giaodiem copyright
posted: 21.12.2005
   BANG GIAO VỚI  VATICAN ??
    BANG GIAO NHƯ THẾ NÀO ??

Trần Chung Ngọc

Vài Lời Nói Đầu.-

Đầu tháng 7 vừa qua, do lời mời của Vatican, một phái đoàn từ Việt Nam đã đến Vatican tham quan để biết rõ hơn những hoạt động mà Vatican đã trình diễn và đưa ra những lời hứa hẹn ngọt ngào để khuyến dụ phái đoàn, hi vọng đi đến việc thiết  lập quan hệ ngoại giao bình thường giữa hai “quốc gia”. Và cuối tháng 11, 2005, Hồng Y Crescenzio Sepe, Bộ Trưởng Bộ Truyền Giáo của Vatican, hậu thân của những tòa án xử dị giáo khi xưa, đã đặt chân lên đất nước mà khi xưa người Ca-Tô Giáo La Mã đã tích cực hỗ trợ thực dân Pháp để đưa nước nhà vào cảnh nô lệ trong 80 năm.  Bộ Trưởng Sepe đến để phong chức lại cho 57 linh mục đã từng là linh mục, và thăm “Thánh Địa La Vang”, một thánh địa ăn cướp của Chùa Lá Vằng như sử sách đã ghi rõ, với mục đích đẩy mạnh sự sùng bái và cuồng tín của các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, số tín đồ này nổi tiếng là mê muội và cuồng tín nhất trên thế giới ngày nay, ở trong nước cũng như ở hải ngoại.

Như vậy, vấn đề thiết  lập quan hệ ngoại giao bình thường giữa Việt NamVatican có lẽ không còn bao lâu nữa sẽ đi tới.  Tuy nhiên, có hai vấn đề cần được đặt ra.  Nhà Nước cần phải biết rõ mình bang giao với ai, một quốc gia thế tục như mọi quốc gia khác, hay một tôn giáo?  Như vậy, điều cần thiết là Vatican cần khẳng định với Việt Nam: Vatican là một quốc gia thế tục hay là một tôn giáo?  Nếu là một quốc gia như mọi quốc gia thế tục khác thì việc bang giao với Vatican là chuyện tất nhiên, cũng như Việt Nam đã bang giao với nhiều quốc gia khác.  Nếu chỉ là một tôn giáo thuần túy lo việc tâm linh của tín đồ của một tôn giáo trong vô số tôn giáo trên thế gian, thí dụ như Hồi giáo, Do Thái giáo v..v.. , thì không có lý do gì để Việt Nam phải bang giao với một tôn giáo, nhất là tôn giáo này đã đưa đến Việt Nam nhiều hệ lụy và còn đang nắm giữ đầu óc của 5-7% dân số người Việt.  Nếu Vatican vừa là một quốc gia thế tục vừa là một tôn giáo thì có lẽ Việt Nam cũng cần phải bang giao với Vatican trong tinh thần ngoại giao quốc tế giữa các quốc gia và nhất là về vấn đề tôn giáo, Việt Nam có nhiều điều cần phải giải quyết với Vatican.

Nhà Nước cần giải quyết dứt khoát với Vatican  những vấn đề lịch sử khi Ca-Tô Giáo đến Việt Nam, nhất là trong thời kỳ Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa và sau đó; vấn đề những đất đai và tài sản mà Ca-Tô Giáo đã dựa vào thế lực của thực dân Pháp và của chế độ Ca-Tô Ngô Đình Diệm trong 9 năm ở miền Nam để cướp đoạt của Việt Nam; những hệ lụy mà Vatican đã mang đến Việt Nam; những giáo lý và Kinh Thánh của Ca-Tô Giáo Rô Ma trong truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam v..v…, và nhất là vấn đề tôn trọng chủ quyền Việt Nam trong mọi hình thức hoạt động xã hội cũng như tôn giáo ở Việt Nam.  Đây là những vấn đề quan trọng cần phải giải quyết một khi cuộc bang giao đã hình thành.   Và ngày nay, nếu muốn, Nhà Nước có thể có đầy đủ tài liệu về những vấn đề này để đặt trên bàn đối thoại thương thuyết với Vatican.

Như vậy, bang giao với Vatican không thành vấn đề, nhưng Việt Nam cần phải “biết mình, biết người”.  Việt Nam cần phải biết rõ chính mình và quan trọng hơn nữa là cần phải biết rõ Vatican. Hi vọng người dân trong nước, nhất là khối Phật Giáo, có thể tích cực giúp Nhà Nước trong vấn đề biết rõ truyền thống văn hóa Việt Nam.   Biết rõ Vatican trong chính sách đối ngoại là vấn đề then chốt có ảnh hưởng đến tương lai của cả dân tộc, của “dân vạn đại”, chứ không chỉ ảnh hưởng đến một Đảng, một tôn giáo, hay một chế độ “quan nhất thời”.  Cũng vì vậy mà Nhà Nước cần sự góp ý  của người dân, những người dân không thuộc thế lực phi dân tộc và tất nhiên phản dân tộc.  Hi vọng bài viết này có thể góp được một phần, dù nhỏ nhoi, trong chính sách đối ngoại của Nhà Nước đối với Vatican, qua một số thông tin về bản chất, chủ trương của Vatican, và nhất là thực lực của Vatican trên thế giới ngày nay.

Sơ Lược Về Thực Chất Ca-Tô Giáo La Mã Ngày Nay.-

Trước khi nói về thực chất Ca-Tô Giáo La Mã, tôi xin viết vài nét về Việt Nam.   Có thể nói Việt Nam là một nước Phật Giáo vì đa số người dân theo Phật Giáo, cũng như nước Mỹ vẫn tự coi là một nước Ki-tô Giáo (Christian country), vì đa số dân Mỹ (khoảng gần 80%) theo Ki-tô Giáo.  Xin đừng dựa vào những con số thống kê của ngoại quốc về số tín đồ Phật Giáo.    Người Việt theo Phật Giáo không nhất thiết phải Quy Y Tam Bảo, không nhất thiết phải đi Chùa, không nhất thiết phải răm rắp tuân theo những lời phán của các “Trưởng Tử Như Lai”, nhưng thường là trong nhà bao giờ cũng có bàn thờ Phật và bàn thờ Tổ Tiên.  Tuy là một nước Phật Giáo, nhưng ý thức tôn giáo của Việt Nam là một ý thức chiết trung, nghĩa là dung hòa mọi tín ngưỡng.  Do đó tinh thần Tam Giáo (Thích, Nho, Lão) Đồng Nguyên đã là một vết son đậm trong lịch sử tôn giáo của Việt Nam.  Truyền thống văn hóa cao cả này của Việt Nam hoàn toàn đối ngược với những tôn giáo độc thần như Ki-Tô-Giáo, Do Thái Giáo, và Hồi Giáo, những tôn giáo cho rằng con người chỉ có quyền được thờ thần của họ, dù rằng thần của họ chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của người dân miền Trung Đông trong thời kỳ bán khai mà ngày nay đã không còn chỗ đứng trong những xã hội văn minh tân tiến.  Những bằng chứng khoa học ngày nay đã chứng tỏ rõ ràng như vậy hơn bao giờ hết.

Là một nước Phật Giáo, Việt Nam không nên quên rằng, Giáo Hoàng Bê-nê-đít-to XVI hiện thời, trước là Hồng Y Joseph Ratzinger, người đã được thiên hạ tặng cho nhiều biệt danh không lấy gì làm vinh dự  cho lắm: Hồng Y thiết giáp (Panzerkardinal), kẻ ép buộc (tín đồ phải tuân theo luật đã lỗi thời) của Vatican (The Vatican’s Enforcer), the God’s Rottweiler (Rottweiler là một giống chó giữ nhà rất hung tợn), Người canh chừng bảo vệ giáo lý chính thống (The Watchdog of orthodoxy)Đại Phán Quan (The Grand Inquisitor), đã từng lên tiếng phê bình Phật Giáo một cách “rất có đạo đức Ca-Tô”, nếu không muốn nói là “rất có giáo dục Ca-Tô”, là “A Sort Of Spiritual Auto-Eroticism”.  Giáo dục Ca-Tô cũng đã được phản ánh qua lời phê phán của vị giáo hoàng tiền nhiệm, John Paul II, coi các nhà truyền giáo Tin Lành như là các con “chó sói đói mồi, đến gây bất hòa, chia rẽ, và cướp đi tín đồ của ông ta.” [Không hiểu những giáo sĩ thừa sai Ca-Tô đến Việt Nam gây bất hòa chia rẽ trong dân tộc Việt Nam thì là những con gì?].

Việt Nam cũng không nên quên là gần đây, để khích động sự cuồng tín của tín đồ và tái tạo sách lược chống Cộng của Giáo hội Ca-Tô trong thế kỷ trước, Bê-nê-đít-to XVI đã mạnh mẽ lên tiếng lên án chủ thuyết quốc xã cũng như chủ thuyết Cộng sản vô thần.  [Xin đọc bản tin của VietCatholic ngày 19/5/2005: “Linh Mục Đặng Thế Dũng: Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI mạnh mẽ kết án chủ thuyết quốc xã và chủ thuyết cộng sản vô thần.”]  Chúng ta hãy thử tìm hiểu xem những lời lên án mạnh mẽ này có giá trị gì trước thế giới, trong bối cảnh lịch sử thế giới và lịch sử của Ca-Tô Giáo La Mã.  Từ đây chúng ta sẽ đi vào thực chất thế lực của Ca-Tô Giáo La Mã trên thế giới ngày nay.

