giaodiem copyright
posted: 11.1.2006
da vinci code    MẬT MẢ DA VINCI  - Một tiểu thuyết
  Nguyên tác: The Da Vinci Code, a novel - Tác giả: Dan Brown
  Ấn hành: Doubleday – Chi nhánh của Random House, Inc., New York
  Ấn bản April 2003. 
 
Chuyển ngữ: Trần Niệm Từ 

  

CHƯƠNG 1 (tiếp theo)

Robert Langdon dần tỉnh giấc.

Một tiếng chuông điện thoại reo trong đêm tối – một tiếng reo nhỏ xa lạ. Anh mò tìm cái đèn cạnh giừơng và bật lên. Nheo mắt với khung cảnh xung quanh, anh thấy một phòng ngủ lộng lẫy thời Phục Hưng với đồ đạt thời vua Louis XVI, tường với tranh vẽ bằng tay và một cái giường bốn cột đồ sộ bằng gụ.

Quái, ta đang ở đâu đây?

Chiếc áo ngủ vải hoa treo trên cột giường có thêu giòng chữ HOTEL RITZ PARIS.

          Dần dần đầu óc sáng sủa hơn.

          Langdon nhấc điện thoại lên. “Hello?”

          “Ông Langdon?” một giọng đàn ông lên tiếng. “Mong rằng tôi không đánh thức ông?”

          Langdon lờ đờ nhìn vào đồng hồ cạnh giường. 12 giờ 32 sáng. Anh chỉ ngủ được hơn một giờ, nhưng vẫn thấy mình giống như xác chết.

          “Thưa ông, đây là nhân viên trực khách sạn. Xin lổi đã quấy rầy, nhưng ông có môt vị khách. Ông ta bảo có việc khẩn.”

          Langdon vẫn còn lơ mơ. Một vị khách? Mắt anh bây giờ chăm chú vào một tấm bích chương nhầu nát trên bàn cạnh giường.

VIỆN ĐẠI HỌC HOA KỲ TẠI PARIS
Vinh dự giới thiệu
MỘT ĐÊM VỚI ROBERT LANGDON
GIÁO SƯ VỀ BIỂU TƯỢNG TÔN GIÁO, VIỆN ĐẠI HỌC HARVARD

          Langdon càu nhàu. Buổi diển thuyết tối nay – một cuộc chiếu hình về chủ nghĩa tượng trưng đa thần ẩn dấu trong những phiến đá Thánh đường Chartres -  có thể đã làm xùng gan một vài kẻ bảo thủ trong đám khán giả. Chắc là vài nhà học giả thần học mò theo dấu của anh đến đây để gây sự chăng,

          “Xin lổi,” Langdon bảo, “tôi rất mệt và –“

          “Nhưng, thưa ông,” nhân viên trực nài ép, nhỏ giọng khẩn trương. “Khách của ông là một nhân vật quan trọng.”

          Langdon chẳng ngờ vực gì. Sách của anh về các bức họa tôn giáo và biểu tượng sùng bái đã làm cho anh trở thành một nhân vật tiếng tăm bất đắc dĩ trong giới nghệ thuật, và năm vừa qua Langdon càng nổi hơn gấp trăm lần sau vụ dính líu đến một việc rắc rối tại Vatican được quảng bá rầm rộ. Từ đó cả chuổi các nhà sử học và ái mộ nghệ thuật tự cho mình quan trọng kéo đến thăm anh không dứt.

          “Xin làm ơn,” Langdon nói, ráng giử giọng lịch sự, “ghi tên và số điện thoại của ông ấy, rồi bảo ông ta rằng tôi sẽ gọi lại trước khi tôi rời Paris vào thứ Ba? Cám ơn.” Anh gác điện thoại trước khi nhân viên trực kịp phản đối.

          Ngồi dậy, Langdon nhíu mày nhìn cuốn Cẩm Nang Giao Dịch với Khách cạnh giường mà cái bìa phô trương NGỦ NHƯ MỘT ĐỨA BÉ TẠI THÀNH PHỐ ÁNH SÁNG, NGON GIẤC TẠI PARIS RITZ. Anh quay đầu nhìn mệt mỏi vào tấm gương to ln ở cuối phòng. Gã đàn ông trong gương nhìn lại anh chòng chọc là một kẻ xa lạ - bù xù và mệt mỏi.

          Này Robert, nên lấy phép nghỉ.

