảm họa thế gian. Phải chăng tượng bà Mary thường hay khóc,  chảy máu mắt, hay chảy dầu nhờn v..v.. là vì bố bà, cũng là chồng bà, cũng là con bà [thuyết Chúa Ba Ngôi: Tam Vị Nhất Thể], gần đây đã tạo nên Tsunami, Katrina, Rita, và trận động đất ở Pakistan, cúm gia cầm, bệnh AIDS v..v.., và từ khi con bà, cũng là chồng bà, cũng là bố bà, sinh ra đời thì thế giới vẫn liên tiếp xảy ra bao cuộc chiến tranh, thiên tai, bệnh tật v..v.., và nhất là, những người Ki-Tô Giáo cuồng tín đã nhân danh con bà, cũng là chồng bà, cũng là bố bà, để giết hại hàng triệu người và gây đủ mọi thứ tội ác trên thế gian, nhưng bà lại không thể làm gì để ngăn cản hay cứu vãn được, nên chỉ biết khóc.  Thật là quá tội nghiệp đi thôi, chúng ta nên thông cảm nỗi đau khổ này.  Nhưng đâu có phải chỉ mình bà Mary biết khóc.  Trên thế gian này, từ xưa tới nay, nước mắt chảy ra còn nhiều hơn nước biển cả.

Trong lịch sử “hiện ra” của bà Mary, người ta đếm được bà Mary đã hiện thân khoảng 21000 (21 ngàn) lần ở khắp nơi trên thế giới, và tượng của bà cũng đã khóc, hay chảy máu mắt, hay chảy dầu v..v.. không biết bao nhiêu lần rồi.  Cho nên chuyện tượng bà Mary gần đây khóc ở Saigon hay ở bất cứ đâu không phải là chuyện lạ.  Nhưng chuyện bà là Mẹ Thiên Chúa Toàn Năng, là đấng hằng cứu giúp v..v.., theo niềm tin của các tín đồ Ca-Tô La-Mã, nhưng lại không thể làm gì hơn mà chỉ biết khóc, khóc đến chảy máu mắt, chảy luôn cả nước nhờn, thì đó thật đúng là một chuyện lạ hơn chuyện chảy nước mắt nhiều.

Tại sao các tín đồ Ca-Tô La Mã vẫn còn tin vào những chuyện “không thể tin được”?  Vấn đề chính là căn trí con người bất đồng, và một khi con người đã bị nhốt vào vòng mê hoặc của tôn giáo thì con người, nếu thiếu hiểu biết và nghị lực, có thể tin vào bất cứ điều gì dù nó vô lý đến đâu.  Khi tìm hiểu về Ca-Tô La Mã giáo, người ta không còn lấy làm lạ trước sự mê tín vô trí của đa số tín đồ Ca-Tô La Mã, vì Ca-Tô La Mã Giáo có một chính sách nhồi sọ tẩy não tín đồ một cách tuyệt vời, và đã thành công tạo nên một hệ thống giáo quyền, đặt truyền thống trên sự tuyệt đối tùng phục của cấp dưới đối với cấp trên:  con chiên tuyệt đối tùng phục Linh mục, Linh mục tùng phục Giám mục, và cứ theo những nấc thang tùng phục này lên đến Tổng Giám Mục, Hồng Y và Giáo Hoàng.   Và một khi một đức tin nào đó đã được cấy vào đầu tín đồ rồi thì có bổ óc tín đồ ra cũng vô dụng. Chúng ta còn nhớ câu nói thời danh của “Thánh” Ignatius Loyola (1491-1556), Người sáng lập Dòng Tên, như sau:

Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng Trắng thực sự là Đen nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội Ca-Tô quyết định như vậy (We should always be disposed to believe that which appears white is really black if the hierarchy of the Catholic Church so decided.)

Do đó, về những vụ hiện ra của Mary, thực sự nếu không có mà Giáo hội bảo rằng , thì các tín đồ cũng phải sẵn sàng tin như vậy.  Điều này rõ rệt nhất khi chúng ta tìm hiểu về những vụ hiện ra của Mary ở LourdesFatima.  Hai trường hợp hiện ra nổi tiếng này, nếu nghiên cứu kỹ, thì chúng ta có thể thấy mỗi trường hợp đều được giáo hội dàn dựng lên theo một mục tiêu của giáo hội, hoặc là mục tiêu thần học như ở Lourdes, hoặc là mục tiêu chính trị như ở Fatima, nhưng trong cả hai nơi, mục tiêu kinh tế tuy là phụ nhưng lại trở thành chính.  Và giáo hội đã thành công ở cả hai nơi, vì đa số tín đồ thấp kém đã được dạy là phải sẵn sàng tin rằng Trắng thực sự là Đen, Không Có thực sự là , nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội Công Giáo quyết định như vậy. 

Điều này rõ rệt nhất khi chúng ta tìm hiểu về những vụ hiện ra của Mary ở LourdesFatima.  Hai trường hợp hiện ra nổi tiếng này, nếu nghiên cứu kỹ, thì chúng ta có thể thấy mỗi trường hợp đều đã được giáo hội dàn dựng lên theo một mục tiêu của giáo hội, hoặc là mục tiêu thần học như ở Lourdes, hoặc là mục tiêu chính trị như ở Fatima, nhưng trong cả hai nơi, mục tiêu kinh tế là chính yếu.  Và giáo hội đã thành công ở cả hai nơi, vì đa số tín đồ thấp kém đã được dạy là phải sẵn sàng tin rằng Trắng thực sự là Đen, Không Có thực sự là ,  nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội Công Giáo quyết định như vậy.  Trong Phần II của loạt bài này, tôi sẽ viết về sự hiện ra của Mary ở Lourdes trước.

Mary Và Ngụy Tích Lộ-Đức.-

Trước hết, chỉ bằng một lý luận rất ngắn ngủi, không đi vào chi tiết và tài liệu, tôi xin chứng minh rằng vụ hiện ra của Mary ở Lourdes là bịa đặt, không thực, và hoàn toàn  vô nghĩa,  từ đó kéo theo sự không thực và vô nghĩa của tất cả những vụ hiện ra khác trên thế giới, kể cả ở La Vang. 

Thật vậy, “Diễn biến hiện ra” của Mary ở Lourdes có thể tóm tắt trong hai sự kiện, và quý độc giả có thể thấy ngay mánh mưu của giáo hội trong vụ này.  Năm 1854, Giáo Hoàng Pius IX đặt ra tín điều Đức Mẹ sinh ra từ một Sự Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội (The dogma of Immaculate Conception), nghĩa là không mang tội tổ tông mà theo nền thần học Ca Tô thì  tội của Adam và Eve được truyền lại đời đời kiếp kiếp qua đường tình dục.  Theo luận điệu thần học về nguyên tội (original sin) thì mọi người trên thế gian đều sinh ra trong nguyên tội, không ai có thể thoát khỏi, và do đó mới có những luận điệu thần học về rửa tội, Chúa chuộc tội cho nhân loại v..v... mà ngày nay chỉ còn một số người có đầu óc đặc biệt mới còn tin. Theo tín lý “Immaculate Conception” thì Bà Mary là người duy nhất, không kể Giê-su là con của Thánh Ma (Holy Ghost), được miễn trừ nguyên tội. 