Trước hết là về lời lên án của Bê-nê-đít-to XVI về chủ thuyết quốc xã.  Xét theo những tài liệu lịch sử thì việc Giáo hoàng lên án chủ thuyết quốc xã Đức hiển nhiên là một hành động bất lương và vô liêm sỉ của vị chủ chăn Ca-Tô Giáo La Mã vì chính Bê-nê-đít-to XVI, khi 14 tuổi đã từng gia nhập đoàn Thiếu Niên Tiền Phong của Hitler (Hitler’s Youth), cho nên báo chí Mỹ và Tây Phương đã đặt thêm cho ông ta một danh hiệu: Nazi Pope, tương đương với danh hiệu Hitler’s Pope đã được đặt cho Giáo hoàng Pius XII. Một trang nhà Ý, Indymedia Italia, đã đăng hình Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI trong bộ quân phục Nazi [An Italian website, Indymedia Italia, has published a photo montage of Pope Benedict XVI dressed in a Nazi uniform]  Theo tài liệu trên Internet thì đoàn Thiếu Niên của Hitler đã đóng một vai trò chính trong sự nổi giậy của đảng Nazi (Hitler’s Youth played a major role in the rise of the Nazi party).  Qua tuyên truyền và áp lực của cùng lứa tuổi, Hitler đã có thể tuyển mộ được 8 triệu trẻ em Đức, gồm một số chỉ mới có 12 tuổi, để tham dự trong “nỗ lực chiến tranh” (the importance of peer pressure and propaganda to Hitler's ability to recruit eight million German children, including some as young as twelve, to participate in the "war effort.")  Sau khi huấn luyện, mỗi đứa trẻ được chính thức nhận vào đoàn qua nghi lễ phát cho một con dao găm trên có khắc hai chữ Máu và Danh Dự (a coveted dagger with its inscription Blood and Honor).  Chủ trương của Hitler, như Hitler thường nói, là đào tạo một lớp trẻ bạo hành năng động, vượt trội, gan dạ, tàn bạo (A violently active, dominating, intrepid, brutal youth). 

Ngoài ra, lịch sử cũng đã chứng minh là Giáo hội Ca-Tô La Mã đã tích cực ủng hộ và liên kết với các chế độ Phát Xít  Đức, Ý, Tây Ban Nha, và Croatia trong Đệ Nhị Thế Chiến.  Thành tích ô nhục của Vatican ủng hộ những tên độc tài khát máu phát xít như Hitler, Mussolini, Franco, Pavelic v..v.. đã quá rõ ràng qua hàng ngàn tài liệu đã được phanh phui và qua một số sách đã xuất bản. Chúng ta có thể đọc Hitler’s Pope Viking/Penguin, 1999, của John Cornwell; The Catholic Church and Nazi Germany, Da Capo Press, 2000, của Guenter Lewy; The Vatican’s Holocaust, Ozark Books, London, 1972, và The Vatican in World Politics, Copyright 1949 by Gaer Associations, Inc., của Avro Manhattan; Genocide in Satellite Croatia: 1941-1945, The American Institute for Balkan Affairs, Chicago, 1961, của Edmond Paris; Unholy Trinity, St. Martin’s Press, 1991, của Mark Aarons và John Loftus; The Catholic Church in World Politics, Princeton University Press, New Jersey, 1987, của Eric O. Hanson; The Politics of the Vatican, Frederick A. Praeger, Publishers, New York, 1968 và The Pope’s Divisions: The Roman Catholic Church Today, Holt, Rinehart and Winston, New York, 1981, của Peter Nichols;  và vô số tài liệu trên Internet để biết rõ hơn về sự ủng hộ và liên kết của Giáo hội Ca-Tô La Mã với các chế độ phát xít.  

Do đó, mười ngàn lời lên án quốc xã hay phát xít của The Nazi Pope cũng không thể tẩy xóa được những vết nhơ của Giáo hội Ca-Tô trong những liên hệ với Phát Xít. Mười ngàn lời lên án Cộng Sản Vô Thần của The God’s Rottweiler cũng không thể xóa bỏ được ảnh hưởng của Cộng Sản trong vấn đề làm Ca-Tô Giáo suy sụp trên thế giới.  Như vậy, thực chất những lời lên án chủ thuyết quốc xã và chủ thuyết Cộng sản vô thần của Bê-nê-đít-to XVI là hoàn toàn vô giá trị, chỉ có tính cách ngụy quân tử và khuyến khích tín đồ Ca-Tô Việt Nam hãy tích cực chống Cộng.

Để cho vấn đề được rõ ràng, sau đây là vài tài liệu điển hình về mối quan hệ của Giáo hội Ca-Tô La Mã với Chủ Thuyết Phát Xít mà Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI “mạnh mẽ lên án” gần đây.  Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong cuốn The Vatican in World Politics của Avro Manhattan:

Ngày 21 tháng 2, 1923, Hồng Y Vannutelli, đứng đầu tập đoàn Hồng Y, đã tỏ lòng thành kính đối với Mussolini (nhà độc tài phát xít Ý) trước quần chúng về “lòng nồng nhiệt dấn thân cho quốc gia và rằng Mussolini đã được Thiên Chúa chọn để cứu nước Ý và khôi phục tài sản quốc gia” [On February 21, 1923, Cardinal Vannutelli, Head of the Sacred College of Cardinals, paid public homage to Mussolini "for his energetic devotion to his country," adding that the Duce "had been chosen by God to save the nation and to restore her fortune."]

Ngày 20 tháng 12, 1926, chính giáo hoàng đã tuyên bố trước “mọi quốc gia” là “Mussolini là người được Thiên Chúa gửi đến” [On December 20, 1926, the Pope himself, declared to “all nations” that "Mussolini is the man sent by Providence."]

Nói tóm lại, Giáo hội Ca-Tô còn hơn là hợp tác với chủ thuyết phát xít trong các trường học, trại huấn luyện, và trong những viện đào tạo đoàn Thiếu Niên Phát Xít,  nơi đây những đứa trẻ phải cám ơn “The Duce = Mussolini” trước mỗi bữa ăn.” Sau đây là những lời điển hình, được viết ra, và được giáo hội chấp thuận và khuyến khích: “Duce (Mussolini), Xin cám ơn Ngài về những gì Ngàì đã cho chúng tôi để chúng tôi lớn lên khỏe mạnh.  Ô Thiên Chúa! Xin Người hãy bảo vệ ông ta để ông ta có thể tồn tại lâu dài vì  nước Ý Phát Xít” [The Catholic Church, after all, was more than co-operating with Fascism in schools, in camps, and in the Fascist Youth Institutions, where children had to say grace before each meal. The following is a typical sample, written, approved, and encouraged by the Church: "Duce, I thank you for what you give me to make me grow healthy and strong…O Lord God, protect the Duce so that he may be long preserved for Fascist Italy]

Chủ thuyết Phát xít và Giáo Hội (Ca-Tô) bắt tay nhau cùng làm trong mọi khía cạnh của cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống của giới trẻ, chúng được nhồi nhét bằng những điều dạy dỗ của tôn giáo và chủ thuyết phát xít.  Để minh họa, chỉ cần nói rằng trong những sách giáo khoa trong các trường tiểu học, một phần ba là những chủ đề về tôn giáo – sách bổn, những bài cầu nguyện v.. v.. – trong khi hai phần ba còn lại là để ca tụng chủ thuyết Phát xít và chiến tranh [Fascism and the Church worked hand in hand during the following two years, when all branches of life, especially youth, were subjected to a double bombardment by religious and Fascist teaching. In illustration, suffice it to say that textbooks in elementary schools had one-third of their space devoted entirely to religious subjects---catechism, prayers, etc.---while the remaining two-thirds consisted of praise for Fascism and war.]

Có thể nào có một sự liên kết chặt chẽ giữa giáo hội và quốc gia hơn là giữa Vatican và chế độ Phát xít không?  [Could there be a closer alliance between Church and State than that between the Vatican and the Fascist regime?]

Nhưng không phải chỉ có những tài liệu thành văn về sự hợp tác của Ca-Tô Giáo La Mã với các chế độ Phát xít trong những cuốn sách nêu trên, mà những kho tài liệu như US Holocaust Museum,  Holocaust Encyclopedia, còn lưu trữ nhiều hình ảnh về sự hợp tác của Ca Tô Giáo với Phát Xít.  Trong bài The Pictures Tell the Tale: The Vatican and Nazism in Germany and Croatia của Jared Israel, Editor, Emperor's Clothes, 22 April 2005, trên Internet chúng ta có thể đọc vài đoạn như sau có kèm theo một số hình chụp mà nội dung đã chứng minh rõ ràng sự hợp tác giữa Vatican và Quốc Xã:

Những bằng chứng chứng tỏ rằng (The evidence shows that):

*a)  Hệ thống quyền lực của Giáo hội Ca-Tô – đặc biệt là Eugenio Pacelli, trước và sau khi trở thành Giáo hoàng Pius XII – đã giúp đỡ Nazis.  Thật vậy, Pacelli đã giữ một vai trò then chốt trong việc tạo nên Hitler, tên độc tài của nước Đức. [The Catholic Church hierarchy - especially Eugenio Pacelli, before and after he became Pope Pius XII - aided the Nazis. Indeed, Pacelli played a key role in making Hitler the dictator of Germany.]

*b)  Giáo hội Ca-Tô đã tích cực trong những phong trào Nazi ngoài nước Đức, đặc biệt trong  vùng Baltic [Yugoslavia] nơi đây Giáo hội giúp quốc gia bù nhìn Nazi Croatia trong việc cai trị.  [Các linh mục dòng Phan-Xi-Cô ở Croatia đã dự phần trong việc tàn sát gồm cắt cổ, thiêu sống hơn 700000 (7 trăm ngàn) dân Chính Thống Serbs và cưỡng bách nhiều người Serbs phải cải đạo vào Ca-Tô Giáo La Mã] Sau cuộc chiến [Đệ Nhị Thế Chiến] Vatican đã chứa dấu những tội phạm chiến tranh Nazi. [The Catholic Church was active in Nazi movements outside Germany especially in the Baltic region and in the Balkans, where it helped run the Nazi puppet State of Croatia. After the war, the Vatican sheltered Nazi war criminals.]  Điều này đã được viết rõ với đầy đủ chi tiết và hình ảnh trong những cuốn The Vatican’s Holocaust của Avro Manhattan Genocide in Satellite Croatia: 1941-1945  của Edmond Paris.  [Xin đọc thêm bài Bối cảnh của chiến dịch ngoại giao qua thực trạng khủng hoảng pháp lý và tài chánh của Vatican của Thường Đức trên Trang Nhà Giao Điểm]

*c)  Sự kiện là Nazis đã dùng biểu tượng của Ki-tô, hoạt động sát cánh với những giáo hội Ki-tô và dựa sự tấn công người Do Thái một phần trên những văn bản Ki-Tô mà người Âu Châu đã quen thuộc.  Vatican không phản đối việc dùng những văn bản này. [The fact is the Nazis used Christian symbolism, worked closely with Christian churches and based their attacks on Jews in part on Christian texts, with which Europeans were familiar. The use of these texts was not attacked  by the Vatican.]

Về những hình ảnh còn lưu trữ trong Holocaust Museum,  Holocaust Encyclopedia, chúng ta có thể thấy vài tấm điển hình [The pictures tell the tale]:

·          -)  Hitler rời nhà thờ Marine ở Wilhelmshaven sau lễ [Hitler leaves the Marine Church in Wilhelmshaven.]  (Điều này chứng tỏ Hitler là một tín đồ Ca-Tô và chưa bao giờ bị Tòa Thánh tuyệt thông.)

·          -)  Hitler cầu nguyện trong một cuộc biểu tình ở Vienna [Hitler praying after a rally in Vienna]

·          -)  Một Hồng Y cùng diễn hành với đoàn quân Nazi Đức  [A Cardinal marches with the German Nazis]

·          -)  Những linh mục duỗi thẳng tay phải lên (hô Heil Hitler) trong một cuộc biểu tình ở sân vận động Berlin-Neukolln, tháng 8, 1933 [Priests give Hitler salute at a Catholic youth rally in the Berlin-Neukolln stadium in August 1933.]

·          -)  Nhà độc tài Ante Pavelic của tổ chức Ustashi ở Croatia cùng với các linh mục dòng Phan-Xi-Cô.  Dòng Phan-Xi-Cô rất tích cực trong công cuộc diệt chủng người Serbs, Do Thái và Gypsies [Croatian Ustashi dictator Ante Pavelic with Franciscan monks.  The Franciscan order was active in the genocide against Serbs, Jews and Gypsies]

·          -) Cưỡng bách dân Serbs cải đạo vào Ca-Tô Giáo (Forced conversion of Serbs to Catholicism).  Trong hình có một đám đông dân Serbs đang ngồi chờ để các linh mục cải đạo.  Những người Ki Tô Chính Thống Serbs từ chối cải đạo thì bị chém giết trong các làng của họ, hoặc trong trại tử thần Jasenovac, hoặc ném xuống vực núi. [The Nazi-like Croatian Ustashi state, set up immediately after the Nazi German invasion of Yugoslavia, was based on fanatical Catholicism. Orthodox Christian Serbs who refused to convert were butchered in their villages, or at the Jasenovac death camp, or thrown into mountain crevices.] 

Sự tàn sát hơn 700000 dân Serbs bởi chế độ Ca-Tô Ustashe ở Croatia đã được Avro Manhattan viết rõ trong cuốn The Vatican’s Holocaust, Ozark Books, Springfield, MO., 1986, dày hơn 200 trang, với rất nhiều hình ảnh về những tội ác của Ustashe với các linh mục dòng Phan-Xi-Cô trong đó.  Những tội ác của chế độ Ca-Tô Ustashe thật quá dã man, khủng khiếp ngoài sức tưởng tượng của con người.  Chúng ta không thể tưởng tượng là những con cái Chúa, được Chúa dạy phải thương yêu người lân cận như chính mình lại có thể độc ác đến mức như vậy.  Sau đây là một số lời ghi dưới những hình ảnh dùng làm tài liệu trong cuốn The Vatican’s Holocaust của Avro Manhattan về sự liên hệ của Vatican với chế độ Ca-Tô Ustashe và những tội ác của chế độ này ở Croatia:

-          Trang 21: Hình Tổng Giám Mục Stepinac, đại diện của Tòa Thánh bên cạnh Quân Đội của chế độ Ustashe, đứng đầu hội đồng giám mục Croatian và Ủy Ban thi hành chính sách cưỡng bức cải đạo (Stepinac was not only the Head of the Council of Croatian Bishops and of the Committee which carried out a policy of forcible conversions, he was none other than the Supreme Military Apostolic Vicar of the Ustashe Army)

-          Trang 23:  Ngày 28 tháng 4, 1941, Stepinac ban lệnh cho giới linh mục ở Croatia ủng hộ quốc gia mới Ustashe, và cảm tạ thiên chúa toàn năng vì đã thiết lập được chế độ độc tài Ustashe (On April 28, 1941, Stepinac issued a Pastoral Letter ordering the Croatian clergy support the new Ustashe State, and thanks to the Almighty for the establishment of the Ustashe dictatorship)

-          Trang 26:  Hình Tổng Giám Mục Stepinac chụp chung với Tướng Roata, chỉ huy lực lượng phát-xít chiếm đóng Nam Tư, Tướng Slavko Kvaternik, Chỉ Huy quân đội Ustashe, và vị Tổng Chỉ Huy lực lượng Đức chiếm đóng Nam Tư (From right to left: Archbishop Stepinac; General Roata, Commander of the Fascist forces of occupation in Yugoslavia; Field Marshal Slavko Kvaternik; and the Commander of the German forces of occupation in Croatia)

-          Trang 27:  Hình Ante Pavelic, người lập lên quốc gia Ca-Tô Croatia và thi hành chính sách khủng bố, chính trị cực đoan, và cuồng tín tôn giáo.  Được sự bao che của Giáo Hoàng Pius XII, người đã giúp hắn ta tài chánh qua đường lối ngoại giao để hắn thực hiện mục tiêu.  Khi chế độ Ustashe sụp đổ, Pavelic trốn trong Vatican rồi giả dạng làm một linh mục, chuồn sang Á Căn Đình (Ante Pavelic, the creator and leader of the independent Catholic State of Croatia.  He employed terrorism, political extremism and religious fanaticism.. He enjoyed the protection of Pope Pius XII, who helped him via diplomatic and monetary to achieve his ultimate objective.   When Ustashe Croatia collapsed, Pavelic hid at the Vatican, then, disguised as a priest, fled to the Argentine)

-          Trang 34:  Hình bản sao tài liệu gốc về luật của Bộ Tư Pháp và Tôn Giáo Croatia, bắt buộc mọi viên chức chính phủ theo Chính Thống phải cải đạo sang Ca-Tô.  Từ chối sẽ bị cất chức ngay, tài sản bị tịch thu, hoặc bị bắt giữ.  Thường là bị cả ba. (A copy of the original document dealing with the conversion to the Catholic Church of all Orthodox persons employed by the Government, issued in Zagreb by the Ministry of Justice and Religion.  Everyone had to be or to become a Catholic.  Refusal meant instant dismissal, loss of property, or arrest.   And, very often, all three.) [Chính quyền Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam đã áp dụng phần nào chính sách dùng người này.]