          Năm vừa qua làm anh hao mòn, nhưng anh chẳng muốn nhìn thấy bằng chứng ấy trong gương. Đôi mắt xanh sắc xảo của anh trông lờ đờ đêm nay. Râu lún phún bao trùm cái quai hàm bạnh và chiếc cằm chẻ. Bên mang tai, tóc muối tiêu nổi bật đang lấn dần vào mái tóc đen dày. Tuy mấy nữ đồng nghiệp hay bảo tóc muối tiêu chỉ càng làm tăng vẻ quyến rũ học thức, Langdon biết rõ hơn thế nữa.

          Nếu Boston Magazine thấy mình như thế này

          Tháng rồi, Langdon rất ngượng, Boston Magazine đã liệt anh là một trong mười nhân vật hấp dẫn của thành phố - một vinh dự mơ hồ đã làm cho anh phải chịu mủi dùi trêu chọc không ngừng bởi các đồng nghiệp tại Harvard. Đêm nay, ba ngàn dặm xa nhà, lời chào mừng tán thưởng lại theo anh tái diễn ở buổi diễn thuyết vừa xong.

          “Thưa quí vị…” cô chủ lễ tiếp tân tuyên bố cùng cử tọa ngồi chật thính đường Dauphine của Viện Đại Học Hoa Kỳ tại Paris, “Vị khách mời của chúng ta đêm nay không cần phải được giới thiệu nữa. Ông là tác giả của vô số cuốn sách: Tượng trưng học trong các giáo phái bí mật, Nghệ thuật của Minh triết, Ngôn ngữ thất lạc của Ký hiệu, và khi tôi bảo ông đã viết sách về Tôn giáo Thánh tượng học, là tôi thực có ý ấy. Nhiều vị đang dùng sách giáo khoa của ông trong lớp.”

          Sinh viên trong đám đông gật đầu nhiệt tình.    

          “Tôi đã định giới thiệu ông tối nay bằng cách san xẻ với quí vị bản lý lịch đầy ấn tượng. Tuy nhiên …” Nàng liếc đùa nhìn Langdon đang ngồi trên sân khấu. “Một vị trong cử tọa vừa trao cho tôi một sự việc hơn thế nữa, chúng ta phải nói là … lời giới thiệu hấp dẫn.”

          Nàng giơ cao một bản của Boston Magazine.

          Langdon co rúm lại. Khỉ thật, ở đâu mà nàng lại có bản ấy?

          Cô chủ lễ bắt đầu đọc phần trích dẫn chọn sẳn từ bài báo ngớ ngẩn đó, và Langdon cảm thấy như mình bị lún nhỏ dần trong chiếc ghế. Ba mươi giây sau, đám đông cười rộ lên và người đàn bà xem ra chẳng chịu buông tha. “Và ông Langdon không muốn đề cập công khai đến về vai trò bất thường của ông trong buổi họp kín ở Vatican năm vừa qua đáng được điểm trên máy-đo-bí-ẩn của chúng tôi.” Cô chủ lễ lại trêu chọc đám đông. “Quí vị còn muốn nghe thêm nữa không?”

Đám đông vổ tay.

Có ai ngưng cô ta lại, Langdon van nài khi nàng lại lao vào bài báo.

“Tuy giáo sư Langdon không hẳn là chàng bảnh trai lực lưởng như một vài cậu trẻ hơn trúng giải của chúng ta, nhưng nhà viện sĩ ở lứa tuổi bốn mươi này còn có nhiều điều đáng chia xẻ với chúng ta hơn là sức quyến rũ thông thái. Sự hiện diện đầy thu hút của ông còn điểrm xuyết thêm bởi một giọng nói rất trầm ấm mà nhiều nữ sinh viên mô tả như là “sô-cô-la cho lổ tai.”

Cả hội trường vang tiếng cười.

Langdon cười gượng. Anh đã biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp – vài giòng nói về “Harrison Ford trong áo dạ hiệu Harris” – và vì đêm nay anh đã dự tính an toàn hơn trong chiếc áo dạ Harris và áo kín cổ Burberry, anh quyết định hành động.

“Cám ơn Monique,” Langdon lên tiếng, đứng dậy sớm hơn và đẩy nhẹ cô ra khỏi bục. “Đúng ra Boston Magazine chỉ giỏi về chuyện hư cấu.” Anh quay về khán thính giả với tiếng thở dài ngượng nghịu. “Và nếu tôi tìm ra được người nào cung cấp bài báo ấy, tôi sẽ cho tòa lãnh sự trục xuất người đó ngay.”