Có lẽ vì rất thích thú và hồ hởi với tín lý mới này của Pius IX, cho nên 4 năm sau, năm 1858  [năm mà chiến thuyền của những người Ca-Tô Pháp và Tây Ban Nha, với sự đón tiếp nồng hậu của Nguyễn Trường Tộ đi theo hầu  giáo sĩ quan thầy Gauthier (Ngô Gia Hậu) cùng các linh mục Pellerin, Huc, Caspar v..v.. và một số đông giáo dân, bắt đầu bắn phá Đà Nẵng mở màn xâm chiếm Việt Nam], bà Mary bèn hiện ra ở Lộ-Đức (Lourdes) ở miền Nam nước Pháp và khẳng định với cô bé mù chữ 14 tuổi, Bernadette Soubirous, bà ta chính là “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” (I am the Immaculate Conception), nghĩa là, bà Mary hiện ra với mục đích duy nhất là để chứng thực tín điều mà Pius IX đưa ra trước đó 4 năm về bà ta.  Theo Giáo Hội Ca-Tô thì bà Mary đã hiện ra ở Lourdes 18 lần, từ 11 tháng 2 đến 16 tháng 7, 1858, và nhiều lần xác định đi, xác định lại, xác định tái, xác  định hồi, với Bernadette Soubirous bà ta chính là “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” [tuy rằng Bernadette không hiểu thế nào là Thụ Thai Vô Nhiễm và cũng không đủ khả năng để nhắc lại câu “Ta là Đức Mẹ Thụ Thai Vô Nhiễm” như trong tài liệu của André Lorulot mà tôi sẽ trích dẫn trong một phần sau.] Trước hết, chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn “Mary” của Michael Jordan:

“Trong lần thứ hai hiện ra Bernadette hỏi tên người bạn kỳ bí của cô ta, và bà Mary tự giới thiệu là “Đức Mẹ Thụ Thai Vô Nhiễm”, xác định căn cước của mình trong nhiều lần hiện ra về sau.  Điều này được chấp nhận là xác thực, không những bởi ông giám mục của Bernadette mà toàn thể Tòa Thánh cũng chấp nhận như vậy. Cái mà có vẻ như cực kỳ bịp bợm đó có nghĩa hơn nếu chúng ta quan niệm toàn thể những hiện tượng hiện ra ẩu tả đó, xảy ra không ngơi nghỉ trong đầu thế kỷ 19, là do sự dàn dựng bày đặt của Giáo hội Ca-Tô.  Trong trường hợp Bernadette Soubirous, Giáo hội cần đến một sự chứng thực từ trên trời cho tín lý “Thụ Thai Vô Nhiễm” của giáo hội, đang còn bị nghi ngờ không thể tin được.  Một cô bé đang ở tuổi giậy thì, dễ bị tác động và đôi khi cuồng loạn, mù chữ và từ một gia đình nghèo khó, tự dưng ló ra một cách thuận tiện không biết từ đâu, được mớm cho một câu hỏi thích hợp [và tất nhiên sẽ được một câu trả lời thích hợp. TCN] và do đó có thể chứng  thực  những lời nói của Giáo hoàng là không thể sai lầm.”

(Michael Jordan, Mary, Weidenfeld and Nicolson, London, 2000, p. 293: During a second visitation Bernadette asked the name of her mysterious friend, upon which the lady introduced herself as “The Immaculate Conception”, confirming her identity on several subsequent occasions.  This was accepted as credible, not only by Bernadette’s bishop but by the entire Roman Catholic office.  What might appear to be extreme gullibility makes better sense if one takes the view that the whole rash of phenomena, which saw no respite in the early part of the 19th century, was orchestrated by the Catholic Church.  In the case of Bernadette Soubirous, the Church was in need of heavenly endorsement for its dogma of Immaculate Conception, still the subject of scepticism.  A young girl at the impressionable and sometimes hysterical age of puberty, illiterate and from an impoverished home, emerged conveniently from nowhere, was primed with an appropriate question and thus was able to confirm the infallibility of the Pope’s words.)

Đến đây chắc quý vị độc giả đã hiểu Giáo hội cho bà Mary hiện ra ở Lourdes với mục đích gì.  Điều làm cho chúng ta phải phì cười về cái màn bịp bợm này là khi Bernadette hỏi tên thì bà Mary không trả lời là “Mary”, tên của bà trong Tân Ước, mà lại trả lời là “Ta là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” để chứng thực danh hiệu “Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội” của Pius IX bày đặt ra.  Nhưng tại sao giáo hội phải bịp như vậy?  Vì thời đó, khi Pius IX tung ra tín điều “Vô nhiễm nguyên tội”   thì đã có nhiều tiếng xì xào nghi ngờ về tín điều mới của Pius IX.   Không những thế, năm 1870 Pius IX còn tung ra một tín lý khác: Giáo Hoàng không thể sai lầm  khi đưa ra một tín lý về đức tin hay một vấn đề đạo đức (Papal Infallibility in the matters of Faith or Morals),  do đó tín điều Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội thuộc về đức tín, và mọi tín đồ bắt buộc phải tin, không tin thì không được lên thiên đường, một cái bánh vẽ trên trời mà các tín đồ thường mơ tưởng không cần phải dùng đến đầu óc để suy nghĩ.  Tín đồ Công giáo từ xưa tới nay đã nổi tiếng là dễ bảo, dễ tin và cuồng tín, và sự thờ hình tượng Mary (Mariolatry) đã được phổ biến và đẩy mạnh trong giáo hội, cho nên một màn dàn dựng hoạt cảnh về Mary hiện ra ở Lourdes có thể đẩy mạnh lòng sùng tín Mary trong đám tín đồ, cùng lúc xác định một tín điều Pius IX mới đưa ra, và biến Lourdes thành một nơi mang nhiều lợi nhuận đến cho Giáo hội.

Nhưng có điều cả Giáo Hoàng Pius IX lẫn bà Mary không ngờ tới là sau khi bà Mary hiện ra ở Lourdes khẳng định là bà ta đích thực là Đức Mẹ Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội thì chỉ chưa đầy một năm sau, năm 1859,  Charles Darwin lại cho xuất bản cuốn Về Nguồn Gốc Các Chủng Loại (On The Origin of Species), đưa ra thuyết Tiến Hóa, rằng con người là do sự tiến hóa từ các sinh thể ban khai mà thành, hàm ý chẳng làm quái gì có Adam và Eve, và do đó chẳng có cái gì gọi là Nguyên Tội cả.  Vì vậy, giáo hội Ca-Tô đã mở một chiến dịch đại qui mô chống đối thuyết Tiến Hóa nhưng càng ngày càng thất bại vì giới trí thức càng ngày càng tin vào thuyết Tiến Hóa hơn là thuyết “nguyên tội” hoang đường của Giáo hội.   Vào hậu bán thế kỷ 19, quyền lực của Giáo hội không còn nhiều trong khi Tin Lành càng ngày càng bành trướng ở Âu Châu nên Giáo hội đành phải lui về thế thủ, cố gắng củng cố niềm tin trong giáo hội, nhất là trong đám tín đồ thấp kém đông đảo, và những sự chống đối thuyết Tiến Hóa càng ngày càng giảm đi cường độ.  Còn nữa, Pius IX và Mary cũng không thể ngờ được là, năm 1996, chính Giáo Hoàng John Paul II của Ca-Tô La-Mã Giáo, trước những bằng chứng bất khả phủ bác của thuyết Tiến Hóa, cũng phải chấp nhận là chẳng làm gì có Nguyên Tội qua lời tuyên bố đúng là “không thể sai lầm”:

   Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần... Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.