-          Trang 35:  Hình một cuộc hành quyết tập thể ở Brode bởi Ustashe, đầu năm 1941, dưới sự chứng kiến của binh sĩ Nazi (A mass execution carried out by the Ustashe at Brode, early in 1941.  Nazi troops looking at the victims)

-          Trang 38: Hình một người Serb bị ném sống xuống hố chôn tập thể ở tại tập trung Jasenovac.  Trong thời dưới quyền của một linh mục dòng Franciscan, Linh mục Filipovic, những sự khủng khiếp trong trại này thì tương đương với trại tập trung Dachau (của Nazi). (An Orthodox Serb being thrown alive into a mass grave in the notorious concentration camp of Jasenovac, in 1942.  The camp, when run by the Franciscan Monk, Father Filipovic, equalled in horrors Dachau Concentration Camp)

-          Trang 39:  Hình thây những đứa trẻ chết đói trong trại Jasenovac dưới quyền của linh mục Filipovic.  Theo sự cố vấn của Linh mục D. Juric, Linh mục Filipovic đã để cho trên 2000 (2 ngàn) trẻ em Chính Thống chết đói dưới sự cai quản của ông ta (Corpses of children starved to death in the notorious concentration camp of Jasenovac, whose Commandant was a Franciscan monk, Father Filipovic.  Father Filipovic, following the advice of Father D. Juric, let more than 2000 other Orthodox children die while the camp was still under his rule)

-          Trang 46:  Hình Ustashe cắt cổ một trong số nạn nhân Serb theo Chính Thống.  Hãy để ý có một Ustashi khác cầm cái bát hứng máu để cho máu khỏi bắn ra làm nhơ quân phục.  Tội ác tàn bạo này – một trong nhiều tội ác khác – xảy ra gần Cajnice, năm 1943 (Ustashi cutting the throat of one of their Serbisn Orthodox victims.  Notice a Ustashi is holding a vessel to collect the first spurt of blood and thus prevent their uniform from being blood stained.  The brutal crime – one of many – took place near Cajnice in 1943.)

-          Trang 50, 51, và 53:  Hình những người Serbs bị Ustashi treo cổ tập thể.

-          Trang 67, 68, và 69:  Hình các linh mục làm lễ cải đạo đám đông dân Serbs.  Avro Manhattan viết: Các linh mục Công Giáo không ngần ngại thủ tiêu những người chống lại lệnh cải đạo.  Linh mục Dragutin Kamber, một linh mục dòng Tên, ra lệnh giết 300 người Serbs Orthodox ở Doboj.  Linh mục Branimir Zupanic, ra lệnh giết hơn 400 người trong một làng: Ragolje.  Linh mục Srecko Peric, hô hào giết người tập thể như sau: ‘Hãy giết hết dân Serbs.  Và khi giết xong hãy tới đây, vào nhà thờ, Ta sẽ nghe lời xưng tội và tha tội cho cho các con” Vì những lời này mà trên 5600 dân Serbs Orthodox bị giết ở quận Livno. (Father Dragutin Kamber, a Jesuit priest, ordered the killing of 300 Orthodox Serbs in Doboj.  Father Branimir Zupanic, had more than 400 people killed in one village alone: Ragolje.  Father Srecko Peric advocated mass murder with the following words: “Kill all Serbs.   And when you finish come here, to the Church, and I will confess you and free you from sin”.  This resulted in a massacre, on August 10, 1941, during which over 5600 Orthodox Serbs in the district of Livno lost their lives)

Trên đây chỉ là một phần những hình ảnh điển hình trong 7 chương đầu của cuốn The Vatican’s Holocaust, gồm tất cả 24 chương.  Trong cuốn sách còn có rất nhiều hình ảnh khác về sự liên hệ của Vatican với chế độ Ustashe và về những tội ác của những người Ca-Tô Croatia, gồm cả các giám mục và linh mục, những hình ảnh rùng rợn không thể tưởng tượng được.  Đặc biệt là Avro Manhattan viết chương 23 với đầu đề: VIETNAM: THE CROATIA OF ASIA.  So sánh chế độ Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam với chế độ Ustashe ở Croatia là một sự so sánh quá mức.  Nhưng tác giả chỉ muốn nói lên một điều là bất cứ ở đâu mà Ca-Tô Giáo lên cầm quyền thì ở đó sẽ xảy ra chuyện kỳ thị tôn giáo và cưỡng bách cải đạo.  Chính quyền Ngô Đình Diệm không đến nỗi tàn bạo như chế độ Ustashi, nhưng trong 9 năm dưới triều Công Giáo Ngô Đình Diệm, không phải là không có chuyện ép buộc cải đạo, giết người ngoại đạo, vu khống là Việt Cộng để chiếm đoạt tài sản, và các tổng giám mục, giám mục, linh mục Công Giáo tự tung tự tác, tác oai tác quái, cướp đất của dân, độc quyền kinh tế v..v...  

Trước những bằng chứng lịch sử bằng văn và bằng hình ảnh rõ ràng như trên mà ngày nay Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI lại lên án chủ thuyết quốc xã thì những lời lên án đó có giá trị gì.  Ông ta không thể không biết đến những liên hệ của Giáo Hội Ca-Tô với những chế độ Phát xít Đức, Ý, và những lời lên án của ông đã quật ngược lại Giáo hội Ca-Tô La Mã, chứng tỏ đó chỉ là một hành động vô liêm sỉ và đạo đức giả, đưa bộ mặt thánh thiện giả tạo của chính ông và giáo hội mà ông đứng đầu.  Nhưng những hành động  vô liêm sỉ và đạo đức giả như vậy chỉ có thể lừa bịp được đám tín đồ ngu ngơ như Linh Mục Đặng Thế Dũng chứ không thể lừa bịp được ai khác.

Thật ra, sự vô liêm sỉ và đạo đức giả của Bê-nê-đít-to XVI trong việc lên án quốc xã chỉ là đi theo vết chân của Giáo hoàng Pius XII, Hitler’s Pope.  Chúng ta biết rằng John Cornwell đã xuất bản cuốn Hitler’s Pope: The Secret History of Pius XII  năm 1999 dựa theo những hồ sơ mật của Vatican mà ông được phép tham khảo, và những nguồn tài liệu của Đức về những hoạt động của Pius XII ở Đức trong những thập niên 1920, 1930 kể cả những cuộc thương thuyết của ông ta với Hitler trong năm 1933 [ Two key officials granted me access to secret material: depositions under oath gathered 30 years ago to support the process for Pacelli's canonization, and the archive of the Vatican Secretariat of State, the foreign office of the Holy See. I also drew on German sources relating to Pacelli's activities in Germany during the 1920s and 1930s, including his dealings with Adolph Hitler in 1933.] Với hàng ngàn tài liệu tham khảo, John Cornwell đã thấy những gì?  Chúng ta hãy nghe ông mô tả trong một đoạn ngắn.:

“Những bằng chứng nổ tung như bom.  Lần đầu tiên chúng chứng tỏ Pacelli (tức giáo hoàng Pius XII) là người chống Do Thái có môn bài, qua chính những lời nói của ông ta.  Chúng phanh phui ra rằng ông ta đã giúp Hitler lên nắm quyền lực và cùng lúc phá ngầm khả năng chống đối của Ca-Tô ở Đức.  Chúng chứng tỏ ông ta đã phủ nhận và tầm thường hóa Holocaust, tuy rằng ông ta đã có những hiểu biết đáng tin cậy về mức độ của Holocaust.  Và, tệ hơn nữa, ông ta là một tên đạo đức giả, vì sau chiến tranh ông ta đã vơ vào mình công lao thái quá là trong quá khứ ông ta đã nói thẳng ra để chống sự bạo hành của Nazi.”  [The evidence was explosive. It showed for the first time that Pacelli was patently, and by the proof of his own words, anti-Jewish. It revealed that he had helped Hitler to power and at the same time undermined potential Catholic resistance in Germany. It showed that he had implicitly denied and trivialized the Holocaust, despite having reliable knowledge of its true extent. And, worse, that he was a hypocrite, for after the war he had retrospectively taken undue credit for speaking out boldly against the Nazis’ persecution.]

Đạo đức của các vị chủ chăn Ca-Tô thường là như vậy, cho nên ngày nay chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI, nguyên là một phần tử trong đoàn Thiếu Niên Tiền Phong của Hitler, lên án quốc xã.

Bây giờ đến vấn đề Bê-nê-đít-to XVI lên án Cộng Sản Vô Thần. Có lẽ vì suốt đời sống trong cái “bóng tối dày đặc của ý thức hệ La Mã” (Dr. Barnado: In the thick darkness of Romanism) cho nên Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI không hề được học rằng, giữa thế kỷ 18,   nhà Đại Văn Hào Pháp Voltaire đã nhận định: “vô thần là thói xấu của một số ít những người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people) để đối chiếu với  số đông những người “hữu thần” ngu dốt tin nhảm tin nhí vào một thần trong thời đó ở Âu Châu, tuyệt đại đa số là tín đồ Ki-Tô Giáo.