Đám đông cười òa.

“Này các bạn, như mọi người đều rõ đêm nay tôi sẽ nói về năng lực của biểu tượng …”   

Tiếng chuông điện thoại phòng khách sạn của Langdon lại vang lên phá tan sự yên tỉnh.

Càu nhàu hoài nghi, anh nhấc lên. “Vâng?”

Như dự đoán, lại người trực khách sạn. “Ông Langdon, xin thứ lổi. Tôi gọi để báo cho ông biết rằng vị khách của ông đang trên đường đến phòng của ông. Tôi nên cảnh giác cho ông hay.”

Langdon bây giờ đã tỉnh hẳn. “Ông để cho người nào ấy đến phòng tôi?

“Xin ông thứ lổi, nhưng một người như thế … tôi không đủ thẩm quyền để chận ông ta lại.”

“Ông ta là ai vậy?”

Nhưng nhân viên trực đã đi mất.

Hầu như tức thì, một tiếng đập nặng nề trên cửa phòng Langdon.

Nghi ngại, Langdon trườn khỏi giường, cảm thấy các ngón chân mình lún sâu vào tấm thảm savonnerie. Anh khoác chiếc áo tắm khách sạn và tiến đến cánh cửa. “Ai đấy?”

“Ông Langdon? Tôi cần nói chuyện với ông.” Giọng tiếng Anh của người đàn ông khá nặng – một thứ quát tháo sắc cạnh và uy quyền. “Tôi tên là Trung úy Jérome Collet. Direction Centrale Police Judiciaire.”

Langdon dừng lại. Cảnh sát Tư pháp? Nôm na thì DCPJ tương đương với FBI ở Mỹ.”

Để nguyên dây xích sắt an toàn ở cửa, Langdon mở hé. Gương mặt nhìn chòng chọc lại anh thì mỏng và nhọc mệt. Người đàn ông khá gầy, mặc đồng phục viên chức hành sự màu xanh.

“Tôi có thể vào được không? viên cảnh sát hỏi.

Langdon ngập ngừng, cảm thấy bất định trong khi đôi mắt vàng vỏ của người lạ quan sát anh. “Có chuyện gì vậy?”

Capitaine của tôi cần đến ý kiến chuyên môn của ông cho một chuyện riêng.”

“Bây giờ?” Langdon xoay xở. “Đã quá nửa đêm.”

“Ông định gặp ông quản thủ viện bảo tàng Louvre tối nay. Có đúng không?”

Langdon chợt cảm thấy khó chịu. Anh và nhà quản thủ khả kính Jaques Saunière đã hẹn gặp để uống rượu đêm nay sau buổi thuyết trình, nhưng Saunière không đến. “Vâng. Làm sao ông biết được chuyện này?”

“Chúng tôi đã thấy tên ông trong cuốn sổ hẹn của ông quản thủ.”

“Tôi tin là chẳng có chuyện gì sai phạm?”

Viên cảnh sát thở ra thảm sầu và nhét một tấm ảnh chụp vội Polaroid qua khe cửa.

Khi Langdon nhìn thấy tấm ảnh thì toàn thân anh cứng lại.

“Ảnh này đã chụp chưa tới một giờ trước đây. Bên trong Louvre.”

Vừa nhìn chăm vào tấm ảnh kỳ dị, sự khiếp đảm và kích xúc ban đầu của anh nhường chỗ cho nổi căm giận bộc phát. “Ai lại có thể làm chuyện này!”

“Xét đến sự hiểu biết của ông về biểu tượng học và ý định gặp ông ấy, chúng tôi mong rằng ông có thể giúp chúng tôi trả lời câu hỏi đó.”

Langdon nhìn trân tấm ảnh, nổi khiếp đảm chen lẫn s hải. Hình ảnh thật gớm ghiết và lạ lùng đậm nét, mang theo nó một cảm giác đáng lo đã gặp trong qúa khứ. Hơn một năm trước, Langdon có nhận được một tấm ảnh của một tử thi và lời yêu cầu giúp đở tương tự. Hai mươi tiếng đồng hồ sau, anh súyt mất mạng trong thành Vatican. Tấm ảnh này thì hòan tòan khác nhưng cái gì đó trong bài bản gây cảm giác quen thuộc đáng quan ngại.

