giaodiem copyright

posted: 01.01.2006

 
fatima
Đây là ba em bé “nhà quê” Bồ-đào-nha, vốn là những “typical” nhân chứng mà Vatican ưa chuộng. Trai (giữa): Francisco Marco, Gái trái: Lucia de Santos, Gái phải: Jacinta Maro. Năm 1917, để đạo diễn cho các em “diễn xuất có thưởng” không phải là điều khó! 
____________________
Vatican muôn nghìn năm tung hô Fatima là “phép lạ”, nhưng Cơ quan Khoa học Không gian NASA của Mỹ vốn không ưa “phép lạ”, nên đã giải thích tường tận hiện tượng đó là “massive coronal mass ejection from sun” như 2 hình biểu trưng dưới đây:
 
1.Cấu trúc đa hợp của Mặt trời (Composite Sun)
sun composite
 
2.vòng hoa kết khổng lồ phụt ra từ mặt trời:
sun ejection
 
LA VANG – LỘ ĐỨC – FATIMA
[Phần III :  Mary & Fatima]

Trần Chung Ngọc

Vài Lời Nói Đầu Về Nền Thần Học Mary (Mariology).

Trong Phần II của loạt bài này, Mary & Lourdes, đăng trên trang nhà Giao Điểm, tháng 12, 2005, tôi đã chứng minh rằng, chuyện bà Mary hiện ra ở Lourdes 18 lần trong năm 1858 và tự nhận là “Vô Nhiễm Nguyên Tội” trong khi không có cái gì có thể gọi là “nguyên tội”, để chứng thực tín điều (dogma) “Vô Nhiễm Nguyên Tội” mà Giáo Hoàng Pius IX đã bắt tín đồ phải tin trước đó 4 năm, thật ra chỉ là một màn dàn dựng của giáo hội để kéo tín đồ vào trong vòng mê tín và sùng bái (cult) nhân vật Mary trong Tân Ước.  Sự thờ, sùng bái hình tượng Mary (Mariolatry) ngày nay đã được phổ biến rộng rãi trong đám tín đồ thấp kém, trong khi Giáo hội Ca-Tô vẫn dạy tín đồ là mọi hình thức thờ hình tượng đều trái với giáo lý của Giáo hội, dựa trên một điều dạy tromg Cựu Ước.

Trước khi đi vào màn dàn dựng “hiện ra” của bà Mary ở Fatima, tôi thiết nghĩ có lẽ chúng ta cũng nên biết qua về nền thần học Mary (Mariology) của Ca Tô Giáo La Mã nhằm mục đích dẫn dắt tín đồ vào vòng sùng bái, thờ hình tượng Mary (Mariolatry) mà ngày nay đã ăn sâu vào não trạng của đám tín đồ thấp kém.  Sự thành công của Ca Tô Giáo trong vấn đề này, từ đó kiếm được những nguồn lợi khổng lồ về vật chất, đã khiến cho Tin Lành Ki-Tô đang có khuynh hướng bắt chước Ca-Tô, đẩy mạnh lòng sùng tín Mary, tuy rằng căn bản, Tin Lành không tin những gì mà nền thần học Mary của Ca Tô Giáo dựng lên về Mary.

Muốn hiểu rõ thủ đoạn lợi dụng và khai thác đầu óc  các tín đồ của Ca-Tô Giáo La-Mã qua nền thần học Mary, trước hết chúng ta cần phải biết trong Tân Ước đã nói những gì về Mary, và từ đó mới có thể đánh giá đúng mức nền thần học Mary của Giáo hội Ca-Tô La Mã từ đâu mà ra, có những căn cứ nào trong Tân Ước, và thực chất là như thế nào.

Tổng hợp tất cả những điều viết về Mary trong Tân Ước, chúng ta thấy Mary chỉ xuất hiện trong 5 sách đầu của cuốn Tân ước: Matthew, Mark, Luke, John và Acts of the Apostles.  Phần còn lại của Tân ước gồm 22 sách, tuyệt đối không nhắc gì tới Mary nữa.  Mary được nói đến trong những trường hợp như sau:  

1.-  Trong câu chuyện về sự sinh ra của Giê-su qua huyền thoại Thánh Ma (The Holy Ghost) làm cho bà Mary mang thai rồi sinh ra Giê-su (Matthew 1& 2 và Luke 1 & 2).

2.-  Trong một bữa tiệc cưới ở Cana, khi bà Mary nói với Giê-su là "Họ đã hết rượu rồi" thì  Giê-su trả lời bà như sau: "Người đàn bà kia! Sự quan tâm của bà thì có mắc mớ  gì tới Ta?  Giờ của Ta còn chưa tới" (Woman, what does your concern have to do with Me?  My hour has not yet come). Kinh Thánh tiếng Việt của American Bible Societies xuất bản năm 1998 dịch đoạn trên như sau: "Hỡi đàn bà kia, Ta với ngươi có sự gì chăng?  Giờ Ta chưa đến".  Giờ chưa đến là giờ gì?  Đọc tiếp Thánh Kinh chúng ta mới thấy rằng đó là giờ Giê-su trổ tài làm phép lạ, biến 6 vại nước thành rượu (John 2: 1-11).

3.-  Trong khi Giê-su đang đứng giữa đám đông, Bà Mary và các em trai của Giê-su đến và nhờ người nhắn với Giê-su là Mẹ và các em đang ở phía ngoài muốn gặp Giê-su thì Giê-su sẵng giọng nói: "Ai là mẹ Ta? Ai là các em  Ta?"   (Who is my mother?  and who are my brothers?). [Matthew 12:46-50; Mark 3:32-35]

4.-  Khi Giê-su đã bị đóng đinh trên thập giá, đang hấp hối sắp chết và “Giê-su thấy mẹ mình, và một môn đồ Ngài yêu [John] đứng gần người, thì nói cùng mẹ rằng: "Người đàn bà kia, đó là con của ngươi.." (When Jesus therefore saw His mother, and the disciple whom he loved standing by, He said to His mother: "Woman, behold your son!") [John 19:25-27]

5.-  Mary cầu nguyện cùng một số môn đồ của Giê-su và phụ nữ khác ở Jerusalem [Acts 1:14]

Đó là tất cả những gì chúng ta biết về Mary trong Tân Ước.  Trong 22 sách tiếp theo sách Công Vụ Các Sứ Đồ (Acts of the apostles) trong Tân Ước, Mary không được nhắc tới, nhất là trong 3 sách 1, 2, 3 John, viết bởi John, người đệ tử mà Giê-su giao phó mẹ cho ông ta để săn sóc sau khi Giê-su chết, và cả trong sách Khải Huyền mà người ta cho tác giả là John.  Mặt khác, trong Tân ước, không có chỗ nào nói đến những vị thế hay danh hiệu cao cả đặc biệt của Mary, cũng không có chỗ nào nói đến những bài kinh cầu Mary như chúng ta thấy trong nền thần học về Mary (Mariology).  Vậy thì tất cả những gì nói về Mary qua nền thần học Mary  của Ca-Tô Giáo La Mã từ đâu mà ra?  Chẳng cần phải là người thông minh cho lắm chúng ta cũng có thể hiểu rằng tất cả đều do Giáo hội Ca-Tô La Mã bày đặt ra để mê hoặc tín đồ và kéo tín đồ vào vòng sùng bái, thờ hình tượng Mary (Mariolatry) như chúng ta thấy ngày nay, và lẽ dĩ nhiên, mang lại cho Giáo hội những nguồn lợi kinh tế đáng kể.  Nói tóm lại, Mary do nền thần học của Ca-Tô Giáo La Mã dựng lên không phải là Mary trong Tân ước, người đàn bà sinh ra Giê-su.