Nhưng có vẻ như đám người ngu dốt này, qua sự bành trướng của Ca-Tô Giáo, không chỉ giới hạn ở Âu Châu, không tiến bộ được chút nào trải qua đã vài thế kỷ, cho nên chúng ta vẫn thấy họ dùng những từ như “Cộng sản vô thần” tràn ngập trên Internet, hầu hết từ phía những người Ca-Tô Việt Nam, hàm ý “vô thần” là một cái gì xấu xa, vì không chịu tin nhảm tin nhí vào thần của họ.  Thật là tội nghiệp cho họ.  Họ có biết đâu “vô thần” là biểu hiện của tự hào, của danh dự, của sự tiến bộ trí thức, và “vô thần” đã có trong suốt giòng lịch sử của nhân loại, trong khi Cộng Sản mới chỉ thành hình vào đầu thế kỷ 20. Tại sao họ lại ngu đần và mù quáng đến độ ngày nay còn dùng đến chiêu bài “Cộng sản vô thần” như vậy?  Vì họ đã bị những tôn giáo độc thần làm tê liệt đầu óc, khiến cho họ suốt đời phải bám víu vào một vị thần tưởng tượng do tôn giáo đó bày đặt ra, như bám víu vào một cặp nạng để lê lết trên trường đời. 

Họ là những người mù nhưng lại muốn dẫn đường cho những kẻ sáng.  Họ là những người què quặt nhưng lại muốn phát cho những người lành lặn mỗi người một cặp nạng.  Họ được dạy vô thần là chống thần của họ, cho nên với bất cứ giá nào, họ phải chống những người “vô thần” để duy trì sự mù quáng và những cặp nạng của họ.  Họ không thể hiểu được rằng, đối với những người vô thần thì thần của Ki-Tô Giáo cũng như lông rùa, sừng thỏ, không thể có, không thể hiện hữu, cho nên chống cái không có, không hiện hữu, là một chuyện phi lý, không có mấy ai có đầu óc đi làm chuyện phi lý đó.  Đọc danh sách những người “vô thần” chúng ta thấy hầu hết đều là những danh nhân trí thức trên thế giới, trong khi đọc danh sách những giáo hoàng Ca-Tô, những người “hữu thần” nặng ký nhất, chúng ta thấy không thiếu gì những kẻ ngu dốt, ác độc, giết người, loạn luân, phạm đủ mọi thứ tội ác thế gian.  Vậy “vô thần” hơn hay là “hữu thần” hơn.   Những cuộc thánh chiến tôn giáo, những tòa án xử dị giáo, những cuộc tra tấn nơi hình ngục, những cuộc thiêu sống con người, những cuộc săn lùng phù thủy, những cuộc chiếm đất diệt chủng của Ki-Tô Giáo, hai cuộc thế chiến vào thế kỷ 20 v..v.., là do “vô thần” hay “hữu thần” gây ra?  Bê-nê-đít-to XVI có biết đến lịch sử đẫm máu của chính giáo hội Ca-Tô La Mã không?  Vậy lấy tư cách gì để mà lên tiếng kết án chủ thuyết Cộng Sản vô thần?  Nhưng mà tại sao?

Giáo hoàng lên án chủ thuyết Cộng Sản Vô Thần là điều tất nhiên vì Ca-Tô Giáo vốn không đội trời chung với Cộng Sản, một ý thức hệ đối nghịch với ý thức hệ Ca-Tô và đã đưa Ca-Tô Giáo vào một bước ngoặt lịch sử trên con đường suy thoái. Hiện tượng suy thoái của Ca-Tô Giáo La Mã trên khắp thế giới, nhất là ở Tây Phương, cái nôi của Ca-Tô Giáo trước đây, đã là điều hiển nhiên đối với những người để tâm tìm hiểu. Vì vậy, Ca-Tô Giáo đang có nỗ lực cải đạo Á Châu, một lục địa đông dân và tài nguyên phong phú, nơi đây đám đông quần chúng còn nghèo và không có cơ hội học hỏi tìm hiểu để mở mang trí tuệ, để có cùng trình độ hiểu biết và suy luận về tôn giáo như đa số người dân Tây Phương, cho nên dễ bị mê hoặc bởi những mồi vật chất nhỏ nhoi và bởi những điều mê tín hoang đường đã không còn chỗ đứng ở Tây Phương.  Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan v..v.. là những miền đất tốt để cho Ca-Tô Giáo thực hiện âm mưu mang đồ phế thải ở Âu Mỹ  tới trồng cấy đàng sau chiêu bài cải đạo Á Châu, với hi vọng có thể xóa bỏ nền văn hóa Đông Phương, biến con người thành những đàn chiên, tuyệt đối tuân phục Vatican như những tín đồ trong thời Trung Cổ trước đây. 

Những điều trên không phải là những suy đoán vu vơ mà đã là những sự kiện mà chính Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI cũng phải thú nhận gần đây.  Theo những tin tức trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7, 2005, thì Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI đã lên tiếng phàn nàn như sau:

-           “Những tôn giáo chủ đạo Tây Phương có vẻ đang chết dần vì các xã hội càng ngày càng trở nên thế tục và không còn cần đến Thiên Chúa nữa” [Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God].

-           “Trong khi đức tin ở các nước đang phát triển đang lên thì ở Tây Phương lại khác, một thế giới chán ngấy với chính nền văn hóa của mình [Thật ra Tây Phương chán ngấy nền văn hóa Ki Tô Giáo chứ không phải là nền văn hóa Tây Phương, Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI đã nhập nhằng đánh đồng nền văn hóa Tây Phương, một nền văn hóa thiên về suy lý sáng tạo, với nền văn hóa Ki-Tô Giáo, một nền văn hóa thiên về một đức tin mù quáng. TCN] nơi đây không còn bằng chứng về một sự cần đến Thiên Chúa, và ngay cả sự cần đến đấng Ki-Tô lại còn ít hơn nữa ” [It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there's no longer evidence for a need of God, even less of Christ].

-           “Trong một số quốc gia tiến bộ có khi chỉ có 5% giáo dân đi xem lễ ngày Chủ Nhật” [Participation at Sunday Mass in some developed countries was as low as 5 percent.]

-           “Bê-nê-đít-to cũng tỏ ra rầu rĩ về vấn đề những tín đồ Ca-Tô ly dị đã tái hôn mà không cần đến phép hủy hôn của Giáo hội.  Ông ta khẳng định lại là những người này không thể được hưởng bí tích ăn bánh thánh nhưng nhấn mạnh là họ nên nghĩ rằng họ vẫn còn ở trong giáo hội.” [Benedict also expressed sadness at the plight of divorced Roman Catholics who remarry without getting an annulment, reaffirming that they cannot receive Communion but streessing they should feel they still belong to the church.]

-           Bê-nê-đít-to nói: Sự “vui mừng” về số lượng các linh mục gia tăng trong các nước đang phát triển thì kèm theo một “sự cay đắng hiển nhiên” vì một số các linh mục tương lai chỉ theo đuổi một đời sống tốt đẹp hơn. [Đồng nghĩa với “theo đạo có gạo mà ăn”] Trở thành linh mục, là họ trở thành như một ông tù trưởng, đương nhiên được hưởng sự ưu đãi và có một lối sống khác. [Benedict said the "joy" at the growing numbers of churchmen in the developing world is accompanied by "a certain bitterness" because some would be priests were only looking for a better life."Becoming a priest, they become almost like a head of a tribe, they are naturally privileged and have another type of life.]  (Điều này thật đúng vì thống kê cho biết đa số chủng sinh vào nghề linh mục ở Mỹ hiện nay là gốc Mễ và gốc Mít, chẳng phải là vì “ơn kêu gọi” của Thiên Chúa mà vì ông Washington trên những tấm giấy xanh gọi. Báo Chicago Tribune ngày 11 tháng 12, 2005 đăng mẩu tin: “Vào thời điểm mà có ít tín đồ Ca-Tô Mỹ biểu lộ sự thích thú vào nghề linh mục, những người Mỹ gốc Việt  là một sự bất thường.  Họ là khối thiểu số lớn thứ nhì trong các trường dòng, chỉ hơi ít hơn những người Mễ, trong đó có một số người già, như Trinh Quang Le, đã 51 tuổi” [At a time when fewer American Catholics are expressing interest in the priesthood, Vietnamese-American men are an anomaly.  They are the second-largest minority ethnic group in seminaries, only slightly behind Hispanics.  There are a few older seminatians, like Trinh Quang Le, 51…]. TCN).  Lẽ dĩ nhiên những người Mỹ gốc Việt này xuất thân từ những gia đình có truyền thống Bùi Chu - Phát Diệm – Hố Nai – Gia Kiệm và những chuyên viên “bảy nghề”.

Những lo ngại của Bê-nê-đít-to XVI không phải là vô căn cứ vì tình hình Ca-Tô Giáo ở Âu Châu đang suy thoái một cách thê thảm.  Ngày nay Vatican chỉ còn dựa trên đám tín đồ thấp kém, hơn 70% thuộc thế giới thứ ba và một vài ốc đảo ngu dốt ở Á Đông, nơi đây tổng số tín đồ chỉ chiếm nhiều nhất là 2% dân số Á Đông.  Đây chính là thực lực thực sự của Ca-Tô Giáo La Mã.  Nhưng bộ máy tuyên truyền của Vatican với sự phụ họa của đám con chiên nô lệ vẫn cố sức đưa ra những hình ảnh hào nhoáng không thực về thực lực của Vatican.

Thật vậy, tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo La Mã nói riêng, ở phương trời Âu Mỹ là một tình trạng đã rõ rệt, không ai có thể phủ nhận.  Một vài tài liệu với vài con số thống kê sau đây có thể cho chúng ta thấy rõ hiện tượng này.  Trong cuốn Những Nhà Đi Truyền Giáo (Missionaries) của Julian Pettifer và Richard Bradley, cuốn sách dựa trên một chương trình TV  6 kỳ của đài BBC, nội dung nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của Ki Tô Giáo nói chung trên thế giới, chúng ta có thể đọc được vài sự kiện như sau:

 Trang 242:  Âu châu đã trở thành “một mối bối rối, lúng túng cho Ki Tô Giáo”, một lục địa mà nhà thần học Đức Kierkegaard đã gọi là lục địa của những “người ngoại giáo đã được rửa tội”.  Nói ngắn gọn, Âu châu, trong nhiều thế kỷ là cái nôi của chương trình truyền giáo Ki Tô đi khắp nơi, nay chính nó lại đã trở thành nơi cần phải được truyền giáo.. Một số người nói rằng đây là một lục địa “hậu-Ki-Tô”.

   Theo Floyd McClung (một nhà truyền giáo Ki Tô) thì: Người ta e rằng nếu Âu châu cứ tiếp tục quay lưng lại Thượng đế thì sẽ có ngày Thượng đế sẽ quay lưng lại Âu Châu. [Nếu có một Thượng đế].

   Những nhà truyền giáo ngày nay tin rằng Âu Châu hiện ở trong nguy cơ bị lún sâu trong làn sóng thủy triều của chủ nghĩa thế tục.  Họ cực lực phủ nhận đó là định mệnh tối hậu không thể tránh được của các quốc gia theo Ki Tô Giáo.

   (Europe had become “an embarrassement to Christianity”, a continent of what the German theologian Kierkegaard called “baptised pagans”.  In short, Europe, for centuries the craddle of Christian Mission, had itself become a mission field… Some say it is a “post-Christian” continent.

   For Floyd McClung: there is a fear that if Europe continues to turn its back on God, the time may come when God will turn His back on Europe.

   The missionaries believe that Europe is in danger of being swamped by a tidal wave of secularism.  They vigorously deny that this is the inevitable and ultimate destiny for all Christian nations..)

 Trang 244: Ở Anh Quốc: Tình trạng vô Thượng đế ở Anh được coi như là một sự truyền nhiễm trong giới lao động ở đô thị.  Tuy rằng có những biệt lệ đáng kể, giới trung lưu vẫn còn là những người, nếu không phải là sợ Thượng đế thì ít nhất cũng là những kẻ tiếp tục đi lễ nhà thờ... Hình ảnh này đã hoàn toàn thay đổi.  Sự truyền nhiễm đã tràn vào giới trung lưu sống ở ngoại thành, và ngay cả mạch sống của giáo hội, những giáo xứ  ở miền quê, cũng đã bị nhiễm độc.  Trong cuộc kiểm tra về ngày chủ nhật năm 1851, vào khoảng 40% dân chúng đi lễ nhà thờ.  Một thế kỷ sau, 1951, số người đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật vào khoảng gần 10%.

   Các nhà thống kê tranh cãi nhau về số tín đồ Ki Tô thuần thành ở Anh thấp như thế nào.  Một số người cho rằng số người thường xuyên đi lễ nhà thờ chỉ là 4%.  Tới năm 1986, 1/5 số 2870 nhà thờ Tin Lành ở Luân Đôn chỉ có cộng đồng tín đồ dưới 25 tín đồ; 3/4  có dưới 100 tín đồ..  Nhà thờ trên khắp nước Anh bị bỏ hoang vắng.  Đặc biệt là ở Luân Đôn, sự biến cải nhà thờ thành một cơ sở khác là một dịch vụ kiếm lời lớn.  Những đèn nhấp nháy để nhảy Disco soi sáng những khung cửa kính màu của một nhà thờ chính ở Luân Đôn, nhà thờ này đuọc đặt tên lại là Hộp Đêm Ánh Sáng; ở Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing và Highgate, những nhà phát triển địa ốc đã biến những nhà thờ từ thời Victoria thành những căn nhà ở cho thuê; ở Wales, giáo phái Trưởng Lão Tin Lành (Bresbyterian) biến cải 300 nhà thờ thành những nhà ở cho những cặp vợ chồng trẻ đang trong cảnh khó khăn để mua được một căn nhà đầu tiên.   Ở nhiều nơi khác, nhà thờ được dùng làm kho bán hạ giá bàn ghế tủ giường thảm, và làm tiệm ăn.

   Tuy nhiên sự quan tâm về tình trạng suy sụp tâm linh ở Anh chẳng có nghĩa lý gì khi so sánh với Pháp.  Theo nhà truyền giáo (Tin Lành) Mỹ David Barnes, mặc dù Pháp có một nền văn hóa phong phú,  dân Pháp cũng “không biết đến Thượng đế như là những thổ dân thiếu văn minh ở trong những lục địa tối tăm nhất trên thế giới.”  Trong số 54 triệu dân, chỉ có 0.22% theo Tin Lành.  Tuy rằng 94% dân chúng được rửa tội theo Ca-Tô giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ ngày chủ nhật.  Dù rằng Pháp chịu ảnh huỏng rất lớn của Ca-Tô giáo, Hội Truyền Giáo Đến Các Nơi Chưa Biết Đến Phúc Âm tuyên bố Pháp là miền đất phải được truyền giáo.

   (In Britain: Godlessness in Britain was presumed to be a contagion confined to the urban working classes.  Although there were notable exceptions, the middle classes remained, if not God- fearing, then at least church-going folk…The picture had completely changed.  The disease had spilled into middle-classes suburbia and even the life-blood of the church, the rural parishes, had been infected.  On census Sunday in 1851, some 40% of the population went to church.  A century later, in 1951, it was nearer 10%.

   The statisticians quibble about how just low the figures are for practising Christians in Britain.  Some argue that consistent church attendance is as low as 4%.  By 1986, a fifth of London’s 2870 Protestant churches had congregations of less than 25; ¾ had less than 100 members… Churches all over Britain lie abandoned and derelict.  In London particularly, church conversion has become big business.  Disco lights illuminate the stained-glass windows of one central London church, renamed the Limelight Nightclub; in Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing and Highgate, developers have turned Victorian churches into exclusive apartments; ..In Wales, the Bresbyterian Church is converting 300 churches into homes for young married couples struggling to buy a first house.  Elsewhere, churches are being used as furniture warehouse, carpet disount stores and restaurants.

   But concerns over Britain’s spiritual welfare is nothing compared to that over France.  According to the American missionary David Barnes, despite the richness of their culture, the French “are as ignorant of the things of God as the uncivilised natives of one of the world’s darkest continents”.  A mere 0.22% of France’s 54 million population are evangelical Protestants.  Although 94% are baptised Catholics, a mere 2% regularly attend church.  Despite the huge influence of the Catholic Church, the Unevangelised Fields Mission (UFM) have declared France a mission field.).

Ở Mỹ, tình trạng Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, cũng không sáng sủa gì hơn.  Đức tin Ca-tô càng ngày càng suy giảm, linh mục và giáo dân bỏ đạo hàng loạt, các “bí tích” trở thành mất ý nghĩa, do đó giáo dân không chịu đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật.  Trong nhà thờ ngày chủ nhật chúng ta thấy phần lớn là những bộ mặt già nua và những giáo dân Mít, Mễ, và gốc Phi Châu.  60% tín đồ của hệ phái Tin Lành lớn nhất United Methodist trên 50 tuổi. Một số nhà thờ, Ca-tô cũng như Tin Lành, được rao bán để người mua muốn sử dụng làm gì thì làm, có nhiều trường hợp nhà thờ nay biến thành chùa.  Nhiều trường học Ca-tô ở các địa phương đóng cửa vì không có học trò và không đủ tài chánh để tiếp tục hoạt động.  Nhưng các giáo xứ vẫn có tiền bồi thường, thường là lên đến hàng triệu đô-la, cho các nạn nhân của các linh mục can tội loạn dâm.

 Năm 1990, linh mục David Rice dòng Đô-Mi-Nic xuất bản cuốn Lời Nguyện Tan Vỡ: Linh Mục Bỏ Đạo (Shattered Vows: Priests Who Leave), đưa ra kết quả nghiên cứu của ông sau khi đi khắp nơi tổng cộng 38 ngàn dặm (khoảng 60 ngàn cây số) để phỏng vấn và tìm hiểu đời sống của các linh mục bỏ đạo:

 Một trăm ngàn ( 100000 ) linh mục Ca-tô Rô-ma đã bỏ đạo trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn một linh mục ra đi.  Hầu như phân nửa số linh mục Mỹ sẽ bỏ đạo – thường là để lập gia đình – chưa tới 25 năm sau khi được tấn phong.   Vatican không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc khủng khoảng nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể từ khi có cuộc Cải Cách tin Lành.

 (100000 Roman Catholic priests have walked out in the last 20 years – more than one every two hours.  Almost half of all American priests will leave – most often, to marry – before the 25th anniversary of their ordination.  The Vatican won’t talk about this exodus, yet it is the most grievous crisis to face the Church since the Protestant Reformation)

John Cornwell, một tín đồ Ca Tô và cũng là một chuyên gia về Ca Tô Giáo và Vatican, tác giả 2 cuốn sách nổi tiếng về Vatican: A Thief in the NightHitler’s Pope, đã viết thêm một tác phẩm về Ca Tô giáo nhan đề Từ Bỏ Đức Tin: Giáo Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Ca Tô  Giáo (Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of Catholicism), xuất bản  năm 2001,  trong đó chương đầu viết về Một Thời Đại Đen Tối Của Ca Tô Giáo (A Catholic Dark Age).  Trong chương này, tác giả John Cornwell đưa ra tình trạng suy thoái trầm trọng của Ca Tô giáo ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Anh, Mỹ, và Pháp.  Số tín đồ mang con đi làm lễ rửa tội giảm sút, vì ngày nay người ta nhận thức được rằng chẳng làm gì có tội ở đâu mà phải đi rửa; đám cưới tổ chức không cần đến  linh mục,  vì hôn phối có thể hợp thức hóa ngoài nhà thờ và bí tích hôn phối đã mất hết ý nghĩa; giới trẻ không buồn đến nhà thờ, vì chẳng thấy gì hấp dẫn trong những lời giảng đi ngược thời gian của các linh mục; số từ bỏ đức tin gia tăng, vì người ta không còn chịu chấp nhận một đức tin mù quáng; từ 1958 đến nay, số vào nghề linh mục giảm đi 2/3 v..v..  [Vatican vớt vát được một phần bằng cách tuyển mộ được một số linh mục Mít và Mễ] Tình trạng ở Châu Âu, trước đây là cái nôi của Ca Tô giáo,  thật là thê thảm.  Ở Tây Âu (Western Europe), từ 30 đến 50% các giáo xứ không có linh mục.  Ở Ý, 90% theo Ca Tô giáo nhưng chỉ có 25% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, giảm 10% kể từ đầu thập niên 1980, số người vào học trường Dòng giảm một nửa.   Ở Ái Nhĩ Lan (Ireland), xứ Ca Tô, số người cảm thấy mình được ơn kêu gọi tụt xuống từ 750 năm 1970 còn 91 năm 1999, số linh mục được tấn phong từ 259 xuống 43 trong cùng thời gian.  Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đã quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.)   Ở Nam Mỹ, tình trạng cũng không khá hơn.  7000 tín đồ mới có một linh mục.  Chỉ có 15% giáo dân đi xem lễ ngày chủ nhật.  Theo một hội nghị quốc gia của các giám mục Ba Tây thì mỗi năm có khoảng   sáu trăm ngàn tín đồ bỏ đạo (according to the National Conference of Brazilian Bishops, some 600000 Catholics leave the Church each year.)

   Âu Châu và nhiều nơi khác trên thế giới đã trở thành “vô thần”.  Đây là một hiện tượng bất khả đảo ngược vì nó phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại nằm trong luật Tiến Hóa của vũ trụ.

   Tình trạng Ki Tô Giáo suy thoái ở Âu Châu là một nghịch lý, vì Ki Tô Giáo vẫn tự nhận là một tôn giáo văn minh tiến bộ nhất, và những xã hội Âu Mỹ hiển nhiên là những xã hội văn minh tiến bộ nhất.  Nghịch lý này cho chúng ta thấy rõ thực chất của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô giáo nói riêng.  Nghịch lý trên cũng đưa ra một sự thật: luận điệu của các thừa sai Ca-Tô khi đến nước ta vào những thế kỷ 17- 19, nói là để văn minh hóa những dân tộc mọi rợ, điều mà các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, kể cả những người được gọi là trí thức, vẫn tin là như vậy cho đến ngày nay (Xin đọc Kinh Nhựt Khóa của Công Giáo: “Ông thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e là lịnh rao truyền tiếng đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.”, hoặc cuốn  “2000 Năm Một Thuở:  Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo” do nhóm Tin Nhà ở Pháp mời gọi một số trí thức Ca Tô viết và xuất bản năm 2000, tác giả Nguyễn Tiến Cảnh, viết ở trang 44: "Ai cũng biết hàng giáo sĩ công giáo là lớp người đi tiên phong về văn hóa, mang văn minh tiến bộ đến các nơi tăm tối lạc hậu"), thật ra chỉ là những luận điệu huênh hoang ngu đần cuồng tín, mang sự hoang đường mê tín đến đầu độc đám dân chúng cùng đinh đần độn ở Việt Nam, nơi đây các tôn giáo Á Đông thực sự đã vượt xa Ki Tô Giáo về mọi phương diện, điều mà ngày nay thế giới Tây phương đang phải chấp nhận.  Thời gian qua, với sự tiến bộ trí thức không ngừng của nhân loại, ngày nay bộ mặt thật của Ki Tô Giáo đã bị phơi bầy, và chính ở trong những cái nôi của Ki Tô Giáo ở phương trời Âu Mỹ, Ki Tô Giáo đang tuột dốc theo luật đào thải của con người văn minh tiến bộ. 

Tại sao trong những xã hội Âu Mỹ lại xảy ra hiện tượng giải trừ Ki Tô Giáo (de-Christianization) và người dân lại đang từ từ bỏ Ki Tô Giáo?  Chẳng có gì là khó hiểu, vì như là một qui luật thế gian, sự tiến bộ trí thức của con người và đời sống vật chất thoải mái trong những xã hội này tất nhiên phải đưa đến tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo. 

 Thật vậy, nữ học giả Ca-tô Joane H. Meehl, người mà sau khi đã thấy rõ chủ đích và những việc làm của giáo hội Ca Tô từ thế kỷ 4 tới nay, đã viết trong cuốn "Người Tín Đồ Ca Tô Tỉnh Ngộ" (The Recovering Catholic), trg. 288, như sau:

  "Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt.  Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí) và đời sống kinh tế thoải mái" (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant.  It is overcome by education and economic well-being).

 Trừ lớp tín đồ thấp kém trong Ca-Tô Giáo La Mã  vẫn tin rằng mình ở trong một “hội thánh”, “tông truyền”, “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện” v..v.., những thuộc tính tự nhận của giáo hội, thế giới Âu Mỹ tiến bộ ngày nay đã nhận ra bộ mặt thật của Ca-Tô Giáo La Mã.  Tài liệu về bộ mặt thật này, kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về tôn giáo ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, hiện nay có đầy dãy trong các thư viện và tiệm sách lớn và trên Internet.  Giáo hội đã mất đi quyền lực ngăn chận những tác phẩm này như khi xưa giáo hội đã làm.  Dân trí mở mang, sự thật được phơi bày, và giới chăn chiên trong giáo hội chỉ còn có cách khuyên các con chiên không nên đọc những tác phẩm mà họ quy kết là “chống Ca-Tô” tuy rằng những tác phẩm này chỉ đưa ra những sự thật lịch sử về Ca-Tô Giáo, những sự thật mà giới chăn chiên không bao giờ muốn cho các con chiên của mình biết đến.

Nhưng tiến hóa là một định luật thiên nhiên, cho nên không có cách nào giáo hội có thể ngăn cản được những bước tiến trí thức của nhân loại.  Do đó sự tiến bộ trí thức của nhân loại tất nhiên sẽ phải đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca Tô Giáo nói riêng, bởi vì căn bản tín ngưỡng Ki Tô Giáo đã không còn chỗ đứng trước những công cuộc khảo cứu trí thức về cuốn Thánh Kinh Ki Tô Giáo, về nhân vật Giê-su, về các tín điều hay huyền thoại trong Ki Tô Giáo, và trước những thành quả của khoa học ngày nay về nguồn gốc con người và vũ trụ. 

Thật là đáng buồn, trong khi đạo Ca-Tô suy thoái ở Tây Phương như vậy, thì có lẽ vì “cái khó nó bó cái khôn”, nên một số người ở trong những hoàn cảnh khó khăn về kinh tế ở Đông phương, và thiếu khả năng ở Tây Phương, lại lao đầu vào vòng nô lệ tôn giáo, chạy theo một sản phẩm hầu như đã bị phế thải ở nơi chính nó đã sản xuất ra, nhưng vẫn hãnh diện tự khoe rằng mình đã được “ơn kêu gọi” để che đậy động cơ vật chất đã khiến mình bước vào nghề linh mục.  Chúng ta cũng biết Giáo hội Ca-Tô La Mã đang bị khủng khoảng về nạn thiếu hụt linh mục nên đã bắt buộc phải hạ thấp tiêu chuẩn tuyển chọn và đã chọn cả những người Tin Lành có vợ cải đạo sang Ca-Tô Giáo và những người đã nhiều tuổi.  Nhà Nước Việt Nam nên nắm vững những sự kiện về Ca-Tô Giáo để có thể định ra một đường hướng ngoại giao thích đáng với Vatican, tuyệt đối không nên để cho Vatican có cơ hội mang đồ phế thải ở Âu Châu vào làm ô nhiễm đất nước Việt Nam và có những thái độ trịch thượng coi thường chủ quyền Việt Nam.  Vatican ngày nay chỉ còn lớp sơn phết bên ngoài, che dấu một khối mọt rỗng ở đàng sau, nhưng luôn luôn vẫn dùng lớp sơn phết này với hậu thuẫn của đám tín đồ thấp kém cuồng tín để lòe thiên hạ và đẩy mạnh những mưu toan bành trướng của mình nơi miền đất mới: Á Châu.