   (The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution...Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis).

Và Giám mục John Shelby Spong cũng viết trong cuốn Why Christianity Must Change or Die, trang 96:

 Nhân loại rõ ràng là tiến hóa theo một quá trình trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm.  Không làm gì có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại.   Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đã bị một đòn khai tử, và cái câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đã bắt đầu chao đảo.

   (Human life clearly evolved over a four-and-a-half-to-five-billion-year process.  There were no first parents, and so the primeval act of disobedience on the part of first parents could not possibly have affected the whole human race.  The myth was thus dealt a blow, and the monolithic story of salvation built by Christian apologists over the age began to totter.)

Trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die) Giám mục John Shelby Spong cũng còn viết như sau:

 "Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin." 7

(John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die,  pp. 98-99: We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized... A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.)

Và trong bài “Phép lạ Lộ Đức” là màn kịch bịp bợm của Vatican và chính quyền hoàng gia Pháp năm 1858, Charlie Nguyễn, một tín đồ Ca-Tô đạo gốc, cựu Trung Tá Quân Pháp VNCH,  cũng đã viết:   “Vì không có tội tổ tông, nên cũng chẳng cần Chúa phải mất công giáng trần để cứu chuộc, vì con người chẳng cần phải cứu chuộc để làm sạch cái tội mà họ không hề có. - Vì không có tội tổ tông nên không riêng một mình bà Maria là “Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội” mà tất cả mọi người chúng ta đều là “các dấng vô nhiễm nguyên tội” cả.

Từ sự nhận thức của những bậc lãnh đạo và trí thức trong Ki Tô Giáo như trên, và với kiến thức của chúng ta ngày nay về vũ trụ học, nhân chủng học, sinh học, di truyền học v..v.. , chúng ta thấy ngay rằng Tín Điều “Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội” của Pius IX bày đặt ra cho Mary là một tín lý đã được cưỡng đặt ra để kéo tín đồ vào một niềm tin nhảm nhí, mê tín, và bà Mary hiện ra ở Lourdes để khẳng định bà ta là “Vô Nhiễm Nguyên Tội” cũng chỉ là chuyện cực kỳ vô nghĩa, rõ ràng đã được giáo hội dàn dựng lên khi mà sự hiểu biết của con người chưa ở trình độ của ngày nay.  Từ những sự kiện trên, chúng ta có thể đoán biết thực chất những vụ hiện ra của bà Mary hay những vụ tượng bà chảy nước mắt, nước mũi [thường là khi khóc thì có nước mũi chảy theo] hay chảy máu, chảy dầu v..v..là như thế nào, có mục đích gì, và có chỗ đứng nào trong thời đại khoa học ngày nay.

Thực ra, chỉ một điều tự nhận là “Vô Nhiễm Nguyên Tội” của bà Mary ở Lộ-Đức trong khi trên thực tế chẳng có cái gì gọi là “nguyên tội”, cũng đủ để cho chúng ta thấy thực chất nhân vật Mary do Giáo hội Ca-Tô dựng lên với đủ mọi danh hiệu, cũng như sự hiện ra của Mary ở Lộ Đức , và do đó, ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới là như thế nào.  Tuy nhiên, vì loạt bài này có tính cách giáo dục, mở mang kiến thức, phần lớn để cho các tín đồ Ca-Tô, tôi thiết nghĩ chúng ta cũng nên đi thêm vào chi tiết vụ Mary hiện ra ở Lourdes, tuy chúng ta đã biết là chẳng làm gì có chuyện hiện ra ở Lourdes hay bất cứ ở đâu.

Sự Thật Về Ngụy Tích Lộ-Đức.-

Sự thật về sự “hiện ra” của bà Mary ở Lộ-Đức (Lourdes) ra sao? Chúng ta có thể tìm thấy chi tiết trong cuốn Lộ Đức: Sự thật về những ảo giác  của Bernadette.  Tính cách thương mại của hang đá (Lourdes) (Lourdes: La Vérité sur les Visions de Bernadette.  Le mercantilisme de la Grotte), của André Lorulot .  Sau đây tôi xin trích dẫn những đoạn quan trọng về cái màn bịp bợm mà người ta thường cho là "phép lạ" ở Lourdes.

"Giáo hội có những phương tiện quyền thế để truyền bá những chuyện không tưởng.  Giáo hội phát hành hàng triệu cuốn sách chứa đầy những lời dối trá trắng trợn và những sai lầm cố ý.

Thí dụ, cuốn sách nổi tiếng của Henri Lasserre viết về Đức Mẹ ở Lộ Đức đã được phát hành tới một triệu cuốn.  Thực ra, văn phẩm thuộc loại đó chỉ nhằm những người trí tuệ thô thiển.  Đó là tác phẩm của một tín đồ mù quáng và cuồng tín.

Một Linh mục dòng Tên, ông Cros, thú nhận rằng"cái mớ tài liệu đưa cho Henri Lasserre  ngày trước " thực sự trống rỗng.  "Không có gì trong đó có thể dùng để viết một cách xác thực về câu chuyện hiện thân của Đức Mẹ."

Larsserre giới thiệu Francois Soubirous (cha của Bernadette) như là một con người gương mẫu.  Trái lại, Linh mục Cros biết rõ rằng, đó chỉ là một tên nghiện rượu, mang tiền của gia đình đi la cà tửu quán uống rượu, vào tháng 3, 1858, đã bị tù vì tội ăn cắp.

Em nhỏ Bernadette Soubirous, con gái tên nghiện rượu kể trên, cùng với vài đứa bạn đi kiếm củi. Khi tới gần cái hang, em nhìn thấy một người đàn bà đẹp "không giống người nào trên trái đất" mỉm cười.  Em quỳ xuống.   Người đàn bà kia tay làm dấu Thánh giá.

Chủ nhật tới, em trở lại cái hang trên cùng mấy đứa bạn.   Tất cả đều quỳ xuống cầu nguyện.  Sau một hồi, mặt Bernadette rạng rỡ lên.  Em lại thấy người đàn bà áo trắng kia xuất hiện.  Các bạn em không ai thấy cả nhưng xúc động trước cảnh tượng ngây ngất xuất thần của em bé chăn cừu (Bernadette).