Chúng ta có thể đọc  một đoạn sơ lược về xuất xứ của nền thần học về Mary của Giáo hội Ca-Tô La Mã trong cuốn  "Catholicism Examined," Edited by Greg Litmer and David Riggs, p. 112-114:

Có thể nói chắc không sợ sai là giáo hội Ki-Tô lúc đầu không biết gì về cái mà về sau gọi là nền thần học về Mary.  Đối ngược hẳn với những chuyện kể trong Kinh Thánh, có vẻ như một vài tài liệu không được giáo hội công nhận, viết vào cuối thế kỷ 2, đã phóng đại quá mức vai trò của Mary như kiểu viết truyền thuyết.   Tài liệu nổi bật nhất là cuốn “Phúc Âm của James”.  Trong tác phẩm này mọi điều về Mary được đặt ra, thí dụ như tên cha mẹ, Mary khi còn nhỏ đã ở trong đền thờ trong một thời gian, một chuyện có vẻ tưởng tượng về sự sinh ra của Mary, và Mary suốt đời đồng trinh.  Những giới chức Ca-Tô La Mã đã bác bỏ tác phẩm này như không đáng tin, nhưng đã lấy nhiều truyền thuyết trong đó vào hệ thống thần học về Mary của giáo hội.

Thời gian qua, nhiều tác giả khác đã thêm thắt những điều khác vào câu chuyện.. Điều kết luận cần thiết là trong 150 năm sau khi giáo hội được thành lập, không có sự quan tâm nào đặc biệt về Mary cả.  Mãi cho đến giữa thế kỷ 2, những truyền thuyết về Mary mới bắt đầu xuất hiện.

Trong những thế kỷ tiếp theo, nhiều nhóm khác nhau đã nổi giậy và bác bỏ là tư cách thần thánh của Giê-su là từ sự sinh ra bởi Mary.  Những nhóm này cho rằng đứa bé mà Mary mang thai chỉ là người chứ không phải là Thiên Chúa.  Để đối phó với những dư luận này, Công đồng Ephesus tuyên bố  Mary là “Mẹ Thiên Chúa” năm 431.  Từ đó những nhà thần học lao đầu vào mọi sự suy đoán  [Ngô Triệu Lịch đã đưa ra một nhận định rất chính xác:  Nền thần học Ki-Tô Giáo là nền thần học đoán mò vì tất cả chỉ là đoán mò.]   Tới năm 449, chúng ta thấy Mary được coi là đồng trinh vĩnh viễn. .. Rồi từ đó là quá trình được tiếp tục hoàn chỉnh bởi những điều như Mary vô nhiễm nguyên tội, Mary hồn và xác bay lên trời.  Quá trình này chưa chấm dứt.  Ngày nay người ta  tuyên bố là Mary   cùng đóng vai trò cứu chuộc với Giê-su (đồng công cứu chuộc).  Qua thời gian, Giáo hội đã đặt cho Mary danh hiệu: Trinh nữ của các trinh nữ, Cổng ngõ vào thiên đường, Bà hoàng trên thiên đường, Đồng công cứu chuộc,   Trinh nữ tối nhân từ và rất nhiều, rất nhiều danh hiệu khác.  Toàn thể hệ thống đặt tên đó không hề căn cứ trên Kinh Thánh.

(It is safe and correct to say that the early church knew nothing of what has come to be called Mariology. Standing in sharp contrast to the Biblical account, there appeared certain apocryphal writings in the latter part of the second century that greatly expanded upon Mary's role and did so in legendary fashion. The most prominent of these was called "The Protoevangelium of James." In this work all sorts of things about Mary are stated, such as the names of her parents, that she stayed for a time in the temple as a little girl, a rather imaginative story about her birth, and it also states that she remained a virgin throughout her life. Roman Catholic authorities have rejected this work as spurious, and yet have absorbed many of its legends into their system of Mariology.

As time went on, many other writers added other elements to the story… The necessary conclusion is that for a least 150 years after the establishment of the church, there was no special attention paid to Mary. It was not until the middle of the second century that legends concerning her began to appear.

In the centuries that followed, various groups arose that denied that divinity of Jesus as born from Mary. They taught that the child conceived in Mary's womb was solely man and not divine. In response to this, the Council of Ephesus declared Mary the "mother of God" in 431 A.D. From this decree the theologians engaged in all sorts of speculations. By 449 A.D., we find Mary being referred to as a perpetual virgin. ..From there the process of elaboration continues with Mary being declared personally sinless and the teaching that she ascended bodily into heaven. This process has not stopped. Currently, strides are being taken to have Mary declared co-mediatrix with Jesus. Over the years, the Roman Catholic church has given her the title of Virgin of Virgins, Gate of Heaven, Queen of Heaven, Co-Redemptrix, Virgin Most Merciful, and many, many others. The whole system has no scriptural basis.)

Trên đây chỉ là vài nét sơ lược về nền thần học Mary.  Tôi hi vọng, nếu có thì giờ, tôi có thể cống hiến quý độc giả một nghiên cứu tường tận hơn về nền thần học này.

Sự Thật Về Ngụy Tích Fatima.

Vụ bà Mary hiện ra ở Fatima đúng là một ngụy tích, xét theo những điểm phi lý trí, phản khoa học, và huyền thoại về “nguyên tội” trong đó.  Thật ra, sau vụ bà Mary hiện ra ở Lộ Đức, Pháp,  mà chúng ta đã biết chỉ là một màn dàn dựng thiếu thông minh của Giáo hội Ca-Tô La Mã, thì các nước khác, nhìn thấy lợi nhuận kinh tế của ngụy tích Lộ Đức, đã thi đua cho phép bà Mary hiện ra khắp nơi.  Nhiều vụ hiện ra ở Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha v..v.. đã liên tiếp xảy ra, và Fatima ở Bồ Đào Nha đã thành một nơi hành hương nổi tiếng của Ca-Tô Giáo, vừa đáp ứng mưu đồ chính trị của Vatican, vừa mang lại nhiều lợi nhuận kinh tế cho địa phương cũng như cho Giáo hội Ca-Tô như chúng ta sẽ thấy trong phần phân tích sau đây.  Ngày nay người ta đã đếm được Bà Mary đã hiện ra khắp nơi tất cả là 21000 lần.  Nhưng thế giới vẫn vậy, và tín đồ Ki-Tô Giáo thì càng ngày càng tụt hậu trước những bước tiến của nhân loại ngày nay.