Thực ra, kết hợp Vô Thần với Cộng Sản là một thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc xảo quyệt mà Ki Tô Giáo nói chung, đặc biệt là đạo Ca-Tô La Mã, dùng để gây hận thù tôn giáo, mê hoặc đám tín đồ thấp kém mê tín và cuồng tín, trong sách lược chống Cộng trước đây. Marx đã nhân danh vị thần theo định nghĩa của Ki-Tô Giáo để bác bỏ vai trò của thần trong xã hội loài người.  Điều này đưa đến sự suy sụp về ý thức hệ của Ki-Tô Giáo kéo theo sự suy sụp của nguồn lợi kinh tế mà Giáo hội có thể vơ vét được từ những sự đóng góp của đám tín đồ cuồng tín, có đầu mà không có óc, tin tưởng rằng mình đã đóng tiền “để cho đức Thánh Cha làm việc thiện”.  Do đó, không lạ gì, Ca-Tô Giáo La Mã hận Cộng Sản đến thấu xương, và chủ trương phải tiêu diệt người em Cộng Sản sinh sau, học bài học từ Cựu Ước: khi xưa Cain đã từng giết tốt người em Abel.

Cho nên, chính quyền Việt Nam không nên mơ mộng tin vào những lời đường mật hứa hẹn của Vatican về bất cứ vấn đề gì.  Sách lược đối ngoại của Vatican luôn luôn là có lá mặt lá trái, thả con săn sắt bắt con cá rô.  Toán học Vatican chỉ có dấu cộng dựa theo dấu thập ác chứ không có dấu trừ.  Khi ở thế yếu thì Vatican nhũn như con chi chi, hợp tác với bất cứ thế lực, chủ thuyết nào, bất kể là độc tài tàn bạo như thế nào,  thí dụ như Phát Xít Đức, Ý, Tây Ban Nha, Croatia v..v.., miễn là có thể duy trì được quyền lợi và mưu đồ thống trị thế giới bằng đạo Ca-Tô của Vatican.  Khi ở thế mạnh thì Vatican sẽ không khoan nhượng và không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn để tiêu diệt đối phương.  Đối với Vatican, Cộng Sản luôn luôn là kẻ thù truyền kiếp.  Lời lên án Cộng Sản Vô Thần của Bê-nê-đít-to XVI gần đây chỉ có mục đích hồi phục và mở đầu cho một chiến dịch chống Cộng mới mà thôi.  Bê-nê-đít-to XVI lên án Cộng Sản Vô Thần nhưng thế giới chưa hề quên lịch sử Ca-Tô Giáo La Mã là một lịch sử ô nhục đẫm máu nhất trên thế gian, với hàng trăm triệu xác người vô tội, từ già tới trẻ, đè trên bờ vai của Giáo hội Ca-Tô khiến cho Giáo hoàng John Paul II đã phải lên tiếng đãi bôi xưng thú 7 núi tội lỗi của giáo hội đối với thế giới.

Do đó, tin rằng Vatican thật tình muốn giúp Việt Nam, một nước Phật Giáo, hiện đảng Cộng Sản đang cầm quyền, với những hứa hẹn bất cứ về vật chất hay về cái gì khác, thì thật là ngây thơ hết chỗ nói.  Vatican có tất cả những vòi của một con bạch tuộc (Octopus Dei) và có thể ôm chặt và nghiền nát cả một quốc gia.  Lịch sử Ca-Tô Giáo, hơn gì hết, đã chứng tỏ như vậy.   Rất có thể Giáo hội Ca Tô tại Việt Nam, tung hỏa mù về thế lực giả tạo của Vatican, chịu khó bỏ tiền ra mua chuộc cán bộ nhà nước, cộng với áp lực của Mỹ, sẽ áp dụng chính sách dùng “củ cà rốt và cây gậy” ở Việt Nam, để Nhà Nước phải nhượng bộ ít điều liên quan đến quyền lực của Vatican, tin rằng như vậy chứng tỏ là đã tiến bộ về vấn đề Tự Do Tôn Giáo trước thế giới, thỏa mãn yêu cầu của Mỹ, và do đó sẽ có lợi cho Việt Nam. Thật đáng tiếc, Nhà Nước đã không đánh giá đúng mức thực lực của Vatican trên thế giới cho nên đã có những nhượng bộ đối với Vatican không cần thiết.  Nhà Nước cần phải hiểu sách lược của Vatican là “được đàng chân, lân đàng đầu” và như vậy Nhà Nước sẽ còn phải tiếp tục nhượng bộ nhiều hơn nữa.    Bài này hi vọng có thể giúp Nhà Nước nhận ra thực chất của Vatican và ngưng những nhượng bộ khác mà thực sự không cần thiết.

Vatican không ngừng tìm cách, nhất là sách lược tạm thời “khom mình để chinh phục” (stoop to conquer), để tái diễn tấn tuồng Ba Lan ở Việt Nam.  Sự ngoan ngoãn của các tín đồ Ca-Tô Việt Nam đối với Chính Quyền Việt Nam hiện nay, đồng thời đẩy mạnh bộ mặt thánh thiện từ thiện giáo dục xã hội để tạo uy tín, len lỏi vào những cơ quan công quyền, mua chuộc nhân sự v..v.. đều nằm trong sách lược này.  Nhưng ở hải ngoại, Ca-Tô Giáo và những tay sai không ngừng dùng mọi thủ đoạn, kể cả bịa đặt, xuyên tạc lắt léo để chống Cộng và họ đã từng lên tiếng gợi ý van xin Giáo Hoàng John Paul II: “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha [Ba Lan], và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con [Việt Nam].”  [Xin đọc cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, Thăng Tiến, 1995, trang 11].  Cái nguy hại của Ca-Tô Giáo không phải là ở chỗ tin nhảm tin nhí vào một vị thần của Do Thái, mà là họ không chấp nhận bất cứ một đạo nào khác ngoài đạo của họ, và khi có quyền lực hay có cơ hội họ sẽ không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn, bất kể là vô đạo đức và tàn nhẫn như thế nào, để cưỡng bách người ngoại đạo theo đạo của họ, phải tin theo những điều nhảm nhí của họ, phải tuân theo những tiêu chuẩn mà họ cho là đạo đức, và nhất là, phải tuân phục Vatican không điều kiện.  Lịch sử Ca-Tô Giáo trên thế giới đã chứng minh như vậy.  Và những sự kiện lịch sử về một số chính quyền Ca-Tô trong thế kỷ 20, Pavelic ở Croatia, Franco ở Tây Ban Nha, Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam là những bằng chứng rõ ràng hơn gì hết.

Có thể có độc giả cho rằng tôi đã viết quá dài dòng, ra ngoài chủ đề bang giao với Vatican.  Không hẳn vậy, tôi thấy thực sự cần thiết phải đóng góp phần nào, cung cấp giúp cho Nhà Nước Việt Nam  một số thông tin, và đây chưa thể gọi là đủ đâu, về bộ mặt thật và thế lực thực sự của Ca-Tô Giáo La Mã để Nhà Nước Việt Nam sửa soạn con đường đi đến bang giao với Vatican.

Con Đường Bang Giao.-

Vài nét đơn sơ về Vatican và đạo Ca Tô La Mã ở trên hi vọng có thế giúp chính quyền Việt Nam phần nào trong sách lược ngoại giao đối với Vatican.   Như trên đã nói, việc bang giao với Vatican không thành vấn đề, nhưng gồm có hai mặt: mặt thế tục và mặt tôn giáo.  Về mặt thế tục, Vatican như là một quốc gia nhỏ với dân số ở Vatican vào khoảng một ngàn người, không mang gì đến được cho Việt Nam.  Vatican rất giầu về tiền bạc nhưng như trên đã nói, toán học Vatican chỉ có dấu cộng chứ không có dấu trừ.  Bất cứ ở địa hạt nào, nếu không có lời, Vatican không bao giờ bỏ vốn ra, nhất là cho không.  Bởi vậy tài sản của Vatican ngày nay đã lên tới trên ngàn tỷ đô-la.   Thật vậy, Nino Lo Bello viết trong cuốn Đế Quốc Vatican (The Vatican Empire), trang 153-154:  “Đối với người Ý, đặc biệt là những người sống ở Rome, Vatican nổi tiếng là “rẻ tiền”, “thắt chặt hầu bao”, “keo kiệt”.  Chẳng cần phải gợi ý, người thường ở ngoài đường phố có thể nói với bạn : “Vatican thu vào nhưng chẳng cho ai đồng nào” (Among the Italians, particularly among the residents of Rome,, the Vatic