Viên cảnh sát xem đồng hồ tay. “Thưa ngài, capitaine của tôi đang chờ.”

Langdon mơ hồ nghe. Mắt của anh vẫn nhìn dán vào tấm ảnh. “Biểu tượng ở đây, và cái cách thân thể của ông ấy thì thật kỳ quặc …”

“Vị trí?” viên cảnh sát thêm.

Langdon gật đầu, cảm thấy ớn lạnh ngước nhìn. “Tôi không thể tưởng tương được ai lại làm thế với người khác.”

Viên cảnh sát có vẻ nghiêm trọng. “Ông Langdon, ông không hiểu. Điều ông thấy trong tấm ảnh …” Ông ta ngưng lại. “Chính ông Saunière đã tự làm.” 

CHƯƠNG 2 

Cách xa một dặm, tên bạch tạng cồng kềnh có tên là Silas khập khiểng đi vào cổng trước của một tư dinh gạch nâu sang trọng trên đường La Bruyère. Cái đai cilice đầy mũi nhọn hắn mang quanh đùi đã cắt sâu vào thịt, vậy mà linh hồn hắn lại thoả mãn ca vang lời phụng sự Chúa.

Đau là tốt.

Cặp mắt đỏ ngầu của hắn quét quanh tiền sảnh khi bước vào. Trống vắng. Hắn lặng lẽ leo lên cầu thang, không muốn đánh thức ai trong đồng bọn. Cửa buồng của hắn còn mở; ổ khóa không được cho phép ở đây. Hắn bước vào rồi đóng cửa lại.

Căn buồng thực sơ sài – sàn gổ cứng, một cái tủ thấp bằng gổ thông, một tấm đệm vải thô trong một góc là chỗ ngủ. Hắn là một khách viếng ở đây trong tuần này, và trong mấy năm qua lấy làm ơn phước được trú ngụ trong một nơi tương tự ở thành phố New York.

Thiên chúa đã cho ta chỗ ở và cứu cánh trong đời.

Đêm nay rốt ráo, Silas cảm thấy là hắn đã bắt đầu trả được món nợ. Vội vả bước đến cái tủ và tìm được chiếc điện thoại di động đã được dấu ở ngăn đáy và bấm máy gọi.

“Vâng?” một giọng đàn ông trả lời.

“Sư phụ, tôi vừa trở về.”

“Nói đi,” giọng ra lệnh, có vẻ hài lòng khi nghe hắn gọi.

“Cả bốn đều chết.” Ba sénéchaux … và cả chính tên Đại sư phụ.”

Một chút im lặng tưởng như để cầu nguyện. “Vậy là ngươi đã có tin tức?”

“Cả bốn đều đồng nhận. Một cách riêng rẻ.”

“Và ngươi tin họ chứ?”

“Sự đồng ý của họ quá lớn để bảo là trùng hợp.”

Một hơi thở phào. “Tuyệt. Ta cứ lo là tiếng tăm bảo mật của hội huynh đệ ấy sẽ thắng thế.”

“Khả năng bị giết là động lực.”

“Môn sinh của ta, vậy hãy nói cho ta biết đi.”

Silas biết rằng tin tức mà hắn lượm lặc được từ những nạn nhân của hắn sẽ là cú xốc. “Sư phụ, cả bốn đều xác nhận sự hiện hữu của cái clef de voûteviên đá  chủ trong truyền thuyết.

Hắn nghe qua máy một tiếng hít hơi gấp và cảm nhận được sự kích động của sư phụ. “Viên đá chủ. Đúng như dự đoán của chúng ta.”

Theo truyền thuyết dân gian, hội huynh đệ đã làm ra một bản đồ bằng đá – một clef de voûte … hay viên đá chủ - một phiến đá có khắc chữ chỉ chỗ nơi yên nghỉ của điều bí mật lớn lao nhất của hội huynh đệ … cái tin tức quá mạnh mẻ đến nổi phải có một hội huynh đệ cốt để bảo vệ nó.

“Khi ta sở hữu được viên đá chủ,” tên Sư phụ bảo, “chỉ còn một bước ngắn nữa thôi.”

“Chúng ta đã đến gần hơn là thầy nghĩ. Viên đá chủ hiện ở Paris.”

Paris? Khó tin quá. Hình như quá dễ dàng.”