Người đàn bà mà Bernadette nhìn thấy trong hang cũng đọc riêng cho em ba điều bí mật.  Người ta đã không tiết lộ ba điều bí mật này.

Làm sao mà Bernadette có thể nhớ được những điều trên (giả thử có người thực sự đọc cho em điều gì đó)?  Trí nhớ của em nhỏ đáng thương kia rất kém cỏi đến độ em không thể nhắc lại cho đúng hai tiếng "Immaculée Conception" (Thụ thai vô nhiễm).

Bernadette đã mang tới một mảnh giấy và một  cái bút chì để Đức Mẹ đồng trinh viết.  Nhưng "Bà" đã lẩn tránh, không viết và thật là đáng tiếc.  Chúng ta đã có thể có được một văn kiện tỉ mỉ, chắc chắn là đáng tin cậy hơn là những lời tả lại của em bé nhà quê.  Nhưng Bernadette không biết viết, và đó là lý do, lý do duy nhất,  bắt em phải trình lại mảnh giấy còn trinh nguyên (giống như người đàn bà đã hiện ra).

"Hãy nói với những Linh mục là phải xây một nhà thờ ở đây và mọi người phải diễn hành đến đó."

Những lời trên, theo Bernadette, là của người đàn bà đã xuất hiện, không thể làm các ông Linh mục phật ý.  Tới đây, âm mưu đã rõ rệt.

Khi người ta làm cho Đức Mẹ phát ngôn thì, do một sự trùng hợp khó xử, bao giờ cũng là để phục vụ quyền lợi của giới giáo sĩ.

Tất cả cái trò hề đó đã được Linh mục Peyramale ở Lourdes (Lộ đức) dàn dựng và sau đó được giám mục Laurence ở Tarbes khuyến khích và ủng hộ.

Bernadette đã được hai linh mục khác, LM Ader và LM Ponian chuẩn bị tư tưởng và mớm lời.

Người ta đã đem cô gái nhỏ bệnh hoạn tới một làng nhỏ, Bartrès, để săn sóc.

Thật là khá châm chọc khi ta nhận xét là Bà đồng trinh luôn luôn chọn những tâm hồn mộc mạc để giao phó riêng những bí mật.

Tại sao Bà đồng trinh lại chỉ xuất hiện trước em nhỏ bệnh hoạn đó?

Ngoài Bernadette ra còn có hàng trăm, hàng ngàn người.  Bà đồng trinh có thể làm cho sự thổ lộ của mình   có một giá trị nổi bật hơn nếu xuất hiện trước tất cả mọi người một cách không ai có thể nghi ngờ và để lại một vài văn kiện vô hiệu hóa mọi sự phản đối?  Tại sao chỉ chọn những đứa trẻ mắc bệnh tâm thần?

Vậy thì, những ảnh tượng Bernadette nhìn thấy đã được sắp xếp một cách hoàn toàn từ trước bởi Linh mục Ader, vì, ít lâu sau những việc làm vụng về đó (mang Bernadette đi xa để chuẩn bị; TCN), Bernadette trở lại Lourdes để phóng mình vào những cơn hoang tưởng cuồng loạn.

Thật ra, ngày 28 tháng 12, 1857 (45 ngày trước lần xuất hiện đầu tiên) bộ Tư Pháp đã biết trước chuyện gì sẽ xẩy ra.  Quan Trưởng Tòa ở Pau, ông Falconnet, đã gửi cho ông Tòa ở Lourdes một văn thư báo trước chuyện này.

"Tôi được biết rằng có những biểu lộ về một nhân vật siêu nhiên và mang tính chất của phép lạ, đã được sửa soạn để đưa ra vào dịp cuối năm.   Tôi yêu cầu ông hãy để ý canh chừng sự thực về những việc này.""

( L'Église possède des moyens puissants pour répandre ses récits fantastiques.  C'est par million d'exemplaires qu'elle diffuse des publications remplies de mensonges flagrants et d'erreurs voulues.

 Le fameux livre d'Henri Lasserre, par exemple, Notre Dame de Lourdes, a été répandu à un million d'exemplaires...Ce genre de littérature est, en effet, tout désigné pour des intellects rudimentaires...C'est l'oeuvre d'un partisan aveugle et fanatique.

Un Jésuite, le P. Cros, avoue que la "liasse des documents  confiés autrefois   à M. Henri Lasserre"  était vide.  "Rien n'y pouvait servir à une histoire vérédique des apparitions."

...Lasserre présente Francois  Soubirous (le père de la voyante Bernadette) comme un homme modèle.  Le P. Cros reconnait, au contraire, que c'était un alcoolique, qui buvait au cabaret l'argent de la famille et qui avait été emprisonné, en Mars 1857 pour vol.

...La petite Bernadette Soubirous, fille de l'alcoolique précité, s'en va ramasser du bois mort, avec quelques compagnes.

En arrivant auprès de la grotte, elle apercoit une belle et souriante dame "qui ne ressemblait à personne de la terre".  Elle tombe à genoux.  La dame fait le signe de la croix...

...Elle retourne, le dimanche suivant, à la Grotte, avec d'autres enfants.  Tous s'agenouillent et se mettent à prier.  Bernadette, au bout d'un moment, se transfigure.  Elle apercoit de nouveau la dame blanche.  Ses compagnes ne voient rien, mais sont émues au spectacle de la petite bergère en extase.

...La vision de la Grotte dicta aussi à Bernadette trois secrets confidentiels.  On ne les a pas divulgués.

Comment Bernadette est-elle été capable de s'en souvenir, du reste? (en supposant qu'on lui eut vraiment dicté quelque chose)  La pauvre gosse avait si peu de mémoire qu'elle ne parvenait même pas à répéter ces deux mots: Immaculée Conception.

...Bernadette avait apporté à la Vierge, pour qu'elle écrive,    un  crayon  et  du  papier.   Mais  la  "dame"  se déroba et c'est dommage.  Nous aurions possédé là un document curieux, plus original sans doute que les descriptions de la jeune paysanne.  Mais...Bernadette ne savait pas écrire - et c'est la raison, la seule raison, qui la contraignait à rapporter son papier vierge (comme la "dame".)

"Allez dire aux prêtres qu'il doit se bâtir ici une chapelle et qu'on y doit venir en procession".

Ces paroles, attribuées par Bernadette à sa radieuse "apparition", ne pouvaient déplaire à ces messieurs prêtres, on les concoit.  La trame est ici bien visible.

Lorsqu'on fait parler Madame la Vierge-Mère, c'est toujours, par une coincidence inquiétante, pour servir les intérêts du clergé.

...Toute cette farce a été combinée par l'abbe Peyramale, curé de Lourdes, encouragé et soutenu ensuite par l'évêque de Tarbes, M. Laurence.

Bernadette avait été savamment préparée et suggestionnée par deux autres prêtres, l'abbé Ader et l'abbé Ponian.

On avait envoyé la gamine, malade, se soigner dans un tout petit village de la montagne: Bartrès.