Viết về ngụy tích Fatima thì có viết cả ngày cũng không hết.   Đã có nhiều cuốn sách cũng như bài viết phân tích rất kỹ lưỡng về ngụy tích này.  Trong bài này, tôi chỉ xin trích dẫn vài tài liệu điển hình về ngụy tích Fatima. Sau đây là một đoạn trong cuốn Vietnam: Why Did We Go, Chick Publications, 1984, của Avro Manhattan, trg. 26-27:

  " Năm 1917,   cũng là năm của cuộc cách mạng Nga sô, bà Mary đã hiện ra ở Fatima, Bồ Đào Nha, trước  3 em nhỏ chăn cừu mù chữ, (lên 10, 9, và 7 tuổi.   TCN).

   Bà Mary hiện ra kèm theo một hiện tượng lạ lùng: Mặt trời quay tít ba lượt, rồi nhảy ra khỏi quỹ đạo, tiến gần đến trái đất theo một đường gẫy khúc, ngưng lại, rồi trở về vị trí cũ.

   Hiện tượng này được nhiều người đứng gần các em nhỏ trông thấy và kéo dài trong 12 phút.  Thông điệp của Bà đồng trinh trao cho mấy em nhỏ là: "Giáo hoàng phải hiến dâng thế giới cho trái tim vô nhiễm nguyên tội của bà," và rồi "phải hiến dâng Nga Sô cho bà"  Bà tiên đoán, "Nga Sô sẽ cải đạo theo Gia Tô La Mã Giáo,"Đức Thánh Cha sẽ "hiến dâng Nga sô cho Bà"  Bà cảnh cáo, nếu những điều Bà rao truyền không thực hiện được thì "những sai lầm của Nga Sô sẽ lan ra khắp hoàn cầu, gây nên chiến tranh và bách hại giáo dân, và nhiều quốc gia sẽ bị tàn phá."  Cuối cùng Bà an ủi rằng "Giáo hội Ca Tô sẽ thắng, sau đó Giáo hoàng sẽ hiến dâng Nga Sô cho Bà, Nga Sô sẽ cải đạo, và thế giới sẽ được hưởng một thời kỳ hòa bình."

   Những lời trên đây là những thông điệp chân thực của Maria đồng trinh, như một em nhỏ kể lại và được giáo hội Ca Tô hoàn toàn chấp nhận như là điều mặc khải  thực sự  của "Mẹ Chúa"."

  (Our Lady of Fatima had first appeared to three illiterate children in Fatima, a desolate locality in Portugal, during the fateful year of 1917, which was also the year of the Russian Revolution.

   Her apparition had been accompanied by a somewhat strange miracle: "The sun turned speedily on itself three times..At the end of these convulsive revolutions it seemed to jump out of its orbit and come forward towards the people on a zig-zag course, stopped, and returned again to its normal position.  This was seen by a large crowd near the children and lasted twelve minutes.

   The Virgin's messages had been to induce the pope to bring  about   "the   consecration  of   the  World  to  her Immaculate Heart," to be followed by "the consecration of Russia".  "Russia will be converted," she foretold.  "The Holy Father will consecrate Russia to me."  But, she warned, should this not be accomplisshed, "her (Russia's) errors will spread throughout the world, causing wars, and persecutions...different nations will be destroyed..."  In the end however, the Virgin promised by way of consolation, that the Catholic Church would triumph, after which "the Holy Father will consecrate Russia to me.  Thereupon she (Russia) shall be converted and a period of peace will be granted to the world."

   These quotations are from the authenticated messages of the Virgin Mary herself, as related to one of the children and fully accepted by the Catholic Church as a genuine revelation by the "Mother of God".)

Nghiên cứu về những hiện tượng liên hệ đến vụ Bà Mary hiện ra Fatima, chúng ta có thể thấy ngay nhiều điều vô lý, không hợp với ngay cả một sự hiểu biết thông thường.  Thật vậy:

Thứ nhất,  Bà Mary là mẹ của Chúa, mà Chúa thì "toàn năng", "sáng tạo" ra vũ trụ bao la và muôn loài,  vậy thì tại sao Bà lại cần đến một ông Giáo hoàng rất thế tục để dâng hiến thế giới vô cùng nhỏ nhoi của con người cho Bà?  Bà có lẩm cẩm không?  Nhưng thực tế là, hết giáo hoàng này đến giáo hoàng nọ, kể cả John Paul II, đã dâng hiến thế giới này cho bà Mary, nhưng sự dâng hiến đó chẳng có giá trị gì, vì trên thế giới ngày nay, những người tin vào Bà Mary càng ngày càng giảm sút, trong khi số người không tin càng ngày càng tăng.   Thử đếm xem, với trên 6 tỷ người trên thế giới, có bao nhiêu người tin Mary?  Mary đã làm gì được cho thế giới, hay chỉ biết khóc, biết chảy nước, chảy dầu để kéo tín đồ đến quỳ lạy?

Thứ nhì, Bà Mary tự khoe là mình có trái tim vô nhiễm nguyên tội, như vậy là Bà chỉ nhắc lại một tín lý của Giáo Hoàng Pius IX mới đưa ra năm 1854 và bắt mọi tín đồ phải tin.  Vậy trước năm 1854, nghĩa là trước khi Giáo Hoàng Pius IX đưa ra tín lý "vô nhiễm" thì Bà có vô nhiễm nguyên tội không?   Sau màn kịch hiện ra ở Lộ-Đức năm 1858 mà bà Mary tự nhận là “Vô Nhiễm Nguyên Tội” thì trong các vụ hiện ra về sau ở bất cứ đâu bà Mary cũng nhắc lại là mình có trái tim “vô nhiễm nguyên tội”.  Nhưng trong những vụ hiện ra trước vụ Lộ-Đức thì không thấy Bà Mary tự nhận là “Vô nhiễm Nguyên tội”, tuy rằng quan niệm về Bà Mary “Vô nhiễm Nguyên tội” đã có trong nhiều thế kỷ nhưng có nhiều bất đồng trong giáo hội cho đến khi Giáo hoàng Pius IX  lập thành một tín lý (dogma) và bắt mọi tín đồ phải tin, không tin thì không được lên thiên đường qua ngả Vatican.   Điều này cho thấy rõ Bà Mary chẳng qua chỉ là tay sai của Giáo hội, Giáo hội đặt đâu thì ngồi đấy, bảo nói gì thì nói đấy.  Và năm 1917 ở Fatima cũng vậy, Bà Mary cũng tự nhận là có “Trái tim vô nhiễm”. Chúng ta đã biết, qua lời thú nhận của Giáo hoàng John Paul II cũng như của một số bậc lãnh đạo trong Ki-Tô Giáo, là trên thực tế chẳng có cái gì gọi là “nguyên tội”, do đó cũng đủ để cho chúng ta thấy ngay thực chất nhân vật Mary do Giáo hội Ca-Tô dựng lên với đủ mọi danh hiệu, hiện ra khắp mọi nơi, tự nhận  là mình có “trái tim vô nhiễm nguyên tội”, chỉ là những màn dàn dựng của các giáo hội địa phương cũng như qua sự tưởng tượng của những tín đồ hoang tưởng, nhìn đâu cũng thấy “Đức Mẹ”, thí dụ như trên sàn nhà, dưới gầm cầu, trên một vựa ngũ cốc, và cả trên một miếng Pizza v..v.. và v.. v…

Thứ ba, những từ như "Giáo hoàng" hay "Đức Thánh Cha" là những từ Giáo hội đặt ra về sau để thần thánh hóa vai trò của Giáo chủ Ca Tô Giáo, chứ thời của Bà Mary cách đây 2000 năm không làm gì có những từ này.  Bảo rằng Bà có quyền phép vô biên, cái gì cũng biết, thì lại đưa đến một mâu thuẫn.  Nếu đã quyền phép vô biên thì tại sao phải nhờ đến một ông Giáo hoàng chống Cộng cho Bà?  Bà chỉ cần phù phép một cái là cả nước Nga bỏ Chính Thống Giáo đi theo Ca Tô Giáo, hay là giáng họa cho dân Nga chết hết là hết Cộng. Sau khi Bà đã khẳng định là "Đức Thánh Cha" sẽ dâng hiến Nga sô cho Bà và Nga sô sẽ cải đạo theo Ca Tô Giáo, Bà lại phải cảnh cáo: "Nếu không thực hiện những thông điệp của Bà thì....".  Tại sao lại có vụ dọa dẫm này? Bà không tin ở quyền phép của Bà, hay là không tin ở khả năng của Giáo hoàng, cho nên Bà phải dọa như vậy để giáo dân sợ mà hồ hởi chống Cộng? Nói tóm lại, nội dung những "thông điệp siêu nhiên" của Bà Mary chẳng qua chỉ là những lời bịa đặt của những người trong hàng Giáo phẩm Ca-Tô không được thông minh cho lắm vì nghe rất rẻ tiền, vô lý và mâu thuẫn, nhưng lại có tác dụng khích động đám tín đồ đầu óc chắc chắn là kém thông minh hơn các vị trong hàng Giáo phẩm nhiều. 

Thứ tư,   thông điệp  của  Bà Mary rao truyền   cho mấy em nhỏ thất học là một thông điệp,  như đã nói ở trên,  sặc mùi...chống Cộng.  Trí tuệ của mấy em nhỏ mù chữ lên 10, 9, và 7 tuổi đã phát triển chưa, và các em đã hiểu gì về Cộng Sản?  Trí nhớ của các em như thế nào?  Đến năm 1944, nghĩa là 27 năm sau, Chị Lucia mới được lệnh giáo hội phải viết lại những điều gọi là “Bí mật thứ ba ở Fatima”.  Lúc bấy giờ chị Lucia có còn nhớ những gì Bà Mary dặn hay không, hay là chỉ viết lại những điều Giáo hội muốn chị viết.  Phải chăng các thông điệp của Bà Mary thật ra là của Giáo hội đưa ra?  Tại sao Bà Mary lại phải chống Cộng vì Cộng cũng là do con Bà sinh ra?  Bảo rằng Bà chống vì CS tàn ác thì tại sao trước những hành động tàn bạo của Giáo hội Ca Tô đối với nhân loại như tiêu diệt các nền văn hóa khác, gây ra những cuộc Thánh Chiến, các tòa hình án xử dị giáo, săn lùng phù thủy, tra tấn và thiêu sống người lạc đạo v..v.., làm chết hại bao nhiêu triệu người,  Bà không hiện ra mà chống?  Hay là Bà về phe Giáo hội đã vinh danh Bà qua những hành động tàn ác kể trên? 

Thứ năm, những lời tiên đoán của Bà sai bét.  Hai cuộc Thế Chiến không do Nga Sô gây ra mà do các con Bà ở Tây phương gây ra tàn sát lẫn nhau.  Và ngày nay, tuy chế độ Cộng sản ở Nga đã sụp đổ, Nga sô cũng không cải đạo theo Ca Tô Giáo.  Trái lại, cơ quan lập Pháp của Nga sô còn đưa ra nghị viện điều luật "đặt Ca Tô La Mã Giáo" ra ngoài vòng pháp luật (nhưng lại công nhận Phật Giáo là một trong những tôn giáo chính thức ở Nga) khiến cho John Paul II hoảng sợ, phải cầu cứu với Tổng Thống Nga thời đó là Yetsin để hoãn thông qua đạo luật này. 

Thứ sáu, hiện tượng lạ lùng về mặt trời kể trên hoàn toàn  phản  khoa học.  Mặt  trời  không thể  nào nhảy ra ngoài quỹ đạo như vậy mà không làm nhiễu loạn cả Thái Dương Hệ, và không ai có thể nhìn thẳng vào mặt trời trong 12 phút, ngay chỉ 1 phút, mà không bị hư hẳn đôi mắt.  Trường họp này đã xảy ra ở vài nơi trên thế giới khi tín đồ tin vào lời tiên đoán của vài tên lái buôn tôn giáo địa phương là "Đức Mẹ hiện ra" tương tự như ở Fatima và nhìn thẳng lên mặt trời.    Chỉ có những người không biết gì về khoa học, nhất là về môn Cơ học các thiên thể (Celestial mechanics) cũng như về sinh lý của con mắt mới dám bịa ra cái hiện tượng không thể nào xẩy ra này. 

Nhưng những điểm vô lý kể trên cũng chẳng làm cho Giáo hội bận tâm, Giáo hội chỉ cần tín đồ tin là được rồi, như  Đức Ông  Sheen   đã tuyên bố năm 1947,  sau một diễn văn chống Cộng (Paul Blanshard, American Freedom and Catholic Power, Beacon Press, Boston, 1950, trg. 228):

"Chúng tôi không quan tâm đến việc chứng minh tính cách xác thực của những hiện tượng xẩy ra ở Fatima, vì những ai tin ở cảnh giới tâm linh và Mẹ của Chúa thì không cần đến chứng minh, còn những ai bác bỏ Thánh Linh thì đằng nào cũng không chấp nhận rồi."

(We are not concerned about proving the authenticity of these phenomena at Fatima, for those who believe in the realm of the spirit and the Mother of God need no proof, and those who reject the Spirit would not accept it anyway.)

Tại sao con người lại có thể tin vào những chuyện vừa hoang đường, vừa phi lý,  vừa  phản khoa học một  cách ấu trĩ như vậy?  Chúng ta nên nhớ rằng, ở Việt Nam, sau hiệp định Geneva, 1954,  thì khoảng 6, 7 trăm ngàn giáo dân Bùi Chu, Phát Diệm v..v.., đã cho chúng ta thấy cảnh: "giám mục, linh mục chạy trước, con chiên chạy sau."  Chạy đi đâu?   Chạy vào Nam theo Đức Mẹ và Chúa Giê su, vì theo kế hoạch tuyên truyền của Lansdale, tin Đức Mẹ và Chúa Giê su đã di cư vào Nam trước rồi, được tung ra một cách rất ngoạn mục và thành công.  Vậy thì đầu óc của những tín đồ Ca Tô, nhất là những tín đồ Ca Tô ở Việt Nam, một khi đã mang trên đầu cái vòng kim cô của Vatican rồi  thì có thể tin vào bất cứ điều nào mà Giáo hội nói, bất kể những điều này phi lý đến đâu.  Giáo hội biết rõ như vậy cho nên mới có thể khai thác triệt để những đầu óc thuộc loại này.  Về sự việc này, Linh mục Trần Tam Tĩnh có viết trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm, về cuộc di cư vào Nam của người Gia Tô miền Bắc như sau, trg. 103-104:

"Trước tiên, họ sử dụng Đức Mẹ Fatima, mà việc tôn sùng mấy năm gần đây đã được tăng cường, qua việc thành lập Đạo Binh Đức mẹ, Đạo Binh Xanh, Hiệp Hội Chiến Sĩ Đức Mẹ.  Tất nhiên Đức Mẹ được giao cho chức năng chính trị để giải thoát những kẻ tôn sùng Người.  Người ta đồn rằng Đức Mẹ hiện ra ở Ba Làng, Thanh Hóa, để ra lệnh cho giáo dân đi vào Nam, bởi vì Mẹ cũng bỏ miền Bắc Việt Nam.  "Việc hiện ra" hình như đã được dàn dựng tài tình bởi một linh mục, ông đã mặc áo Đức Mẹ cho một thiếu niên và đã cho em đứng vào sau bàn thờ Đức Mẹ Fatima.  Trước mấy cây nến tung ánh lung linh, một vài nhà "đạo đức" coi đó là Đức Mẹ hiện ra, nói với họ một giọng dịu dàng nhưng minh bạch rằng (trước khi hiện ra ở La Vang rồi Ba Làng, Đức Mẹ người Do Thái đã đi học một cua tiếng Việt VSL (Vietnamese as a Second Language) ở trường thuộc địa Pháp tại Hà Nội; TCN), phải từ bỏ đất Cộng Sản bất cứ với giá nào, mà tìm lánh sang vùng đất tự do.  Đức Mẹ sắp sửa bỏ miền Bắc.  Từ miệng qua tai, tin đồn được loan ra như một vết dầu loang được thêm thắt những nét chấm phá mới, kèm theo những lời tiên tri mới, hoặc những điềm gở tiên báo tai ương sắp đổ tới..

   "Chạy trốn để cứu lấy mạng sống và cứu lấy đức tin", "Chúa Ki Tô đã đi vào Nam", "Đức Mẹ đã rời bỏ Bắc Việt", những khẩu hiệu phi lý dó làm cho người Ki Tô hữu phương Tây phải cười, nhưng lại có tác dụng rất lớn nơi một cộng đồng Ki Tô hữu đã từng bị giam nhốt xưa nay trong sự ngu dốt và trong một niềm tin đạo nói được là thới Trung cổ.  Trong cái ốc đảo khép kín đó của giáo dân, những gì gọi là "Bí Mật của Đức Mẹ Fatima" đều được coi như là tín điều bắt buộc, đang khi nó chỉ dựa vào một mớ tài liệu tuyên truyền nhảm nhí."

Nhảm nhí như thế nào?  Nghiên cứu về sách lược của Giáo hội Ca Tô và những sự kiện xảy ra sau hiện tượng Fatima, các học giả đã tìm ra nhiều điều thậm phi lý, phản khoa học, không thể giải thích nổi, và hiện tượng Fatima đã được Giáo hội  đưa  ra,  ngoài  mục  đích  tôn giáo còn có những mục đích chính trị và kinh tế.  Thật vậy, trong cuốn Vietnam: Why Did We Go, Avro Manhattan viết như sau, Ibid., trg. 28...:

"Sự sùng bái ở Fatima, đặt nặng trên lời hứa của Maria đồng trinh là Nga Sô sẽ cải đạo theo Ca Tô Giáo La Mã , đã được Vatican thổi phồng đến tột đỉnh.  Năm 1938, Giáo hoàng phái một sứ giả tới Fatima để loan báo cho gần một triệu tín  đồ đang hành hương nơi đó là Maria đồng trinh đã phó thác cho ba đứa trẻ ở Fatima ba bí mật lớn. [Chúng ta nên để ý là, 2 trong ba đứa trẻ mù chữ được Bà Maria ưu ái phó thác cho những lời tiên đoán láo, vì không có điều nào thực hiện, đã chết tốt vào năm 1919 và 1920 khi mới có 11 và 10 tuổi] Và rồi, tháng 6 năm đó, đứa trẻ duy nhất còn sống,  được ông linh mục nghe xưng tội cố vấn,  linh mục này luôn luôn tiếp xúc với hệ thống quyền lực Ca Tô và do đó với Vatican,  nên tiết lộ nội dung của hai trong ba điều bí mật trên.

Điều bí mật thứ nhất là cảnh tượng của hỏa ngục (cái mà thế giới hiện đại đã biết rõ).

 Điều bí mật thứ hai đi thẳng vào trọng điểm: nhắc lại là Nga Sô sẽ cải đạo theo Ca Tô Giáo La Mã .

Điều bí mật thứ ba để trong một bao thư niêm kín và đặt dưới quyền sử dụng của hàng Giáo phẩm Ca Tô, không được tiết lộ cho tới năm 1960.  

Sự lập lại điều bí mật mặc khải thứ hai về sự cải đạo của Nga Sô có một ý nghĩa chấn động tôn giáo và chính trị.  Giáo hội đã chọn một thời điểm rất đúng lúc để tiết lộ bí mật này.  Những lực lượng độc tài Phát xít cũng đang chủ trương tiêu diệt Nga Sô.

Năm sau, 1939, Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ.  Năm 1940, Pháp  bại trận.    Toàn  thể Âu Châu rơi vào quyền thống trị của Phát xít.  Năm 1941, Hitler xâm lăng Nga Sô.  Sau cùng, lời hứa của Maria đồng trinh hầu như sắp sửa thành tựu.  Tại Vatican, mọi người đều hồ hởi, Pacelli đã trỏ thành Giáo hoàng Pius XII (1939)..

Pius XII khuyến khích tín đồ Gia Tô tình nguyện đi chiến đấu ở mặt trận Nga Sô.  Tín đồ Ca Tô - hầu hết là những người sùngbái Maria đồng trinh - từ Ý, Pháp, Ái Nhĩ Lan, Bỉ, Hòa Lan, Châu Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ và Bồ Đào Nha,  đầu quân  vào những  đoàn quân của Đức Quốc xã.  Tây Ban Nha tham gia một sư đoàn có tên là Sư  Đoàn Ca Tô Xanh [Đạo binh xanh là đạo binh của Đức Mẹ]  .

Tháng 10, 1941, trong khi những đoàn quân Đức quốc xã tiến gần tới Moscow (thủ đô Nga Sô), Pius XII, trong một huấn thị ở Bồ Đào Nha, thúc đẩy tín đồ Gia Tô hãy cầu nguyện dể cho lời hứa của Maria ở Fatima mau thực hiện.

Năm sau, 1942, sau khi Hitler tuyên bố rằng Cộng Sản Nga Sô đã "dứt khoát" bị đánh bại, Pius XII, trong một thông điệp hồ hởi, theo huấn thị thứ nhất của Maria đồng trinh, "dâng hiến cả thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm của Maria"

 ...Đế quốc Phát xít tan biến với sự sụp đổ của Hitler.  Năm 1945 Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt.  Trước sự kinh ngạc và đau buồn của Pius XII, Nga Sô đã trở thành cường quốc thứ nhì trên trái đất."

