posted: 01.01.2006
Nguồn: ABC News
(Dec. 29, 2005) Huyền thoai cho rằng Nữ
giáo hòang Joan đã giả trai để điều khiển Giáo Hội Ca-tô, nhưng quỉ kế
này bị lộ tẩy khi bà sinh đẻ. Trong
một bí ẩn cuả Giáo Hội Ca-tô thời Trung cổ đã lộ ra bằng chứng về
một nữ giáo hòang mà manh mối đã bị chôn vùi trong mớ giấy da, minh họa
và các bài viết tay, ngay cả trong các lá bài tarot và một cái ghế kỳ dị
mà một thời đã được dùng trong nghi lễ tại Vatican. Đã có một Giáo hòang
Joan hay không – một người đàn bà gan đến độ
giả làm đàn ông để đóng vai giáo hoàng hơn hai năm trong thế kỷ thứ
9? Nó là một điều bí mật cổ nhất của thế giới. Câu chuyện về bà
trước tiên xuất hiện trong sử ký ghi chép bởi giới tu sĩ, nhưng ngày
nay giáo hội Ca-tô bác bỏ nó. “99%
trong tôi tin rằng đã có một giáo hòang Joan,” một cựu nữ tu tên Mary
Malone đã viêt một cuốn lịch sử về phụ nữ và Ki-tô giáo. Donna Cross, một tiểu thuyết
gia đã từng trải bảy năm tìm hiểu về giai đọan ấy, nói rằng chứng
cớ lịch sử vẫn còn đấy.
“Tôi có thể bảo là trọng lượng của chứng cớ - trên 500 báo cáo
biên niên về sự hiện hữu của bà ấy.” Thóat khỏi một cuộc sống
khắc nghiệt Đời sống phụ nữ thường
là ngắn và khắc nghiệt trong khỏang năm 800 TL. “Không một phụ nữ nào
được phép xuất hiện ở chỗ công cộng,” Malone bảo.
“Bởi làm thế là bị liệt vào hạng đĩ điếm ngay. Phụ nữ bị nhốt
kín trong nhà.” Người ta cho rằng người
con gái về sau trở thành giáo hòang ấy lớn lên ở thành phố Rồi những nhà truyền
giáo người Anh đem đạo Ki-tô đến Đức và lập nên một tu viện tên
là Fulda, nơi ấy liền trở nên một trung tâm học thuật, sách vở và chuyện
trò cho du khách – nhưng vẫn chỉ dành cho con trai. Trong cuốn “Lịch sử về
các Hòang đế và Giáo hòang,” một tu sĩ tên là Martin Polonus rất gần gủi
với giáo hòang đã viết về một người đàn bà đến từ Mainz đã học
tiếng Hy-lạp và Latin và trở nên “thành thạo về mọi ngành kiến thức.” Cross và các sử gia khác bảo
rằng một cô gái theo học ở tu viện không còn cách nào khác hơn là phải
giả trai. Nhưng làm thế nào mà giử được bí mật? “Trước hết, quí vị
nên nhớ rằng áo chùng của tu sĩ
chính là chỗ hóa trang,” Cross bảo. “Lại nữa, ở thế kỷ thứ Chín, vệ
sinh cá nhân là chuyện không hề có. Không ai tắm gội cả, Họ chỉ rữa
tay, rữa mặt, rữa chân, nhưng không hề tắm.” Thêm nữa, thành phần tu sĩ
buộc phải cạo sạch râu, và sự suy dinh dưỡng đã làm cho cả đàn ông
lẫn đàn bà hốc hác về thể xác. Polonus đã viết rằng người
phụ nữ này “đã được đưa đến Trong thế kỷ thứ Chín, “Các giáo hoàng … giết
nhau như ngóe, bổ đầu nhau đến chết,” bà cựu nữ tu Mary Malone bảo.
“Đã có những giáo hoàng chỉ 12 tuổi … chúng ta biết rõ là có một tổng
giám mục mới có 5 tuổi. … Đúng là một thời đại kỳ cục trong lich sử.”