Silas tường thuật lại những sự cố trước đó tối nay … làm sao tất cả bốn nạn

nhân của hắn, ngay trước khi chết đã đem hết sức tàn gắng nói lại điều bí mật. Mỗi người đều nói với Silas cùng một sự kiện – rằng viên đá chủ đã được cất dấu khéo léo tại một vị trí chính xác bên trong một trong những nhà thờ cỗ ở Paris – Thánh đường Saint-Sulpice.

          “Bên trong một nhà Chúa,” tên Sư phụ kêu lên. “Chúng thực nhạo báng chúng ta!”

          “Chúng đã làm mấy thế kỷ rồi.”

          Tên Sư phụ bỗng im lặng, như là để sự thắng lợi trong giây phút xâm chiếm lấy y. Ông ta cuối cùng lên tiếng. “Ngươi đã hết lòng phụng sự Chúa. Chúng ta đã chờ đợi hằng mấy thế kỷ cho việc này. Ngươi phải thu hồi viên đá cho ta. Ngay tức khắc. Tối nay. Ngươi hiểu cái giá phải trả chứ.”

          Silas biết cái giá phải trả không thể lường được, và điều mà Sư phụ ra lệnh có vẻ bất khả thi. “Nhưng nhà thờ là một pháo đài. Nhất là vào ban đêm. Làm sao ta vào được?”

          Với giọng tự tin của kẻ uy quyền to lớn, tên Sư phụ giải thích những gì cần phải làm. 

         Khi Silas ngưng điện thoại, da của hắn rân rân với sự tiên liệu.

          Một giờ, hắn tự nhủ, cám ơn sư phụ đã cho hắn đủ thời gian để cử hành lễ hối lổi trước khi bước vào nhà Chúa. Ta phải thanh tẩy linh hồn ta khỏi các tội lổi của ngày hôm nay. Những tội đã phạm hôm nay vốn thánh thiện trong chủ đích. Giao tranh với kẻ thù của Chúa đã diễn ra hằng thế kỷ. Tha thứ đã được cam đoan. 

          Dù vậy Silas vốn biết sự xá tội đòi hỏi hy sinh.

          Đóng lại mành cửa, hắn lột hết quần áo trần truồng quì xuống giữa phòng. Nhìn xuống, hắn khám xét cái đai gắn mũi nhọn cilice cắm chặt vào đùi hắn. Tất cả những tín đồ của Đạo đều phải mang cái hình cụ này – một đai da, gắn đầy ngạnh sắt bén cắm sâu vào thịt như một nhắc nhở thường xuyên đến nổi đau của Chúa cứu thế. Sự đau đớn gây nên bởi hình cụ còn giúp chống lại những ham muốn của xác thịt.

          Tuy Silas đã mang cái cilice của hắn hôm nay lâu hơn hai tiếng đồn hồ đòi hỏi, hắn biết ngày nay không giống các ngày thường khác. Nắm lấy cái khuy thắt, hắn xiết thêm một nấc chặt hơn, nhăn mặt khi ngạnh sắt cắm sâu vào thịt của hắn. Thở ra từ từ, hắn thưởng thức cái nghi thức thanh tẩy nổi đau của hắn.

          Đau là tốt, Silas thì thầm, nhắc lại câu kệ thiêng liêng của Cha Josemaria Escrivá – Sư phụ của các sư phụ. Tuy Escrivá đã chết vào năm 1975, sự thông thái   của ông vẫn còn sống, lời dạy của ông vẫn được rì rầm bởi hằng ngàn bầy tôi sùng tín khắp thế giới khi họ quì xuống hành lễ trọng kính được biết là “hành xác”.

          Silas quay sang chú ý đến một sợi dây thừng với nhiều nút thắt nặng nề cuộn tròn bên cạnh. Nhục Hình. Những nút thắt đã đong cứng bởi máu khô. Hăm hở với tác dụng thanh tẩy của nổi thống khổ của chính mình, Silas đọc nhanh một câu kinh. Rồi nắm lấy một đầu sợi thừng, hắn nhắm mắt quất mạnh sợi dây lên vai mình, cảm thấy nút thắt tạt vào lưng. Hắn lại quất lên vai, xé rách thịt. Cứ thế hắn lại quất.

          Castigo corpus meum.      

          Cuối cùng hắn cảm nhận máu bắt đầu tuôn.          

Trần Niệm-Từ 

Kỳ tới: Chương 3 

© Giaodiem.com copyright

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com