(The cult of Fatima, with emphasis on the Virgin's promise to Russia's conversion, had been given immense prominence by the Vatican.  In 1938, a  papal nuncio was sent to Fatima,  and  almost  half a million  pilgrims were told that the Virgin had confided three great secrets to the children.  Thereupon, in June of that year, the only surviving cvhild - advised by her confessor, always in touch with the hierarchy and hence with the Vatican - revealed the contents of two of the three great secrets.

The first was the vision of Hell (something well known to the modern world).

The second  was more  to the point:  a   reiteration  that Soviet Russia would be converted to the Catholic Church.  The third was sealed in an evelope and put in custody of the ecclesiastical authority not to be revealed until 1960.

The dramatic reiteration of the revelation of the second secret about Soviet Russia immediately assumed a tremendous religious and political significance.  The timing of the "disclosure" could not have been better chosen.  The fascist dictatorship were talking the same language: the annihilation of Soviet Russia.

The following year, 1939, the Second World War broke out.  In 1940, France was defeated.  The whole Europe had become fascist.  In 1941, Hitler invaded Russia.  The Virgin's prophecy at long last was about to be fulfilled.  At the Vatican there was rejoicing, since by now Pacelli had become pope under the name of Pius XII (1939).

Pius XII encouraged Catholics to volunteer for the Russian front.  Catholics - most of them devotees of the Virgin of Fatima  -  joined the  nazi  armies,  from Italy, France, Ireland, Belgium, Holland, Latin America, the US and Portugal.  Spain sent a Catholic Blue Division.

In October 1941, while the nazi armies rolled near Moscow, Pius XII, addressing Portugal, urged Catholics to pray for a speedy realization of the Lady od Fatima's promise.

The following year, 1942, after Hitler had declared that communist Russia had been "definitely" defeated, Pius XII, in a Jubilee Message, fulfilled the first of the Virgin's injunction and "consecrated the whole world to her Immaculate Heart."

...The fascist empire vanished with the collapse of Hitler.  In 1945, World War II ended.  And Soviet Russia, to the chagrined surprise of Pope Pius XII, emerged the second greatest power on earth.)

Đó là thực chất hiện tượng Fatima, một "phép lạ" mà đại đa số tín đồ Ca Tô ít học trên toàn thế giới rất tin.  Họ không hề để tâm suy nghĩ là lời hứa của Maria đồng trinh (thực ra là của Giáo hội) giao phó cho những em bé thất học, rút cục chỉ là những điều mơ ước không thành của Giáo hội.  Thật vậy, điều bí mật thứ nhất mà chị Lucia kể là được bà Mary cho thấy cảnh hỏa ngục.  Đọc những lời chị Lucia nhìn thấy cảnh hỏa ngục chúng ta thấy chẳng có gì là lạ, vì đó chính là những điều mà các Linh mục thường nhồi nhét vào đầu óc những đứa trẻ khi chúng còn non dại và trở thành sợ hãi, ám ảnh suốt đời, và để tránh cái hỏa ngục đó, là phải đi theo con đường giáo hội dạy, nghĩa là phải tin tất cả những gì giáo hội dạy.  Chính sách nhồi sọ này vẫn còn tiếp tục trong hầu hết các hệ phái Ki Tô Giáo, điển hình là Tin Lành.  Nhưng trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, chính Giáo hoàng John Paul II đã phủ nhận sự hiện hữu của một hỏa ngục.  Ông nói:  “Thiên đường không phải là một nơi chốn vật chất (physical place) trên các tầng mây, và Hỏa ngục không phải là một nơi chốn dưới lòng đất” .  Điều bí mật thứ hai mà Bà Mary cho chị Lucia biết là Nga Sô sẽ cải đạo theo Ca Tô Giáo La Mã nhưng điều này đã không hề xảy ra.   Và điều bí mật thứ ba mà Chị Lucia, theo lệnh của một ông giám mục địa phương, viết lại năm 1944, sau 27 năm được nghe Bà Mary dặn [nên nhớ là năm 1917 Lucia là một đứa bé mới có 11 tuổi và mù chữ, nhưng lại có một trí nhớ tuyệt luân về những lời Bà Mary nói], nhưng không được tiết lộ, theo lời Bà Mary dặn, cho đến năm 1960.  Nhưng bí mật này lại không hề được tiết lộ cho đến thời Giáo Hoàng John Paul II mới được tiết lộ mà nội dung liên quan đến việc John Paul II bị Ali Garci bắn suýt chết làm cho nhiều người phải lắc đầu mỉm cười trước thủ đoạn ngụy tạo của Vatican.  Vì là một bí mật mà chỉ có mình Giáo hoàng biết, theo nguyên tắc, cho nên Vatican muốn sử dụng lúc nào, trong hoàn cảnh nào cũng được.  Đó là lý do trong năm 1960 cũng như vài chục năm sau đó, không có một hoàn cảnh chính trị hay tôn giáo nào thích hợp để tiết lộ bí mật thứ ba cho nó thích hợp.   John Paul II vốn là một kịch sĩ có hạng, nên dùng bí mật thứ ba ở Fatima để tự đánh bóng, nâng cao vai trò của “Đức Thánh Cha” không phải là chuyện lạ.

Đa số tín đồ Ca Tô hoàn toàn không biết gì về những mưu đồ chính trị đằng sau hiện tượng Fatima, cho nên họ vẫn tin rằng Đức Mẹ đã thực sự hiện ra ở Fatima, và tâm cảnh sùng tín Đức Mẹ ngày càng gia tăng.  Khai thác sự "ngu dốt trong những ốc đảo khép kín đó của giáo dân", Giáo hoàng Pius XII bèn đi thêm một bước ngoạn mục khác.

   Năm 1950, Giáo hoàng Pius XII tiết lộ rằng chính đức Mẹ đã đích thân đến thăm viếng ông tại Vatican.  Năm sau, 1951, Ông tổ chức một cuộc hành hương vĩ đại tại Fatima gồm hơn 1 triệu tín đồ.  Rồi ông phái một vị Hồng y thân cận nhất,  Tedeschini, đến Fatima với nhiệm vụ loan báo cùng các tín đồ đi hành hương ở Fatima là đức Mẹ đã đến thăm ông.  Avro Manhattan mô tả sự việc trên như sau (Ibid., trg. 39):

"Thế rồi một ngày trong tháng 10, 1951, Hồng Y Tedeschili, đứng trước đám đông tín đồ, với một giọng nói đầy xúc cảm, long trọng tiết lộ với những tín đồ đi hành hương Fatima rằng: "Một người khác đã chứng kiến cùng một phép lạ" (nghĩa là phép lạ khi Maria đồng trinh hiện thân trước ba đứa trẻ năm 1917, mặt trời đi theo đường gẫy khúc ở trên trời).  Hồng Y nói tiếp: "Ông ta (Giáo hoàng Pius XII) đã nhìn thấy hiện tượng đó, không phải ở Fatima.  Thật vậy, ông ta đã nhìn thấy hiện tượng đó nhiều năm sau, ở La Mã.  Giáo hoàng, chính Pius XII, đã nhìn thấy thế."   Rồi Hồng Y kể thêm vài chi tiết liên hệ đến phép lạ trên: "Một buổi chiều ngày 30 tháng 10, 1950, hồi 4 giờ, Đức Thánh Cha từ khu vườn trong Vatican nhìn lên mặt trời (chỉ có người ngu, không biết gì về mặt trời mới nhìn thẳng lên mặt trời; TCN) và thấy hiện tượng kỳ lạ ở thung lũng Fatima tái diễn.   Hiện tượng kỳ lạ nào?  Sau đây là nguyên văn lời của vị Hồng Y, người được Giáo hoàng Pius XII đặc phái tới Fatima để tiết lộ cho thế giới biết như sau:

"Giáo Hoàng Pius XII đã đích thân nhìn thấy đời sống của mặt trời (Tác giả xin nhắc độc giả rằng: Mặt trời là một khối cầu lửa vĩ đại, đường kính vào khoảng 1 triệu 3 trăm 85 ngàn cây số (866.000 miles)) trong tay của Maria.  Mặt trời dao động, rối loạn và biến đổi thành một hình ảnh sống trong một chuyển động ngoạn mục trên trời.. trao truyền cho vị đại diện của Chúa những thông điệp thầm lặng nhưng hùng hồn.

Hiện tượng này không chỉ xảy ra một lần, mà trong ba ngày liên tiếp, ngày 30, 31 tháng 10, và 1 tháng 11, 1950."

   (And so it came to pass that one October day, Cardinal Tedeschili faced the massive crowd, and in a voice filled with emotion, solemnly disclosed to the astonished pilgrims that "another person has seen this same miracle..." (namely the miracle of the Virgin Mary appearing to the three children in 1917, when the sun zig-zagged in the sky).  "He saw it outside Fatima," the Cardinal went on to say.   "Yes, he saw it years later.  He saw it at Rome.  The pope, the same our pontiff, Pius XII...yet he saw it."  The cardinal then gave a few relevant details concerning when and how the miracle occurred.  "On the afternoon of October 30th, 1950, at 4 p.m.," said the cardinal, (that is three months after Catholic Mathews delivered this preventive atomic war speech), "the Holy father turned his gaze from the Vatican gardens to the sun, and there...was renewed for his eyes the prodigy of the Valley of Fatima."  And what was the prodigy?

   Here are the   exact  words  of  the  cardinal,  sent there specifically by Pope Pius XII himself to disclose the story to the world:

   "Pope Pius XII was able to witness the life of the sun (author's reminder: a huge burning sphere 866,000 miles in diameter)..under the hand of Mary.  The sun was agitated, all convulsed, transformed into a picture of life...in a spectacle of celestial movements...in transmission of mute but eloquent messages to the Vicar of Christ."

   This did not occur once, but on three successive days: October 30 and 31 and November 1, 1950.)

Khi nghe tin trên, hầu như cả thế giới, trong đó có một số trí thức Ca Tô, mỉm cười lắc đầu, vì chuyện này cũng tương tự như chuyện trong Thánh Kinh: trăng sao là những ngọn đèn mà tối tối Chúa sai thiên thần mang ra treo trên vòm trời.  Nhưng đám tín đồ "tin ở một vị Giáo hoàng, người tự nhận là không thể sai lầm, là nhất hạng, là tối cao", thì lại cảm thấy rất hồ hởi khi nghe tin trên, vì đó là dấu hiệu nhắc lại lời hứa của bà Maria khi xưa ở Fatima về “Nga sô sẽ cải đạo thành Ca Tô Giáo La Mã”, đã sắp sửa thành tựu.  Thật ra,  chuyện Giáo hoàng bày đặt ra chuyện hoang đường để dụ dỗ đám tín đồ đầu óc vốn mù mịt, và chuyện các tín đồ tin vào những chuyện phi lý như trên, là những chuyện thuộc về tín ngưỡng trong Ca Tô giáo.  Đối với tôi, những tín đồ thuộc loại trên đáng thương chứ không đáng trách.  Chúng ta không thể trách họ vì sự thiếu hiểu biết của họ. Đáng trách chăng là những thủ đoạn khai thác sự thiếu hiểu biết của quần chúng tín đồ mà Giáo hội dùng trong những mục đích chính trị nhơ bẩn, và trong những mục đích kinh tế để làm giầu cho Giáo hội trong khi quần chúng tín đồ vẫn nghèo khổ mà lại tiêu phí vào những việc không đâu, vì tin vào những lời tuyên truyền giả dối của Giáo hội.  Thật vậy, chúng ta hãy đọc vài đoạn sau đây của học giả Paul Blanshard (Ibid., trg. 225-226):

Đức Ông John L. Belford, một trong những vị lãnh đạo Gia Tô nổi tiếng ở Brooklyn, phàn nàn về sự kiện là một vài đền thờ (ở những chỗ Giáo hội cho rằng Maria đã hiện ra) đã "gợi lòng tham, một trong những đặc tính điên rồ của con người" và lên án "tính cách thương mại xung quanh những đền thờ."  Ông nói: "Thật là khó phân biệt giữa sùng đạo và mê tín, nhưng có những nơi trong quốc nội cũng như ở ngoại quốc mà sự sùng đạo được thực hành và quảng cáo như là một cách làm tiền... Những tín đồ Ca Tô lấy làm xấu hổ, và những người phi-CaTô cảm thấy kinh tởm...Sự dùng những Thánh tích, lẽ dĩ nhiên, được giáo hội chấp thuận.   Trong việc xử dụng những Thánh tích, chúng ta dạy về một đức tin hoàn toàn, nhưng chúng ta cũng ghê tởm, khinh miệt và lên án cách hành nghề kiểu một tay đưa ra Thánh tích, còn tay kia thì vơ tiền.."

     Trong những năm gần đây, giáo hội đã đem mục đích chính trị thêm vào những sắc thái khác mà giáo hội quảng cáo về những đền thờ Maria. Trong hai đền thờ Maria lớn nhất trên thế giới ngày nay, đền thờ ở Lourdes trên nước Pháp và ở Fatima, Bồ Đào Nha, được dựng lên như là các nơi thiêng liêng vì Maria đồng trinh đã viếng thăm trái đất tại các nơi này, đền thờ nổi tiếng hơn, Fatima, ngày nay được giáo hội xử dụng chính yếu như là một biểu tượng xúc cảm trong cuộc chiến chống Cộng.  Đền thờ nổi tiếng nhất ở Tây Bán Cầu, ở Guadalupe, nay được dùng như là một vũ khí chống các trường học công cộng ở Mễ Tây Cơ (Giáo hội Ca Tô phản đối các trường công, muốn rằng nền giáo dục Mễ Tây Cơ phải do các trường Ca Tô cai quản và dạy dỗ; TCN)

... Gần đây, những pho tượng "Đức Mẹ ở Fatima" đã được mang đi diễn hành ở Âu Châu và Mỹ châu, phô trương rầm rộ và được các báo Ca Tô tường thuật chi tiết.   Mỗi pho tượng đi tới đâu đều có những "phép lạ" hiện ra tới đó.

   Hầu như mọi thông tin quảng cáo về những pho tượng này đều kết hợp phép lạ ở Fatima với chiến dịch chống Cộng của Giáo hội.  Giới trí thức Ca Tô cảm thấy hổ nhục vì sự khai thác chính trị này.  Trí thức Ca Tô không bắt buộc phải tin những chuyện Maria hiện thân mà giáo hội đưa ra chừng nào mà họ không công khai bác bỏ những truyền thuyết có tính cách linh cảm này."

   (Monsignor John L. Belford, one of Brooklyn's most noted Catholic leaders, deplored the fact that some shrines  "have appealed  to the greed which is one of the foul characteristics of human nature," and condemned the "commercialism which surrounds shrines."  He said: "It  is not easy to draw the line between devotion and superstition, but there are places at home and abroad where devotion are practiced and promoted as a mean to gather money...Catholics are ashamed and non-Catholics are horrified...The use of relics is, of course, approved by the Church.  In that use we profess unqualified faith, but we do loathe, despise and comdemn the contemptible practice of applying the relic with one hand and collecting money with the other."

   ...In recent years the hierarchy has added political purpose to other features of its shrine promotion.   Of the two greatest shrines in the world today, the French Lourdes and the Potuguese Fatima, made sacred by visits of the Virgin Mary to the earth, the more fmous one, Fatima, is now used by the Church chiefly as an emotional symbol in the war against communism.  The most famous shrine in the Western hemisphere, Guadalupe, is being used as a weapon against Mexican public schools.

...Recently "Fatima statues" have been circulated in Europe and America with enormous public fanfare and detailed report in the Catholic press.  Each statue during its journey has had many "miracles reported along its path."

...Virtually all publicity about the statue has coupled the miracle of Fatima with the Church's drive against communism... Many  Catholic  intellectuals  are  shame-faced about this political exploitation of apparition...Catholic intellectuals are not bound by the rules of their Church to take the apparition stories seriously as long as they do not repudiate the inspiring legends publicity.)

Qua vài trích dẫn điển hình trên có lẽ chúng ta đã nắm được phần nào thực chất những vụ Bà Mary hiện ra, nhất là ở Fatima.  Trong Ca-Tô Giáo La Mã, có 4 tín lý (dogma) quan trọng nhất. Đó là:  Bà Mary đồng trinh vĩnh viễn (perpetual virginity), thụ thai vô nhiễm nguyên tội (Immaculate conception) , hồn và xác bay lên trời sau khi chết  (Assumption), là Mẹ Thiên Chúa (Mother of God).  Đây là những tín lý mà mọi tín đồ bắt buộc phải tin, không tin cũng được, nhưng không được nói ra, vì nói ra sẽ bị dứt phép thông công ngay, và tất nhiên sẽ không được lên thiên đường, dĩ nhiên là sau khi chết, và phải qua trạm Vatican.   Đó là những điều kiện để được làm một tín đồ Ca-Tô Giáo.

Để hiểu vấn đề này, chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Mary của Michael Jordan, nxb Weidenfeld and Nicolson, London, 2001, trang 291:

Giáo hội Ca-Tô vẫn tiếp tục xuyên tạc những tài liệu về Mary, đã xây những lâu đài của Giáo hội trong không khí và đã xoay sở hàn gắn chúng vào những trình độ cao nhất của giáo lý Ca-Tô như là những “chân lý mạc khải” mà đàn  chiên thực sự chấp nhận như là một hành động mù quáng về  đức tin.

(The Catholic Church has continued its distorsion of the Marian record, has built its castles in the air and has managed to weld them into the very highest levels of Church doctrine as “revealed truth” which the flock does indeed accept as a blind act of faith)

Đối với đàn chiên của Giáo hội Ca-Tô La Mã thì đức tin vào Bà Mary dựa trên những sự thực lịch sử hay trên những tín lý ngụy tạo của Giáo hội đâu có thành vấn đề, vì Giáo hội bảo họ tin cái gì thì họ phải tin cái đó.  Lẽ dĩ nhiên, một đức tin thuộc loại đó thì không cần đến bất cứ một bằng chứng nào, một chứng minh khoa học nào, hay một sự thực lịch sử nào.  Đức tin không thể được thử nghiệm bởi một công thức khoa học hay bởi những lý luận trí thức.  Chúng ta tin hoặc không tin, thế thôi.  Vì một loại lý luận mà không phải là lý luận thông thường là, đó là thuộc về vấn đề tâm linh, là mặc khải siêu nhiên, là vấn đề sống chết không liên quan gì đến cái hiểu, cái biết (Đỗ Mạnh Tri).  Nhưng, tôi xin dùng một đoạn trong cuốn Mary của Michael (Ibid., p. 304) để thay cho kết luận:

Tuy nhiên đức tin cần phải có một mức độ nào đó về luân lý ngoài niềm tin vào một nguyên lý hoàn toàn trừu tượng.  Nó cần phải được xây dựng trên sự tin cậy và sự tin tưởng, sự trung thành của những lời hứa ban ra một cách lương thiện và thẳng thắn, nếu không chẳng có lý do nào để mà có niềm tin đó.  Nếu đức tin được xây dựng trên những lời nói láo, sự lừa dối và sự dùng mánh khóe thao tác có tính toán, thì nó trở thành không thể nào biện minh được và ngay ở đây, có một vấn đề là ta có thể gọi một cách hợp lý đó là một đức tin hay không?  Chúng ta đã là một đàn chiên rất thiếu hiểu biết và mê tín vào điều mà sự lừa dối về Mary bắt đầu bắt rễ và rồi vặn vẹo trở thành “sự thật lý không thể sai lầm”, chúng ta có thể có lý do để chống đỡ cho điều là chúng ta đã bị kéo vào trong vòng ngu dốt và mê tín đó.  Nhưng ở buổi bình minh của thế kỷ 21, nhiều người trong chúng ta không còn tự cho là mình ngu dốt hay mê tín và đức tin hẹp hòi của chúng ta trở thành công khai cho những phê bình nghiêm túc hơn.  Điều này thật là đúng khi chúng ta biết rằng sự cuồng tín nằm trong sự hiểu biết của chúng ta về một Mary giả tạo đã từng bị kiểm soát bởi những con người nhằm vào những lợi ích thế tục, những người cương quyết  bảo vệ vị thế giáo trưởng trong xã hội của mình nhân danh tôn giáo.

(Yet faith also needs to involve some measure of morality beyond belief in a pure abstract principle.   It needs to be built on trust and confidence, the fidelity of promises given honestly and openly, otherwise there is no point in having it.  If faith is found on lies, deceit and calculated manipulation, then it becomes impossible to justify and there is even a question mark against whether it can reasonably be called faith.  We were still largely ignorant and superstitious flock in whom the Marian deception first took root and in whom it became twisted into an “infallible truth”, we might have an excuse for being taken in it.  But at the dawn of the 21st century, many of us can no longer claim to be ignorant or superstitious and our blinkered faith becomes open to more serious criticism.  This is particularly true when we know that bigotry is involved and that our understanding of a fictious Mary has been controlled by men with vested interests, determined to safeguard their own patriarchal social position in the name of religion.)

Tôi hi vọng loạt bài viết về Mary ở La Vang, Lộ Đức, Fatima này có thể giúp cho mọi người chúng ta chút ít suy nghĩ về những niềm tin của chúng ta trong thời đại này và về chỗ đứng thực sự của con người của chúng ta trong xã hội ngày nay.

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: giaodiem@giaodiem.com