Đó cũng là một thời đầy
vận may cho ai liều mạng và nhiều tham vọng. Sử biên niên cho thấy làm
sao mà Joan, còn được biết dưới tên John Anglicus, hay English John, trở
nên thư ký triều chính tòa thánh, một hồng y, và rồi, như Polonus viết,
“được chọn làm giáo hoàng” vào năm 855 TL. Chứng cớ trong Nghệ thuật Nếu quí vị du lịch đến
Ý và hỏi về Giáo hoàng Joan, nhiều người sẽ chỉ cho quí vị thấy chứng
cớ nằm trong nghệ thuật, văn học và kiến trúc. Nhà thi sĩ thời Phục
hưng Giovanni Boccaccio, nổi danh qua tác phẩm "The Decameron," còn viết
một cuốn sách về “100 Phụ Nữ Nổi Danh.” và Giáo hoàng Joan đứng ở
hàng thứ 51. Những nhà buôn bán sách
hiếm ở Du lich về phía bắc của Baronius cũng đã viết rằng
giáo hoàng vào thời ấy đã phán lệnh tiêu hủy bức tượng, nhưng có người
bảo tổng giám mục địa phương đã không muốn phí đi một bức tượng
đẹp. Cross tin rằng “Bức tượng
đã bị biến dạng. Tôi muốn nói theo nghĩa đen, nó đã bị cạo mất tên
của bà và được viết chồng lên hàng chữ Giáo Hoàng Zachary.” Tại Đại thánh đường
ở quảng trường thánh Peter có những bức phù điêu của Bernini, một
trong những nghệ sĩ nổi danh ở thế kỷ thứ 17. Trong số ấy có tám
hình ảnh của một phụ nữ đầu đội vương miện giáo hoàng, và những
hình ảnh xem như muốn nói đến câu chuyện của một người đàn bà đang
chuyển dạ và một đứa bé sơ sinh. Những bản thảo thời
Trung cổ cũng nói đến cùng một câu chuyện: Hai năm rưỡi trong nhiệm kỳ,
giáo hoàng Joan đang ở giữa đoàn rước kiệu, một cuộc diễn
hành ba dặm đến nhà thờ Lateran ở Rome, bổng đến ngả tư bà
bổng thấy đau nhói ở bụng. Bà đang chuyển dạ, chuyện
được kể. Điều không thể tưởng tượng được lại xảy
ra – giáo hoàng sinh con. “Rồi kích xốc và kinh
hòang,” Malone bảo. “Và rồi câu chuyện trở nên rối mù, bởi một vài
hồ sơ nói bà và đứa trẻ sơ sinh bị giết ngay tại chỗ. Những hồ sơ
khác lại bảo bà được đưa vào nhà tu kín và đứa con trai lớn lên và
về sau trở thành giám mục ở Các câu chuyện đều khác
nhau – có nơi bảo bà bị ném đá đến chết, nơi khác bảo bà bị ngựa
xé – nhưng hầu hết đều cho rằng giáo hoàng Joan thiệt mạng hôm đó. Vài thập niên sau, ngã tư
ấy được gọi là Vicus Papissa – Con đường của nữ giáo hoàng – và hơn
một trăm năm, các giáo hoàng đều tránh ngã tư ô nhục ấy. Polonus vết: “Đức Thánh
Cha luôn ngoảnh mặt không nhìn con đường … vì sự ghê tởm của sự cố.” Hay chỉ là huyền thoại của
phố thị? Giáo hội Ca-tô ngày nay
và nhiều học giả gạt bỏ câu chuyện về Giáo Hoàng Joan như là huyền
thoại của phố thị trong Thời đại Đen tối. Valerie Hotchkiss, một giáo
sư về nghiên cứu thời trung cổ tại Viện Đại học Southern Methodist ở
Texas, bảo rằng câu chuyện về giáo hoàng Joan đã được thêm vào bản thảo
của Martin Polonus sau khi ông qua đời. “Ông ta không hề viết về
nó, nhưng lại được nhét vào ngay sau khi ông chết, khoảng giữa 1280 và
1290,” Hotchkiss bảo.” Và mọi người đều gán cho Martin Polonus.” Các nhà tu thời trung cổ
tựa như những máy sao chụp, vài học giả bảo, cứ việc sao lại những
sai lầm vào văn kiện lịch sử. “Và họ cứ thế mà chuyền
từ người này qua người nọ, sửa đổi nó và thêm thắt,” Hotchkiss bảo. Ông Charles Burns, cựu giám
đốc văn khố mật của Burns bảo không có chứng
cớ và tài liệu nào trong văn khố mật cho rằng Giáo hoàng Joan đã hiện
hữu, không có thánh tích nào về Giáo hoàng John Anglicus ở đâu cả. Và những kẻ không tin có
thể phản bác những manh mối khác. Những bức điêu của Bernini lấy mẫu
của cô cháu của giáo hoàng; tên Vicus Papissa đã được đặt cho một người
phụ nữ đã sống trong vùng. Những người đàn bà Uy quyền
và Nguy hiễm Dù những kẻ cười nhạo
câu chuyện về một nữ giáo hoàng cũng đều đồng ý rằng câu chuyện mở
ra một cửa sổ vào lịch sử về đàn bà và tính phái trong Giáo hội
Ca-tô. Phụ nữ đã có một thời là một sức mạnh quyền uy và đe dọa
trong giáo hội thời trung cổ. Nhiều nhà học giả bảo
đã có nhiều phụ nữ tử đạo trong thời kỳ ấy, nhiều đàn bà đã bị
tra tấn vì tín ngưỡng tôn giáo của họ. Và đã có nhiều đàn bà trở
thành thánh trong thời giả dạng nam tu sĩ. Đơn cử thánh Eugenia, đã
trở thành một nam tu sĩ khi giả dạng như một cậu trai, đáng tin đến nỗi
bà đã bị lôi ra tòa về tội đã làm cho một người đàn bà có con. Cuối
cùng bà chỉ còn cách phô bày bộ ngực ra trước công chúng để chứng
minh mình vô tội. “Có khoảng hơn 30 thánh
mà phụ nữ ăn vận như đàn ông vì nhiều lý do khác nhau với những kết
cuộc khác nhau,” Hotchkiss, kẻ viết về những bà xơ biến thái này, bảo.