... Il est assez piquant de remarquer que la Vierge choisit toujours des simples d'esprit pour confidents.  Cà aussi, c'est une indication précieuse.

...Pourquoi la Vierge ne voulait-elle se montrer qu'à cette petite malade?

Aux côtés de Bernadette il y avait des centaines, puis des milliers de personnes.  La Vierge pouvait   donner à sa manifestation une valeur plus éclatante en se  montrant à tout le monde, d'une facon indiscutable - et laisser quelque document qui aurait réduit à néant toutes les objections.  Pourquoi choisir toujours des petits enfants névropathes?

....Les visions de Bernadette étaient donc parfaitement combinées à l'avance par l'abbé Ader, car, peu de temps après qu'il eut tenu ces imprudents propos, l'enfant rentrait à Lourdes et se livrait à ses hallucinations hystériques.

En effet, le 28 Décembre 1857 (45 jours avant la première apparition), la justice était déjà au courant de ce qui allait se passer.  Le Procureur Général de Pau, M. Falconnet, envoyait ce jour-là une note de service au Procureur de Lourdes, pour le prévenir.

"Je suis informé que les manifestations affectant un caractère surnaturel et prenant un aspect miraculeux, se préparent pour la fin de l'année.   Je vous prie de veiller à ce que ces faits soient exactement surveillés...")

Đó là đại cương về cái màn mà Charlie Nguyễn gọi là bịp bợm ở Lộ-Đức.  Trong cuốn sách của Lorulot có đầy đủ chi tiết về những sự dàn dựng của giới Linh mục về hiện tượng Mary hiện ra ở Lộ-Đức, dựa theo rất nhiều tài liệu nghiên cứu về hiện tượng này cũng như những tài liệu của chính quyền địa phương.  Nhưng tất cả những sự thực này đều không làm giáo hội lo ngại vì "giáo hội đã quá thông thạo phương cách bóp nghẹt những  vụ  gây  tai  tiếng"   (...sans  inconvénient  de l'Église: elle est si experte à étouffer les scandales.)

Một mặt khác, ở Lourdes, "người ta" đã khai thác triệt để sự mê tín của quần chúng để thu vào những nguồn lợi khổng lồ.  Giáo hội không làm gì để ngăn cản, trái lại còn khuyến khích. 

Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của André Lorulot (Ibid., trg. 7):

  " Cái xí nghiệp Lourdes cung cấp cho giáo hội những nguồn lợi vật chất mà giáo hội dùng trong chính trị nhơ bẩn và mờ   ám.

Cái hang đá (Lourdes) không chỉ mang những lợi tức đến cho  công đoàn.  Nó còn là một phương tiện để duy trì và phát triển sự cuồng tín,  gia tăng cường độ ngu xuẩn,  đẩy sự tin vào siêu nhiên đến cực độ.

 Chúng ta thấy ở đó mọi dạng khai thác.  Mới đây giáo sư A. Chide chứng tỏ rằng đĩ điếm rất phát triển ở Lourdes.  Và tôi không nói đến vô số thày dòng tới đây "như là một hỏa tiễn" với các cô "cháu gái" hay tệ hơn nữa.

Nếu các bạn có đi tới Lourdes thì hãy cẩn thận và đừng tin ở đám người cuồng tín đó, những người này thực sự là những con vật hung hăng, đầu óc ngu đần bị thống trị bởi giáo hội và không đủ khả năng để hiểu một lý lẽ có ý nghĩa.

Chúng ta phải đi tới Lourdes - và biết quan sát một cách bình tĩnh với óc phán đoán - mới nhận ra tầm rộng lớn của căn bệnh tôn giáo."

(L'entreprise de Lourdes fournit à l'église d'incalculables resources matérielles, qu'elle emploie à sa politique malsaine et obscure.

La Grotte ne fournit pas seulement des revenus à la congrégation.  Elle constitue un moyen excellent d'entretenir et de développer le fanatisme, d'exacerber la bêtise, de pousser au paroxysme la croyance au surnaturel.

...Toutes les formes d'exploitation sont du reste représentées.   Le professeur A. Chide a montré naguère que la prostitution était très developpée à Lourdes... Et je ne parle pas des innombrables curés qui viennent ici "en bombe" avec leur "nièce" ou pis encore..

...Si vous allez à Lourdes, soyez prudent et méfiez-vous de ces fanatiques, véritables bêtes furieuses, cerveaus inintelligents dominés par l'Église et incapables de comprendre un raisonnement sensé.

... Il faut aller à Lourdes - et savoir observer avec calme et discernement - pour saisir l'étendue du mal religieux.)

Không ai hiểu rõ Ca-Tô Giáo La Mã hơn người trí thức đạo gốc Charlie Nguyễn.  Về màn kịch bịp bợm Lộ Đức, trong bài  “Phép lạ Lộ Đức là màn kịch bịp bợm của Vatican và chính quyền hoàng gia Pháp năm 1858”, Charlie Nguyễn viết:

Năm 1862, giám mục Laurance cai quản địa phận Tabres chính thức công bố thư luân lưu xác nhận “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” là Mẹ Chúa Trời đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous ngày 11 tháng 2 năm 1858 và những lần kế tiếp, tổng cộng 18 lần cả thảy. Tòa Giám Mục cho phép sự tôn thờ “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” tại hang đá Lộ Đức trong giáo phận. Từ 1858, mọi phương tiện truyền thông của nước Pháp được vận dụng tối đa để quảng bá khắp nơi về “phép lạ” Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức…

Năm 1906, hang đá Lộ Đức và nhà thờ lớn tại đây thuộc về tài sản quốc gia Pháp. Nhưng từ 1910, quyền sở hữu này lại được chuyển về cho thị trấn Lourdes. Kể từ năm 1990, thị trấn Lourdes tuy nhỏ nhưng có tới 400 khách sạn, hàng trăm tiệm ăn, hàng ngàn tiệm bán đồ kỷ niệm (gift shops) và một phi trường quốc tế. Hàng năm, số khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới kéo về hang đá Lộ Đức đã cung cấp cho số dân ở thị trấn nhỏ bé này một khoản tiền là 400 triệu đôla! (Looking for a Miracle, by Joe Nickell, Prometheus Book 1993 – page 152). Lộ Đức (Lourdes) đã trở thành một “con gà đẻ trứng vàng” của nền kinh tế Pháp.

Những tín đồ cuồng tín luôn luôn tung tin đồn rằng Đức Mẹ Lộ Đức đã chữa cho nhiều người khỏi bệnh khi họ đến nơi đây cầu khấn với Đức Mẹ. Tuy nhiên, họ đều không biết rằng: nhân vật chính của “phép lạ Lộ Đức” là cô bé Bernadette đã chết lúc 32 tuổi (16-4-1879) vì bệnh suyễn, bệnh sưng phổi và lao xương. Nếu Đức Mẹ có quyền năng làm phép lạ chữa bệnh cho nhiều người, tại sao Đức Mẹ không chữa bệnh cho người có công nhất với Đức Mẹ trong việc tuyên xưng Người là “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” ? Một điều mỉa mai ai cũng thấy là ở Lộ Đức người ta treo đầy những chiếc nạng của những người què (giả vờ), nhưng tuyệt nhiên chưa từng có một người cụt tay, cụt chân nào được Đức Mẹ chữa lành cả !  [Joe Nickell cũng viết trong bài Khảo sát Những Lời Tuyên Xưng Về Phép Lạ (Examining Miracle Claims) ở trên Internet là: Nhà văn Pháp Anatole France đã đến thăm Lộ Đức vào cuối thề kỷ 19, nhìn những cặp nạng treo ở Lộ Đức (chắc chắn là do các tín đồ cò mồi bày đặt) đã thốt lên:  “Sao vậy, sao vậy, không có cặp chân gỗ nào hay sao??” (What, what, no wooden legs??)]

… Nay xin điểm qua tình hình Công giáo Á Châu, tờ Asia Week số ra ngày 19-12-1997 tường thuật như sau :

Sri-Lanka (Tích Lan) là một đảo quốc có 15 triệu dân, đại đa số theo đạo Phật, 8% (tức 1.2 triệu) theo đạo Công giáo. Linh mục Tissa Balasuriya (tốt nghiệp thần học và thụ phong linh mục tại Rome trong thập niên 1940) thuộc giáo hội Công giáo Sri-Lanka đã viết sách bằng Anh ngữ tựa đề “Mary and Human Liberation” chống lại Tòa Thánh vào thập niên 1990. Sách này được dịch sang tiếng Pháp để phổ biến tại Âu Châu dưới tựa đề “Marie ou la libération humaine”. Linh mục Tissa đưa ra quan điểm của ông về “Đức Mẹ thật” là một phụ nữ thất học và nghèo khổ tại Do Thái. Đức Mẹ không thể đồng trinh vì có nhiều con và điều này đã được xác nhận trong Tân Ước. Tội tổ tông là một huyền thoại, nên các tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” là vô nghĩa. Tất cả các tín điều về Đức Mẹ đều là những sản phẩm của môn thần học kỳ quặc, không phù hợp với não trạng của người Á Châu. Muốn giải phóng tư tưởng người Công giáo thì cần phải bỏ các tín điều đó và bỏ luôn tín điều “Giáo hoàng không thể sai lầm”.

Cuốn sách “thần học cách mạng” của linh mục Tissa đã bị Hồng Y Ratzinger, bộ trưởng Bộ Giáo Lý của Vatican, hạch tội tỷ mỉ trong một bản phúc trình 55 trang đệ trình giáo hoàng John Paul II ngày 2-1-1997. Giáo hoàng đã đích thân tuyên phạt linh mục Tissa án phạt tuyệt thông và trục xuất ông ra khỏi giáo hội. Lý do được nêu lên là linh mục Tissa đã dám chống lại huấn quyền tuyệt đối của Tòa Thánh.

Trong tháng 10 – 1997, Bộ Giáo Lý Vatican cũng ra lệnh cho hội đồng Giám Mục Hàn Quốc cấm các linh mục thần học Kong Soel, Yangmo và Re Jemin không được viết sách báo chống Tòa Thánh. Hội đồng Giám Mục Nhật Bản lên tiếng chỉ trích Tòa Thánh là “chẳng hiều gì về văn hóa Á Châu” cả!

Các bản tin ngắn nói trên đủ cho ta thấy nhiều giáo hội Công giáo Á Châu không đến nỗi hèn vì họ vẫn có thái độ khảng khái nói lên quan điểm của họ chống đối Vatican.

Là người Việt Nam, chúng ta phải đau lòng công nhận một sự thật không thể chối cãi là Công Giáo Việt Nam có một tâm cảm nô lệ hết sức mù quáng đối với Tòa Thánh La Mã. Thậm chí có người đã mỉa mai nói rằng: “Dù cho Tòa Thánh đánh rắm, Công Giáo Việt Nam cũng khen thơm”. Thật quả đúng vậy. Cái tín điều nhảm nhí “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” chỉ là một cái rắm thối của giáo hoàng Pio IX năm 1854 đã được cả giáo hội Công Giáo Việt Nam vừa hít vừa rối rít khen thơm. Trước 1954, cái danh hiệu “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” đã được địa phận Bùi Chu tôn vinh làm Thánh Bổn Mạng của địa phận.

Và sau đây là một đoạn trong cuốn Một linh mục hiện đại nhìn vào cái giáo hội đã lỗi thời của ông ta (A Modern Priest Looks at his Outdated Church, trg.31,)  tác giả là Linh Mục James Kavanaugh:

"Tôi đã đi tới Lourdes ở miền Nam nước Pháp.  Tôi đứng trong cái công trường  rộng  lớn  đằng trước thánh đường    quan sát  những tín đồ CaTô ở khắp nơi trên thế giới chờ đợi một ân sủng đặc biệt của cái đền thờ thiêng liêng này.  Tôi bị các bà người Ý đầu đội khăn xô đẩy, những người Đông Âu to tiếng thì thầm những lời cầu nguyện làm cho tôi sao lãng.  Tôi thấy những người bệnh hoạn nằm trên cáng, những nhà kinh doanh Mỹ với những chiếc sơ mi trắng.  Tôi thấy những linh mục trong những bộ áo thầy tu của thế giới, những người Phi Châu hồ hởi trong các bộ quần áo sặc sỡ.  Nhưng phần lớn là tôi thấy những bộ mặt nhăn nheo, nói lên một cách thành thực sự đau đón của họ.  Họ đã tới để xin một ân huệ, giống như những đám người Hồi Giáo tại nơi hành hương, và để hưởng một sự tiếp xúc đặc biệt với Thần của họ.  Họ uống nước ở đó, nổi tiếng về những tác dụng lạ lùng.  Họ mua nước đựng trong những chai plastic để mang về nhà (và để biếu. TCN).  Họ mua từng rổ tràng hạt và mề đay và nhờ những bàn tay mập mạp nhễ nhại mồ hôi của các linh mục ban phúc lành cho những thứ này.  Họ đông như châu chấu, cúi xuống ngấu nghiến từng cọng ân sủng đặc biệt.  Họ hôn chân các ngôi tượng và rên rỉ trong những đền thờ mốc mếch.  Họ thú tội bằng đủ mọi thứ tiếng và nhai nhóp nhép phó mát của miền núi.  Rồi, giống như một đàn cừu vĩ đại đã no nê hài lòng, họ về nhà đi ngủ.   Và tôi cũng về nhà đi ngủ, cũng khó chịu và rối răm bởi sự mê tín như là tôi đã chứng kiến vào một ngày mùa thu đó khi đội banh Spartans thắng đội banh Rome. (Đội banh Rome, theo lời kể của Linh Mục Kavanaugh,  trước khi ra quân, quỳ trước nhà thờ yêu cầu được Linh Mục ban phép lành và cho ăn bánh Thánh, hiệp thông với Thượng đế để Thượng đế phù hộ cho thắng trận đấu, nhưng rút cuộc bị thảm bại. TCN).   Tôi không những chỉ khó chịu và rối răm mà tôi còn cảm thấy thật là xấu hổ.  Đó là giáo hội của tôi, và họ là những tín đồ mà tôi góp phần đào tạo, những con số thống kê mà chúng tôi cộng vào khi chúng tôi đếm số người theo đạo.  Đầu óc tôi đầy những tư tưởng làm tôi ngủ không được...Tôi nghĩ đến những con người CaTô sợ sệt, lo lắng cầu nguyện trong mọi giáo xứ mà tôi đã phục vụ. Tôi nghĩ đến con người mà là tín đồ Ca-Tô và một lần nữa tôi lại nghĩ đến họ."

     (I took a trip to Lourdes in southern France.  I stood in the giant square in front of the Basilica and watched the Catholics of the world await the special blessing of this sacred shrinẹ  I was jostled by the Italian ladies in their shawls, distracted by Eastern Europeans who whispered their prayers out loud.  I watched the sick on their litters, the American businessmen in their clean white shirts.  I saw priests wrapped in the cassocks of the world, excited Africans in their multi-colored native garb.  But most of all I saw the wrinkled faces, speaking out the sincerity of their pain.  They had come to ask a favor, like the Moslem hordes at Mecca, and to know a special contact with their God.  They drank the water there, which is noted for its miraculous effects.  They bought the plastic bottles to bring the water homẹ  They bought rosaries and medals by the basketful and had them blessed by the pudgy hands of sweating priests.  They covered the grounds like locusts, bent on devouring each  shred of  special grace.   They kissed the feet of statues and groaned in mildewed shrines.  They confessed in every language and munched their mountain cheese.  Then, like a giant, content herd, they went home to bed.  And so did I, as sick as confused by superstition as I had been on that autumn day when the Spartans conquered Rome.

   Not only was I sick and confused, I was deeply ashamed as well.  This was my Church and there were the Catholic men I had helped to form, the statistics we added up when we counted the catholicity of our Church.  My mind was crowded with thoughts that refused to let me sleep.   I thought of the frightened catholics who worried and prayed in every parish I had served.  I thought of the man who is a Catholic and I think of him once again....)

Linh mục James Kavanaugh đã nghĩ đến những tín đồ Ca Tô sợ sệt, bị mê hoặc bởi giáo hội Ca Tô qua chương trình đào tạo, uốn nắn đầu óc của tín đồ vào sự mê tín, như những người đã đến Lộ Đức với đủ mọi thứ cầu xin phép lạ. Các tín đồ Ca Tô Việt Nam, không kể tuyệt đại đa số giáo dân thấp kém, mà ngay cả những bậc trí thức cũng không ra ngoài sự mê tín này.  Điển hình có thể là Ông Đỗ Mạnh Tri, người đã ca tụng phép lạ ở Lourdes trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng: 

Nhà tôi có chai nước Lộ Đức do một cụ già Phật tử đi viếng Lộ Đức mang về tặng thằng cháu tôi cùng ở trại tỵ nạn với cụ.  Phép lạ Lộ Đức?  Tại sao không?  Không phải phép lạ của một bệnh viện.  Năm chừng mười họa mới có người được khỏi bệnh, bất cứ một bác sĩ nào chữa bệnh kiểu đó cũng thất nghiệp từ lâu.  Vậy tại sao người ta vẫn đi viếng Lộ Đức?  Trước khi phán quyết bằng hai chữ "mê tín" gọn ghẽ, có lẽ các đầu óc tự coi là trí thức nên tự đặt cho mình một câu hỏi."

Điều khó hiểu khi đọc đoạn trên là trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng trên, ông Đỗ Mạnh Tri, nghe nói là một giáo sư gì đó, không biết giáo sư về môn nào, đã thú nhận chuyện Adam và Eve trong Kinh Thánh chỉ là một huyền thoại, nghĩa là không làm gì có tội tổ tông hay nguyên tội.  Nếu chẳng làm gì có cái gọi là “nguyên tội” thì tín điều “vô nhiễm nguyên tội” của Giáo Hoàng Pius IX tung ra ra là một tín điều nhảm nhí lừa bịp, và lẽ dĩ nhiên chuyện bà Mary hiện ra ở Lộ-Đức tự nhận là “vô nhiễm nguyên tội” cũng chỉ là một màn kịch bịp bợm như Charlie Nguyễn đã vạch rõ, vậy phép lạ của nước lã ở Lộ Đức cũng không hơn gì phép lạ của “tàn hương, nước thải”, lâu lâu cũng làm cho người tin khỏi những bệnh thường thường vớ vẩn.   [What, what, no wooden legs ?? (Anatole France)]  Vậy mà ông Đỗ Mạnh Tri vẫn tin vào những phép lạ của nuớc lã ở Lộ Đức, nơi đây bà Mary đã hiện ra và tự xưng là “vô nhiễm nguyên tội”, thì chúng ta phải hiểu đầu óc của những người Ca-Tô là như thế nào, và nếu không phải là "mê tín" gọn ghẽ thì là cái gì?  Đây là một câu hỏi rất đơn giản, không nhất thiết phải là của một người tự coi là trí thức.

Ông Đỗ Mạnh Tri đặt câu hỏi: Vậy tại sao người ta vẫn đi viếng Lộ Đức? Tôi thiết nghĩ, nay ông Tri đã có thể tự mình tìm ra câu trả lời rồi.

Nếu ông không tự mình tìm ra được câu trả lời thì tôi có thể giúp ông cũng như những ai còn tin vào phép lạ của “Nước thiêng Lộ-Đức”, qua một đoạn của một Học giả Ca-Tô, Joseph L. Daleiden, trong cuốn Sự Mê Tín Sau Cùng (The Final Superstition, Prometheus Books, NY, 1994) trang 112, như sau:

Đã từ lâu tôi nghĩ chúng ta đã bỏ lại đằng sau sự mê tín như vậy.  Ngay cả ngôi đền (tác giả dùng từ “mecca”, nơi mà người Hồi Giáo hàng ngày hướng về đó sụp lậy nhiều lần) có những hiện tượng khỏi bệnh lạ lùng, Lộ-Đức, có vẻ như đã khô cạn.  Trong thời gian gần đây, số cho rằng khỏi bệnh vì phép lạ đã sụt xuống từ 75 vụ còn ít hơn là 1 vụ trong 1 năm.  Ngay cả trong thời hoàng kim, Giáo hội Ca-Tô cũng chỉ công nhận 64 vụ trong số 6000 vụ được cho là phép lạ. Trong những năm gần đây, những phương pháp chẩn bệnh hiện đại trong Y Khoa hầu như đã loại bỏ hết những vụ mà người ta cho là phép lạ.  Một sự khảo sát 11 vụ mới nhất chứng tỏ tất cả đều có sự sai sót trong đó.  Kết quả này phù hợp với những sự điều tra của Ủy Ban Điều Tra Khoa Học về Tôn Giáo Chữa Bệnh Bằng Đức Tin trong quốc gia này.  Phép lạ cuối cùng mà Giáo hội Ca-Tô chấp nhận là vào năm 1976. và được mô tả bởi các bác sĩ Hoa Kỳ là “mơ hồ”  và “ngu đần”.  Nó thiếu những công cuộc cần thiết trong phòng thí nghiệm để xác định căn bệnh mà có vẻ là, giống như nhiều trường hợp khác, một dạng của sự cuồng loạn.  Sự cuồng loạn đó có thể tạo nên những triệu chứng của sự đau ốm, thường là ở trong một số đông người, đã được nghiên cứu rõ ràng.

(For a time I thought we had left such superstion behind us.   Even the mecca of miraculous cures, Lourdes, seemed to be drying up.  In recent times, the number of claimed cures has dropped from 75 years to less than one.  Even during its heyday  the Catholic Church only recognized 64 of the 6000 miracles claimed.  In recent years the advanced diagnostic methods of modern medicine have virtually eliminated miraculous claims.  An examination of the 11 most recent cases revealed flaws in all of them.  Such results are consistent with the investigations by the Committee for the Scientific Investigation of Religion of Faith healers in this country.   The last Lourdes miracle to be accepted by the Catholic Church was in 1976, and was described by US doctors as “vague” and “obtuse”.  It lacked the essential lab work to establish the nature of illness, which appeared, like so many others, to be a form of hysteria.  That hysteria can produce symptoms of illness, oftentimes in large number of people, has been well documented..)

Qua những tài liệu mà tôi trích dẫn ở trên, chúng ta đã thấy rõ thực chất những màn kịch bịp bợm ở Lộ Đức là như thế nào.  Số “phép lạ” xảy ra ở Lộ Đức đã trở thành con số không trong vài chục năm nay rồi.  Tại sao vậy?   Vì khoa học càng tiến thì sự mê tín càng lùi. Nhưng thật đáng buồn, vì tuyệt đại đa số các tín đồ Ca-Tô đã được nhốt trong bóng tối dày đặc của ý thức hệ La Mã (Dr. Barnado: In the thick darkness of Romanism), và trong nội bộ “hội thánh”, Giáo hội vẫn cố tình nuôi dưỡng sự mê tín,  nên giáo dân vẫn đổ xô đến Lộ Đức để cầu mong một "phép lạ" nào đó sẽ xảy ra cho mình, tin tưởng rằng bà Mary đặc biệt chú ý săn sóc cho riêng mình.  Giáo hội đã rất thành công ở điểm này và nước Pháp cũng được hưởng một nguồn thu hoạch khổng lồ ở Lộ Đức.

Sự thực về Lộ-Đức đã rõ ràng như vậy, nhưng đối với  số tín đồ Ca Tô thuộc loại đầu óc của Đỗ Mạnh Tri, tin vào những phép lạ của Giáo hội bày đặt ra thì có thể họ sẽ đưa ra câu hỏi: "Phép lạ Lộ Đức? Tại sao không?  Đã có nhiều bằng chứng cho thấy có người đi hành hương các nơi này rồi về khỏi bệnh v...v..."

Khoan kể đến những màn kịch khỏi bệnh cò mồi bịp bợm ở Lộ Đức mà người ta đã biết rõ, Y khoa đã chứng minh rằng, nếu con người tin tưởng mãnh liệt vào bất cứ một cái gì,  thì có thể trong vài trường hợp cơ thể con người tiết ra những chất kháng độc và làm lui hay khỏi  một số bệnh thông thường,    họ  cho đó  là những "phép lạ".  Trong những công cuộc nghiên cứu y khoa, người ta đã cho nhiều bệnh nhân uống thuốc giả (placebo), nghĩa là không phải thuốc thật mà chỉ là bột thường chế tạo giống viên thuốc, mà một số bệnh nhân cũng khỏi bệnh như thường.   Vậy thì tác dụng của nước lã ở Lộ Đức nhiều nhất là tương đương với "tàn hương, nước giải", đôi khi cũng làm cho nhẹ bớt hay khỏi bệnh. Trong Ca Tô Giáo cũng có chuyện sau đây: "Những mẩu xương của Thánh Rosalia, được gìn giữ ở Palermo (miền Nam nước Ý; TCN),  đã "chữa khỏi" cho nhiều người, ngay cả sau khi người ta khám phá ra rằng đó chỉ là xương của một con dê" (Joseph L. Daleiden, The Final Superstition, trg 113:  The bones of St. Rosalia preserved at Palermo "cured" many people even after they were discovered to be the bones of a goat).  Những sự kiện này chứng tỏ không có phép lạ nào dự phần trong đó.

Phép lạ Lộ Đức? Tại sao không?  Tại vì đó chính là những màn bịp bợm chỉ có thể làm cho những đầu óc có một khuyết tật (astrolabe minds) hay có một điểm mù tôn giáo (religious blind spot) tin được.  Vấn đề ở đây không phải là phép lạ, vì phép lạ, nếu thực sự là phép lạ, có tính cách nhỏ giọt này có bao nhiêu giá trị cho nhân loại?  Bảo rằng phải có lòng tin phép lạ mới ứng.  Như vậy là cho rằng trong cả triệu người đến Lộ Đức mỗi năm, lâu lâu mới có một người tin.  Vấn đề ở đây là giáo hội đã khai thác lòng mê tín của quần chúng để kiếm tiền cho những mục đích chính trị nhơ bẩn và tối tăm như André Lorulot đã viết ở trên.

Để kết luận, tôi xin quảng cáo không công cho “Nước Thiêng Lộ-Đức”.  Các tín đồ Ca-Tô Việt Nam có thể không cần phải đích thân đi đến Lộ-Đức cho tốn tiền vì có thể kiếm trên Internet rất nhiều cơ sở bán nước thiêng Lộ Đức.  Một cơ sở đăng lời rao bán nước thiêng Lộ Đức như sau: “Lọ Nhỏ Nước Lộ Đức 1/10 lít (10cl) giá 15 Euro hay $18.15 đô-la, Chai lớn 1 lít giá 100 Euro hay $121.00 đô-la” (Small Lourdes water bottle  10 cl = 15 Euro or approximately $18.15; 1 liter bottle = 100 Euro or $121.00).   [Mại zô, mại zô, nước lã ở Lourdes có tác dụng làm “bách bệnh tiêu tan, vạn bệnh tiêu trừ”, cụt chân cụt tay chữa được hết, có thể mọc ra như cũ, tốt hơn “tàn hương, nước thải”, có hiệu dụng hơn “nước tắm của vô thượng sư Thanh Hải” v..v.., mua mau kẻo hết.]  Quý vị cũng có thể mua ở eBay và hàng trăm nơi khác trên nước Mỹ, và có thể trả giá (bid). Đây là một hình quảng cáo điển hình ở San Antonio, Texas,  www.oblatemissions.com/:

       giaodiem
     Authentic Lourdes Water
     from Lourdes, France  

Xin đón đọc kỳ tới:  Phần III:   Mary & Fatima. 

© Copyright 2005 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com