Có hai nhóm phụ nữ có thể
đe dọa giáo hội nhất, được biết như nữ tu phi giáo hội (beguines) và
huyền bí; họ bỏ qua thứ bậc tôn ti của giáo hội mà truyền đạt thẳng
với Chúa. “Và họ thực sự gây
kinh hoàng cho giáo hội bởi vì họ tuyên truyền mọi chuyện như ‘Tên thực
của tôi là Chúa,’” Malone bảo. “Và thuyết huyền bí đã cho những phụ
nữ này … một lối đến gần Chúa song hành như giáo hội. Những phụ nữ uy quyền
này có thể đã gây nên một cuộc đàn áp thẳng tay của giáo hội sau năm
1000 TL, để củng cố hàng ngũ và tái xác định luật độc thân cho hàng
giáo sĩ, một đòi hỏi vẫn còn tranh cãi đến ngày nay. Một trường phái bảo rằng
câu chuyện về giáo hoàng Joan được chế ra như là một lời cảnh cáo. Một
bài học cho phụ nữ: Đừng nghĩ đến chuyện đoạt quyền lực hay ngươi
sẽ bị hậu quả như bà ấy: vạch trần và làm nhục. Trường phái khác biện
bác rằng chỉ vì mối sợ hãi quyền lực phái nữ mà giáo hội phải xóa
bỏ giáo hoàng Joan ra khỏi lịch sử. Nhưng làm sao các sử gia
có thể giải thích được về chiếc ghế đá hoa cương vĩ đại màu tím
mà các giáo hoàng đã từng ngồi lên. Chiếc ghế có một lổ hở lạ
lùng, cái gì ấy tựa như bàn cầu nhà xí, tương
truyền dùng để kiểm tra "testiculos habet"
– hay xem giáo hoàng có dịch hoàn hay không. David Dawson Vasquez, giám đốc
chương trình Rome của Đại học Ca-tô Hoa Kỳ (the Catholic University of
America), bảo rằng Vatican chỉ dùng chiếc ghế uy nghi nhất mà nó có. “Vì nó tĩ mĩ, nó màu
tím. Nó là đá hoa cương mắc tiền nhất thời La-mã, và nó chỉ được dùng
cho hoàng đế,” Vasquez bảo. “Cái lổ ở đấy chỉ vì nó đã được các
hoàng đế La-mã dùng, có thể như là bàn đi cầu, có thể là bàn đẻ. Chẳng
cần quan tâm đến cái lổ ở đấy, vì quí vị có thể ngồi ở đấy và
được đăng quang.” Kẻ khác bảo nó là biểu
tượng của giáo hoàng đẻ ra giáo hội mẹ. Dù thế nào, những người
Tin lành mới toanh vào những năm 1500 đã đàm tiếu về chiếc ghế nên nó
đã được đem dấu tịt đi. Và thế là vết tích cuối
cùng trong chuyện về Giáo hoàng Joan bị thu hồi. Nhưng Giáo hoàng Joan vẫn
sống ở vài nơi khác, trong sự che chở của
truyền thuyết ở Thời đại Đen tối mà
gây kinh hoàng cho vài người và cảm hứng cho những người khác. |
In ra @
© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: