giaodiem copyright

posted: 08.01.2006

nvt - giaodiem
Hình từ bìa sách “KVCĐT NVT” của tác giả TXA
 
        

 Vài lời của web Gđ:

Tác phẩm lịch sử: "Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường - Thơ - Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng" của nhà nghiên cứu sử Trần Xuân An đã được đăng tải gần như trọn bộ trên website GĐ trong thời gian qua. Hơn thế, ông Trần Xuân An còn có nhã ý cống hiến toàn bộ những công trình nghiên cứu liên hệ đến nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường cho mạng lưới GĐ; tuy vậy, rất tiếc chúng tôi không thể đáp ứng được nguyện vọng của ông TXA, vì storage-space's maximum quota (lượng dữ kiện tối đa được chứa) của server GĐ có giới hạn. Do đó, ông TXA đã tự thực hiện một weblog cá nhân của ông theo như thông báo trong “thư cậy đăng” trong mục “ý kiến bạn đọc” của tháng này.

Trong “thư cậy đăng”, ông TXA đã nêu ra sự kiện tác giả Tuệ Chương (tức Hoàng Long Hải hiện ở bang Massachussets, Hoa Kỳ) trong một bài viết về ‘nhân vật Nguyễn Văn Tường’ đã sử dụng tài liệu sử mà không nêu xuất xứ. Và, theo tác giả TXA tài liệu ấy đã lấy từ cuốn sách nêu trên của ông. Mới đây, tác giả TXA lại khám phá thêm một bài viết của nhà văn Mai Kim Ngọc (theo nguồn của đường nối kết đăng kèm) trong một bài viết tưởng niệm về tác giả Hoàng Liên (Nguyễn Văn Đãi) có đế cập đến “ý định” viết về nhân vật Nguyễn Văn Tường của người quá vãng. Thế nhưng, trong điện thư [viết không bỏ dấu có đăng kèm] của tác giả Tuệ Chương trả lời cho ông TXA có nêu nguồn “ông đã sử dụng lại, sau khi được ông Hoàng Liên - Nguyễn Văn Đãi nhờ viết”.  Qua đó, vấn đề đã được hé mở thêm một vài sự kiện làm cho sáng tỏ hơn.

Nguyện vọng “muốn làm sáng tỏ vụ việc” của tác giả (chủ quyền/ copyright owner) TXA là chính đáng và hợp với pháp luật quốc gia và quốc tế, bởi lẽ chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa, trong đó luật pháp giữa mỗi quốc gia có những sợi dây liên đới giữa tác nhân, điều luật và cơ chế pháp lý với nhau. Không một cá thể dân sự hay thể nhân quốc gia nào có quyền bất chấp sự “liên đới” đó. 

Thêm nữa, theo dõi tin tức, bình luận trên các mạng lưới điện tử trong thời gian qua, chúng tôi ghi nhận những “tệ nạn” về văn hóa, học thuật, sáng tạo trong nước đang lan truyền nhanh. Xin nêu ra vài sự kiện: web vnn ngày 6.1.06, nêu con số thống kê chừng “30% học viên cấp sau đại học có trình độ yếu” (tức là các phó tiến sĩ, tiến sĩ đã tốt nghiệp) –đó là hậu quả nói chung về tổng thể giáo dục yếu kém, cộng thêm một số “tệ nạn” về “đạo văn, đạo thơ, thậm chí còn đạo nhạc, đạo tranh” của các nghệ sĩ ở nước ngoài… đã chứng tỏ nhân cách văn hóa của người Việt hiện nay (trong và ngoài nước) đang ở mức suy đồi đáng báo động. Đó là vấn nạn, chúng tôi xin các bậc thức giả, thân hữu của GĐ cần phải lên tiếng.

Ngoài ra, chúng tôi còn ghi nhận một số tác giả, nhà nghiên cứu khác chưa biết sử dụng đúng cách về nguyên tắc, quy định về trích dẫn, chú thích (references, footnotes..) theo tiêu chuẩn quốc tế. Vấn đề này không hẳn là sự cố ý, mà do chưa tìm hiểu, điều nghiên trước. Ở nước ngoài, các tài liệu hướng dẫn viết tiểu luận khá nhiều, nhưng trong nước chắc là hiếm hoi. Chúng tôi được đọc một cuốn “cẩm nang” viết tiểu luận, nguyên tắc trích dẫn, chú thích nguồn sử dụng tài liệu của tiến sĩ Tỳ kheo Thích Nhật Từ đã được xuất bản với số lượng hạn chế trong nước, rất hữu ích. Nếu có thể, chúng tôi sẽ xin thầy Nhật Từ cung cấp bản đánh máy để phổ biến cho quần chúng trên web Gđ.

Chân thành biết ơn các tác giả TXA, Tuệ Chương, nhà văn Mai Kim Ngọc đã cung cấp, hoặc sẽ mặc nhiên đồng ý cho đăng tải các lá thư trao đổi và bài viết liên quan đến cuốn sách của ông Trần Xuân An.

 

Phụ trách web GĐ.

whiteball.gif (923 bytes)

 

Cần Làm Rõ Thêm “Đôi Điều Cần Làm Rõ” (*)

 

Sau đây là bài viết của ông Mai Kim Ngọc về ông Hoàng Liên (Nguyễn Văn Đãi), tôi tìm thấy trên web YAHOO SEARCH. Mạn phép ông Mai Kim Ngọc, mặc dù chưa hỏi ý kiến của ông, tôi gửi bài viết này đến Tòa soạn VietNam Review để góp phần làm sáng tỏ vấn đề. Nếu ông Mai Kim Ngọc không đồng ý, kính mong Tòa soạn Viet Nam Review chỉ dẫn LINK. Đồng thời, tôi kính mong ông Tuệ Chương (Hoàng Long Hải) và bà Nguyễn Văn Đãi (vợ của ông Hoàng Liên Nguyễn Văn Đãi) lưu tâm đọc và đưa ra ý kiến khẳng định cuối cùng. Đó là điều cần thiết.

Theo tôi, đây là vụ việc khá đơn giản.

Về bài viết của ông Mai Kim Ngọc:

Tôi nhấn mạnh lại điều ông Mai Kim Ngọc đã khẳng định: Ông Hoàng Liên Nguyễn Văn Đãi chỉ mới có ý định viết một cái gì đó về Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886), sau khi đã nhận được những tư liệu mới, và ông chưa thực hiện dự định, cuối cùng cũng không thực hiện được gì cả, ngoài một bài viết trích dẫn nhiều bài thơ Nguyễn Văn Tường đã được hai ông Trần Đại Vinh và Vũ Đức Sao Biển dịch (không ghi xuất xứ cụ thể). 

(Và, theo ông Hoàng Long Hải, qua thư trong mục này, ông đã   sử dụng lại, sau khi được ông Hoàng Liên Nguyễn Văn Đãi nhờ viết ).

Vấn đề là cả cuốn sách tôi đã biên soạn với mấy trăm trang chú giải, có tên là "Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường - Thơ - Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng". Không hiểu từ đâu mà  ông Hoàng Liên Nguyễn Văn Đãi có cuốn bản thảo sơ thảo ấy để trích thơ từ đó ra...

Vấn đề tuy đơn giản nhưng vẫn rất cần sự khẳng định trung thực của bà Nguyễn Văn Đãi.

Vấn đề đơn giản nhưng cũng có thể sẽ bị đẩy vào một âm mưu của thế lực đen tối nào đó.

Trần Xuân An.

whiteball.gif (923 bytes)

 

Nguồn: Yahoo Search:

+ Link chính bài viết của Mai Kim Ngọc:

http://www.saigonline.com/vanhoc/vh0101/mkn.htm

(GĐ.đăng lại nguyên văn, chữ có màu tô vàng là do ‘digital code’ của nối kết tạo ra)

 

Giã từ Hoàng Liên

 

Mai Kim Ngọc

 

Tặng chị Đãi.

 

 Chúng tôi bàn sang cuốn sách mới của anh. Nhà xuất bản Mõ Làng sắp in xong, anh bảo. Tôi hỏi ai sẽ điểm sách cho anh. Anh lại bảo, chưa có ai, hay anh điểm đi. Nghĩ đến thời gian tính gấp rút tôi định sẽ viết vào dịp nghỉ mấy ngày sắp tới. Tôi xin anh cho gửi bản thảo qua E-mail, và anh hứa sẽ yêu cầu nhà xuất bản làm như đề nghị. Rồi anh trở lại câu chuyện đang dở chừng khi chúng tôi tình cờ bàn sang cuốn sách.

Câu chuyện ấy là vấn đề sức khỏe của anh. Được tin anh đau nặng, nhà tôi và tôi lên San Francisco thăm. Xem cách bà gác cổng vui vẻ ân cần mời vào tôi thấy lòng quý mến mọi người trong khu chung cư này dành cho anh chị đã lây sang bạn bè khách khứa.

Tới căn hộ của anh chị, chúng tôi được chị đưa thẳng tới phòng bệnh. Biết tính anh cẩn trọng dù với người bạn vong niên chỉ cỡ em út, tôi đoán bệnh phải nặng lắm anh mới chịu nằm giường tiếp khách. Vậy mà giọng anh mạnh, thần thức anh minh mẫn, ánh mắt anh sáng và thanh thản như thường lệ. Chỉ nước da có màu vàng ủng, và có máu trong ống nhựa có lẽ thông với vết thương mới mổ từ dưới chăn dẫn ra bịch nylon treo bên hông giường.

“Tại tôi uống nghệ đấy...”, Anh cắt nghĩa.

Từ phía sau chị đỡ lời:

“Môn thuốc gia truyền mà lại dễ kiếm... Có người mách cho... Tôi nghĩ nhà tôi uống vào cũng thấy dễ chịu”.

Chị vừa nói vừa nhìn tôi khẽ lắc đầu. Tôi nhẩm tính bướu độc vùng chấn thủy nằm ngay ngã ba gan ruột chắc đã đè vào cuống mật. Thật đáng ái ngại, vùng cơ thể này thần kinh chằng chịt từng bó, bị ung thư gậm nhấm cái đau sẽ không phải vừa... Tất nhiên anh đã phải dùng thuốc chống đau thứ mạnh, nhưng thuốc nào giữ được thần sắc anh tự tại như thế kia. Một đời làm thầy thuốc tôi chỉ có một lần khác đã lâu thấy bệnh nhân (một thiền sư) chịu được cái loại đau này với an bình tự tại như anh. Tôi thoáng lạc quan nghĩ có thể bệnh không nặng như tôi đã đoán. Biết đâu lại chỉ tại anh uống nghệ, tôi tự thuyết phục.

Anh cho nhà tôi hay đã nhận đuợc quà gửi gồm mấy bài kinh và cái cát-xét Phật. Tôi rón rén chuyện mưa nắng, nhưng anh trực diện vào thẳng vấn đề chính đã mang tôi tới thăm anh.

Anh bảo, “Mình như vậy kể còn thọ hơn cả cái thọ cổ lai hy người ta thường nói”.

Anh tâm sự anh không hy vọng khỏi bệnh, chỉ mong thêm được ít thời gian...

Rồi nhẹ nhàng anh trầm giọng xuống nói thêm,

“Mình còn chút chuyện muốn làm”.

Chị và nhà tôi đã ra phòng khách. Còn lại một mình bên giường anh, tôi nghĩ cuộc sống của anh đã chẳng quá nhiều thành quả rồi sao. Anh đã là giáo sư giỏi khi dậy các nữ trung học Việt và Pháp, và bao lớp nữ sinh khi thành bà nội bà ngoại vẫn còn nhắc lại thày cũ với sự quý mến và kính phục đặc biệt. Anh đã đóng góp cho công vụ cho chính trị miền Nam mười hai năm tù đầy thêm bốn năm quản thúc tại gia, khi rơi vào tay đối phương vụ Tết Mậu thân, để rồi khi được giải phóng viết một cuốn hồi ký không hận thù không nhỏ mọn với cuộc sống, với con người, kể cả con người còn trú ẩn trong cái chai sạn hay ác độc của những cai ngục. Anh đã là công chức cao cấp chỉ huy trực tiếp hay gián tiếp cả ngàn nhân viên của miền Nam, quản trị đời sống hành chánh cả triệu đồng bào. Sang đến Mỹ trong tư thế một người cán sự xã hội kiêm phiên dịch viên anh đã góp phần cải tiến cuộc sống cho đám thân chủ bần cùng của mấy thị xã ven vịnh San Francisco. Anh đã là nhà văn nhà thơ thành danh và đã tạo cho mình một chỗ xứng đáng trên văn đàn hải ngoại...

“Mình còn chút việc muốn làm...”, câu nói của anh cứ lẩn vẩn trong đầu tôi, mặc dầu anh đã chuyển sang đề tài khác, về tiết trời cuối hè đầu thu của San Francisco, về các cháu con anh, về các cháu con tôi, về nhà tôi cháy năm ngoái xây lại đã xong chưa. Tôi không nghe sự bám víu hay nuối tiếc thông thường cho cuộc sống này, mà anh tự tại như người Phật tử đã hiểu chuyện vô thường, chuyện sống ở chết về, hiểu tới một trình độ mà không có chữ tâm thì dù cho nghiền ngẫm Tạng thư tử sinh hàng tháng hàng năm chắc gì đã đạt được... Tôi cân đo chữ muốn của anh, để thấy nó đã không tham lam, lại hiền lành quá. Nó nhắc đến một chút bổn phận, cái thứ bổn phận mình tự buộc cho mình.

Rồi tôi sực nhớ ra lần trước tôi lên thăm anh, anh có chia sẻ với tôi tham vọng viết lại lịch sử đất nước giai đoạn đen tối cuối đời Tự Đức và những năm tiếp cận. Hôm ấy anh phấn khởi cho hay, tuy chưa kịp kiểm tra lại, rằng có nhiều tài liệu mới về người và việc của gian đoạn ấy... Tôi không nhớ anh nói xuất xứ từ đâu. Hình như từ những phúc trình của các khâm sứ Pháp gửi về bộ thuộc địa Paris, từ văn khố hội truyền giáo, hay từ châu phê của các vị hoàng đế cuối cùng của thời Nguyễn mạt. Anh nghe nói có nhiều phát hiện mới mẻ về sự cộng tác mật thiết giữa hai vị đại thần là ông Thuyết và ông Tường, về việc họ chia nhau hai mặt cương nhu để đối phó với Pháp, về công trạng của người này, về hàm oan của người kia, và về nhiều chuyện khác nữa. Hai ông, người đánh người hòa trong hai mặt nhịp nhàng của cùng một chiến lược chống xâm lăng... Sau khi ông Thuyết họa hổ không thành, nếu không có ông Tường đứng ra thu xếp với Pháp thì còn bao nhiêu thê thảm chúng sẽ đổ thêm lên đầu dân Việt để trả thù... Lịch sử có những vai trò bạc bẽo, làm không ổn mà không làm cũng không ổn. Chỉ có điều ở một địa vị nào đấy thì người ta phải làm thôi... Còn chuyện tứ nguyệt tam vương, chuyện hoàng thái hậu đa tình, chuyện quan nhiếp chánh hào hoa, thì miệng tiếng thế gian thường độc ác với những người nổi danh, mà đã là thâm cung bí sử thì làm sao mà biết thật hay giả...

Khi tôi vô tình hỏi anh bận tâm những chuyện lịch sử hay dã sử xa xôi ấy làm gì, anh ôn tồn bảo sự việc thực ra thì cũng không xa lắm, chỉ mới mấy đời thôi. Và với cái bình thản thường lệ, anh nói,

“Cụ Tường là cố năm đời của tôi...”.

Tôi nhớ hôm ấy tôi phản ứng theo cái sử quan ba phải của mình rằng công tội lịch sử là chuyện kính nhi viễn chi. Vì mỗi thế hệ dù hết lòng xử lý những biến cố quan trọng của mình, thành công hay thất bại phần lớn vẫn bị quyết định bởi những việc mà hai ba thế hệ trước đã làm hay quên không làm. Và trong một tập thể cùng thế hệ, việc người này làm bị ảnh hưởng bởi hành động của người xung quanh, thành công hay thất bại của một cá nhân bao giờ cũng mang ít nhiều gốc nguồn tập thể. Thắng lợi vẻ vang hay bại vong cay đắng, không ai đáng hưởng hết công mà cũng không ai đáng lãnh hết tội. Vả lại Pháp đày ông Tường sang Tahiti đến gần mãn đời mới cho về chẳng đã biện chứng hùng hồn cho bản chất chống Pháp của ông sao...

Thành thử khi anh nói về ông, tôi chỉ nhớ lại cảnh cố đô như tôi biết hồi xưa trọ học, ra ngõ một bước là gặp hậu duệ của những nhân vật lịch sử nổi danh từ phía này hay phía kia của những chiến tuyến nhiều khi đối lập. Huế nhiều quý tộc, nhưng cái quý tộc nơi Hoàng Liên không kiêu kỳ kiểu cách, hay phô trương. Ngược lại nó là cái tấm lòng quý người, cái cung cách cẩn trọng khiêm tốn anh ứng xử với tha nhân. Tấm lòng ấy cung cách ấy đã chinh phục được tất cả những ai biết anh, có lẽ kể cả những cai ngục cộng sản có bổn phận giam cầm kiểm soát anh hơn mười năm ròng rã...

Lát sau, các cháu tới thăm anh. Sau khi cho Đức địa chỉ E-mail của tôi để tiện liên lạc, chúng tôi xin cáo từ để dành thì giờ của anh cho gia đình. Câu chuyện uống nghệ vàng da không biết ai tình cờ nhắc lại ngoài phòng khách. Tôi có cảm tưởng anh nắm chặt tay tôi hơn, và nhìn thẳng mắt tôi anh nói “Chuyện cốt yếu là anh em mình hiểu nhau...”.

*

ít bữa sau cầm tập bản thảo của anh vừa in ra từ máy điện toán, tôi có linh tính đây là tác phẩm cuối cùng của anh và bài điểm sách của tôi sẽ là những lời tạ từ cho người đàn anh bạn văn quý mến.

Với cái tựa “Điên”, tuyển tập của Hoàng Liên gồm nhiều truyện ngắn đã đăng trong những tạp chí văn hải ngoại. Trừ truyện cuối về một con ngựa tên Hạc, nhân vật là những con người sống trong cảnh cơ hàn hay thiếu may mắn của thành phố Cựu Kim Sơn. Họ phần đông là đồng hương, tuy có hai người ngoại quốc một Mỹ một Nam Triều Tiên. Cốt truyện là những sự việc xảy ra trong trong thập niên đầu của đời sống định cư khi mọi người đa số còn vất vả hay thất bại. Anh biết rõ những vất vả những thất bại ấy khi giúp họ trong tư cách một cán sự xã hội kiêm thông dịch. Và anh tiếp tục phục vụ họ bằng cách đưa những vấn đề nhân sinh của họ vào văn học.

*

Ta thấy gì trong tuyển tập cuối cùng của Hoàng Liên? Trước tiên là cảm giác quen thuộc gặp lại nhà văn đàn anh khả kính đôn hậu mà bạn văn hải ngoại từ nam tới bắc, từ đông sang tây vẫn từng quý trọng yêu mến. Ta thấy những nét tài năng đã được ghi nhận bởi những bài điểm sách trên các tạp chí Văn học, Làng văn, Ngày Nay, Quang Phục, Nhân văn, Hoài bão Quê hương, vân vân... Bút pháp trong sáng, khúc triết, mạch lạc; Ảnh hưởng văn hóa đông tây hài hòa; Vốn sống cũng như kiến thức phong phú thâm hậu; Cung cách cao quý, khiêm tốn thận trọng khi kể chuyện mình và độ lượng bao dung khi kể chuyện người... Quả như Võ Phiến nhận xét, đọc Hoàng Liên, không những ta thấy được sự việc mà còn thấy được một tâm hồn rất đẹp.

Tôi nghĩ với tâm hồn đặc biệt ấy, Hoàng Liên đã tạo được những sáng tác mang rõ dấu ấn của anh. Ngay trong thân phận người tù bị kẻ thù áp tải ra Bắc sau Tết Mậu thân, gian khổ vẫn không cản được anh chiếu quán và thưởng lãm cuộc sống cũng như ngoại cảnh. Cả triệu chiến binh Việt cộng qua lại con đường mòn Hồ Chí Minh trong những thập niên chiến tranh đã để lại không thiếu gì những thơ những truyện, loại hùng ca, loại nhớ nhà, loại khẩu hiệu, loại đồng chí luyến ái nhau trong vòng phấn công tác, vân vân. Nhưng họ vẫn thiếu sự đóng góp của một một tâm hồn ngay thẳng trong sáng, nhìn mình nhìn địch với sự độ lượng tỉnh táo thấm nhuần đạo lý và mỹ học như Hoàng Liên với hồi ký “ánh Sáng và Bóng Tối” của anh.

Mấy chục năm sau tại Mỹ, cũng với cái đặc thù rất Hoàng Liên, anh đã bắt được vàng trên hè phố Cựu Kim Sơn. Con đường Folsom đã in bao nhiêu dấu giày của mọi sắc dân, du khách cũng như bản xứ, vậy mà chỉ có Hoàng Liên mới ghi lại được cái đẹp của một “tiểu ngộ” khi chợt bắt được ánh nắng vàng nhạt rực rỡ dội lên mặt dẫy phố tươi thắm, sinh động. Rồi một chiều tất niên như một truyền thống từ bao nhiêu chiều tất niên khác, những cô thư ký Mỹ chạy ra cửa sổ những cao ốc khu doanh nghiệp Cựu Kim Sơn để rộn rã vứt xuống đường những bó lịch cũ. Hàng vạn hàng triệu tờ lịch bay tơi tả trong nắng gió cuối năm như nhưng cánh bướm thời gian chi chít ghi chú những công việc phải hoàn tất, những gặp gỡ phải kịp hẹn kỳ, những điều phải nhớ... Và trăm ngàn bổn phận lớn nhỏ của thời khóa biểu một năm trong giây khắc bỗng không còn quan trọng vì đã mất thời gian tính. Vậy mà phải đợi đến Hoàng Liên, thay vì một nhà văn Mỹ - cảnh ấy mới được ghi lại. Anh vẽ bức tranh với những vật liệu rất Hoàng Liên, như hình ảnh rất Việt của đàn bướm rừng vùng Tây nguyên cố quốc chận xe anh tại một chân đèo trên đường công vụ; như ý niệm rất Pháp về thời gian, của thủa học đường trong giờ giảng văn thả hồn theo Proust đi tìm quãng đời đánh mất; như cái thiền vị rất cố đô của Huế một trưa hè tĩnh mạc trong hương sen xa xôi của hồ Tịnh Tâm...

Người ta cũng đã viết nhiều về cái triết lý đời sống trong văn anh. Triết lý không lộ liễu như những tác phẩm luận đề của nhiều nhà văn tiền chiến, mà thấm nhuần trong cách nhân vật truyện anh xử lý cuộc đời... Nhân vật của Hoàng Liên, những đứa con tinh thần của anh đã thừa huởng được cốt cách nhân bản của bậc sinh thành ra chúng. Người thông dịch trong “Điên” thấy được cái bình thường trong người đàn ông bất hạnh mà xã hội cho là điên. Những cán sự xã hội của đô thị Cựu Kim Sơn trong “Lạc loài”, “Một vụ mất tích”, và “Đứa con” có tinh thần công chức rất cao, rất nghiêm túc. Họ phục vụ mà không phê phán, và chỉ có xót thương và nhẫn nại trong liên hệ dành cho thân chủ...

Truyện của Hoàng Liên có hậu, nhân vật anh có gặp nghịch cảnh nhưng anh cho họ lối ra. Nam danh ca về chiều trong “Hoàng hôn sớm” không xuống dốc đến chỗ thảm thương. Anh còn được một nữ thính giả chạy theo bày tỏ lòng ngưỡng mộ từ thủa con gái. Hoàng Liên cũng cho anh ta đủ trí huệ để thấy lẽ vô thường của danh vọng sân khấu cũng như của cả cuộc đời mà thoát lên trên những đau khổ thường tình... Trong “Quê mẹ một mùa xuân muộn” Hoàng Liên xót xa cho người đàn bà Việt di tản đã trả nghĩa người chủ trại Mỹ bằng cả cuộc đời khi chấp nhận cuộc hôn nhân đã không tình yêu lại đạm bạc đến chỗ không cả một tấm ảnh cưới hay một bữa cơm ra mắt. Và nhân hậu, Hoàng Liên đã cố gắng đền bù cho người đàn bà một mùa xuân muộn đượm tình cố hương. Còn người chồng Mỹ già, y cũng thừa hưởng được cái vị tha, cái thương người, cái đàng hoàng của tác giả, để quyết định trả lại tự do cho vợ khi hạnh phúc của vợ có cơ hội xuất hiện...

*

Nhưng đọc Hoàng Liên lần này tôi bỗng tìm được những nét rất mới mà hôm nay tôi mới thấy. Sự việc tiêu biểu cho kỷ luật viết nghiêm túc của anh với sự rèn luyện không ngừng, mà có lẽ cũng phản ánh tình huống tạ từ hiện tại của chúng tôi. Sau hết nó phản ánh tâm trạng giao động của tôi khi ngồi bên giường nghe anh tâm sự còn chút việc muốn làm...

Cái mới cụ thể nhất của Hoàng Liên là truyện cuối của “Cho đến cuối cuộc đời” của anh. Anh đắc ý với tác phẩm này vì nhiều lý do. Thứ nhất, anh rất thích thể tùy bút. Hai nhà văn anh rất ngưỡng mộ là Võ Phiến và Nguyễn Tuân là hai nhà tùy bút lớn. Và anh đã thành công đưa thể văn tùy bút vào trong truyện. “Cho đến cuối đời” đượm hương sắc hoài cổ của cố đô, vang bóng một thời êm ả, với những ông phán, ông phủ, ông chánh tổng biết ngựa, chơi ngựa, sành ngựa... Người mua cũng như người bán đều là tri âm trong thú cỡi ngựa, cái thú phong lưu mà nhờ cung cách của họ đã trở thành tao nhã như thú uống trà. Còn con Hạc, vai chính của truyện không phải là một con ngựa tầm thường. Nó gốc gác quý tộc, không những thuộc loại ngựa chiến, mà chủ đầu tiên của nó lại là một hoàng thân phong lưu tài tử.

Nhưng có lẽ quan trọng nhất với Hoàng Liên là ở chỗ con ngựa bất kham. Nó chọn người cỡi và đã quật ngã nhiều người... Như nghệ sĩ nhiều tật nhiều tài, con Hạc dù bất kham vẫn là con tuấn mã với chức năng bình sinh là chạy. Và nó chạy rất giỏi, nước kiệu cũng như nước đại. Nhưng như mọi con ngựa, con Hạc không phải muốn chạy bao nhiêu thì chạy, mà bị gò bó trong chừng mực người kỵ mã ban cho nó. Thật ra con Hạc là ẩn dụ cho thân phận con người, không phải muốn làm gì thì làm, muốn bao nhiêu thì làm bấy nhiêu... Đúng hơn nữa, nó ẩn dụ cho người nghệ sĩ bị gò bó trong chừng mực của đời sống thực tế.

Khi Hạc gặp người kỵ mã chỉ đủ sức cỡi nó mà không đủ tài để điều khiển nó, thì cơ hội đã đến cho nó nắm được quyền chủ động trong liên hệ giữa ngựa với người. Và nó chạy theo ý nó. Nó chạy với tất cả đam mê như chưa bao giờ được chạy. Nó chạy cho thỏa chí, mê man mà chạy, chạy thẳng một hơi từ Huế về đến Quảng trị để rồi ngã ra chết...

Hoàng Liên chia sẻ với tôi rằng cái chết của con Hạc không phải là chuyện thảm thương. Thoạt tiên tôi ngạc nhiên vì đây là lần đầu tiên thấy anh vinh danh một cái đam mê thiếu ngăn nắp và không điều độ, dù của một nhân vật tiểu thuyết. Nhưng tôi cũng hiểu khi anh bảo cái chết của con Hạc là điều mơ ước của người nghệ sĩ. Đây là cơ hội được sáng tạo hết mình, sáng tạo cho đến hết khả năng, cho đến hơi thở cuối cùng. Con Hạc chết như người uống cạn ly rượu đời, nếu mượn chữ của Phùng Quán. Sáng tạo trở thành cái Sáng Tạo tuyệt đỉnh, khi mọi đắn đo gò bó tầm thường, mọi cân nhắc eo xèo bình thường đã được gỡ bỏ vứt đi.

Cái song song giữa truyện và cuộc sống làm tôi cảm động: Tuyển tập là tác phẩm cuối đời của anh; “Cho đến cuối cuộc đời” là truyện ngắn cuối tuyển tập; và sau hết con Hạc kết liễu chức năng bình sinh của nó bằng một cuộc chạy cuối cùng vượt kỷ lục, một cuộc chạy huy hoàng cho đến khi ngã gục. Tiểu thuyết bắt chước đời sống, và con Hạc chẳng qua bắt chước Hoàng Liên trên giường bệnh nan y mà vẫn bận tâm với những trang chót của tác phẩm cuối đời đang chạy trên máy in của nhà xuất bản.

Tôi ấm lòng khi ghi nhận ngay cả con ngựa bất kham dưới nhân sinh quan của Hoàng Liên cũng mượn được những nét khiêm cung, mẫu mực, đôn hậu, cẩn trọng, tư cách, và lịch lãm của anh. Cái phút huy hoàng con Hạc đã trả bằng cuộc sống, kỳ lạ thay không nhuốm dù chỉ một chút khinh bạc. Và khác với những con ngựa hoang điển hình của văn học, con Hạc không những không khinh bạc, mà cũng không lầm than lam lũ, không lôi thôi lếch thếch, không lê la trác táng... Thực tế thì những con ngựa hoang của nghệ thuật khi tỉnh rượu lúc tàn canh chắc chẳng khỏi giật mình để xót xa cho thân phận, và tiếc nuối đã không khám phá sớm hơn cái nhân sinh quan của con Hạc...

*

Chuyện mới thứ hai trong cảm nhận của tôi về Hoàng Liên liên hệ đến câu tâm sự “Tôi còn chút chuyện muốn làm” anh chia sẻ với tôi bên giường bệnh. Câu nói cả mấy tuần sau vẫn còn văng vẳng bên tai tôi, và làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi biết chắc chút chuyện anh muốn làm ấy không phải là tham vọng viết lại đoạn sử những năm hậu Tự Đức như tôi suy đoán lúc đầu. Trong một cuộc điện đàm về sau, anh đã cho tôi hay là anh không bận tâm hàng đầu về công việc ấy nữa. Anh nghĩ sự thật lịch sử trước sau rồi sẽ được sáng tỏ, chuyện công chuyện tội trước sau rồi cũng phân minh.

Tuy gỡ được một gút cột trong lời trối của anh, tôi vẫn không tiến bộ hơn trong việc tìm hiểu câu chuyện anh muốn làm mà không làm kịp. Một mặt tôi nghĩ nó phải quan trọng nên anh mới nghĩ đến nó. Mặt khác nó rõ ràng không đủ quan trọng để tạo ra buồn phiền, hay phá rầy nổi cái tự tại an bình của anh trước thử thách tột cùng của đời người.

Vậy mà tôi vẫn không quên được lời anh. Nó từ từ tăng trưởng trong đầu tôi. Vấn đề triết học chung chung, vì liên hệ với người thân, đã vận vào suy tư để trở nên tha thiết, và mệnh đề “Có thể hay có nên hoàn tất hết chuyện trần thế khi ra đi” trở thành một câu hỏi nghiêm túc cho tôi. Sau cùng tôi quyết định hỏi thẳng anh trong cuộc điện đàm cuối cùng.

Tôi có nói vậy sao?” anh thành thật hỏi lại tôi, giọng vui vui như tự riễu mình mà cũng như không tin. Té ra anh không nhớ đích xác anh đang nghĩ đến chuyện gì khi nói với tôi chuyện đó. Rồi anh đoán có lẽ anh muốn “viết thêm về tùy bút... hay nghiên cứu lại truyện ngắn... hay dành thêm ưu tiên cho văn vần. Đại khái là thế...”, anh kết luận. Tóm lại anh chỉ nói đến những sinh hoạt bình thường và liên tục của cuộc sống, và không có thê lương, không có kịch tính, không có tha thiết gì đặc biệt trong cái một chút việc anh còn muốn làm thêm...

Chân lý nằm ngay trước mặt, nếu tôi đã không vất vả đi tìm nó thì đã thấy được nó. Nơi anh, cái đẹp của cuộc sống hay của sự chết nằm ngay trong cái bình thường, cái không ly kỳ, cái không bất ngờ, cái không gay cấn. Mọi sự vô thủy vô chung. Sinh không là bắt đầu, mà Tử cũng không là chấm hết. Và còn công việc thì còn lao động, còn bổn phận thì còn gánh vác, và nếu được thêm chút thời giờ, thì lao động thêm một chút, gánh vác thêm một chút cũng là một niềm vui tùy duyên...

Và ý niệm gánh vác làm tôi nhớ đến bài giảng của người mục sư tin lành da đen tình cờ tôi được nghe hôm vào nhà thờ địa phận giáo khu Harlem để thưởng lãm thánh ca đen nổi tiếng thế giới của họ. Để khích lệ những người trong họ đạo lên đường cứu giúp đồng loại, ông mục sư kể câu chuyện hai tăng sĩ, Tây tạng, một thày một trò. Người môn đệ nặng nợ ân nghĩa với sư phụ còn hơn với cha đẻ. Lúc chưa quen nhau, gặp y lâm nạn nằm chờ chết ven đường, vị sư già đã vác y trên vai băng qua cánh đồng tuyết để mang về tu viện săn sóc. Một hôm rảnh rỗi, y hỏi sư phụ: “Phải chăng thân xác con đêm ấy là gánh nặng nhất thày đã phải vác?” Vị sư già trả lời, “Con không phải cái gánh nặng ấy. Vì cái gánh nặng nhất trên đời là khi trên vai không còn gánh nặng nào nữa...”. Hôm nay nhớ lại câu chuyện điện đàm với anh, tôi thưởng lãm ẩn dụ của người mục sư khu phố Harlem với một chiều sâu mới.

Tôi gói ghém sao đây bài tạ từ đang viết cho anh? Tất nhiên tôi không giác ngộ đủ để có thể miễn nhiễm được cái buồn của chuyện sinh tử tan hợp. Nhưng đọc truyện cuối của anh, nhớ lại hôm bên giường bệnh, ôn lại những câu chuyện điện thoại với anh, tôi lắng nghe bên cạnh cái buồn, thăng hoa lên như tiếng sáo diều của quê cũ của chúng ta, cái tình hoài hương anh dành cho một miền đất không hẳn bao giờ cũng công bình tử tế với anh. Anh đã chọn mến yêu nó, chọn nhớ lại nó với tất cả tình thương, với tất cả khoan dung độ lượng mà anh đã không được hưởng... Còn nữa, trong tiếng sáo diều êm ả đó, tôi còn nghe những âm ba rất thanh thoát rất đẹp dâng lên từ cung cách trang nhã anh xử lý chuyện tử sinh...

Mai Kim Ngọc
Dec. 12, 2000.

whiteball.gif (923 bytes)

Hoang Long Hai (Tue Chuong)
Nguồn: VietNam Review | 2006-01-07 11:24:22
Link:
http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=2515

Re: Nguyễn Văn Tường, Nỗi Oan Lịch Sử (II)

Kinh goi ong Tran Xuan An,

(Xin cam phien ong vui long goi goi tiep cho VNNew. Toi da goi roi nhung khong hieu vi sao bai lai khong duoc chuyen di).
Mass, USA ngay 9 thang 2006

Thua Ong

Toi co e-mail tra loi theo loi ong yeu cau, nhung khong hieu sao bai toi khong duoc VNReview chuyen di.
Nay, toi lai thay ong yeu cau lan nua, nen toi lai xin tra loi ong nhu sau:
Cach day khoang 10 nam, ong Le Huu Thang (LHT), Hoi Truong Hoi Quang Tri o Colorado la mot nguoi ban hoc cu cua toi o truong Trung Hoc Quang Tri nien khoa 1952/53 co goi dien thoai cho toi noi la ong Nguyen Van Dai, mot hau due cua quan Phu Chanh Dai Than Nguyen Van Tuong (NVT), co yeu cau hoi Q T tim mot nguoi nao do co the viet doi dieu de minh oan cho quan Phu Chanh.
Toi khong phai la su gia, chi la mot nguoi day su 10 nam (1958-68) va hay viet bao voi tinh cach nghiep du nen ong LHT nho toi lam viec nay. Vi la mot nguoi co quan tam den su kien NVT tu truoc nen toi nhan loi.
Bay gio, de tra loi thac mac cua ong, truoc het toi xin noi qua ve ong Nguyen Van Đãi (NVĐ). Ong ba NVĐ nguyen la giao su truong Dong Khanh Hue. Nam 1966, khi tuong Hoang Xuan Lam dam nhan chuc vu Tu lenh Quan Doan 1, ong khong nhan kiem nhiem Dai Bieu Chinh Phu (theo nhu cau hoi do). Vi vay, ong yeu cau ong Nguyen Van Đai, mot nguoi ba con ben vo tuong Lam, dam nhan chuc vu nay. Nam 1968, khi Viet Cong (VC) tan cong thanh pho Hue, ong NVD bi Viet Cong bat, dem ra Bac. Ong NVD bi tu den sau 1975 moi duoc tha ve. Sau do, ong NVD qua “ Trang Den”, noi ve nhung ngay ong o trong tu Viet cong ngoai Bac. Ong khong ky ten that ma ky but hieu la Hoang Lien.
Khi viet ve Cu NVT, toi khong co tai leu. Va lai, theo toi nghi, viec viet su la de may ong su gia, con toi mot nguoi day su, hieu va nhan xet duoc qua Viet Nam Su Luoc (VNSL) cua Cu Tran Trong Kim (TTK) thi cung du noi ve noi oan, - chi noi ve noi oan thoi - cua Cu NVT roi. Ngay VNSL cung co nhieu lan can roi. Do do, nhu ong thay, bai toi viet can cu tren VNSL la chinh.
Khi sap sua viet, ong NVD co goi cho toi mot it tai lieu. Tat ca nhung tai lieu do, toi gom het va in trong phan phu luc cua bai toi viet. Trong phan nay, co bai cua ong Vinh Lai, toi chi thay ten do ong NVD trao lai, chu toi khong ro ong nay la ai, cung nhu mot so bai tho cua cu NVT. Theo loi giai thich cua ong NVD noi voi toi thi nhung bai tho nay, ong ay co nho mot vai nguoi dich ra quoc ngu, nhung bai dich chua duoc chinh.
Toi khong tim hieu nhung tai lieu nay do dau ma ong NVD co. Toi nghi viec do khong phai la dieu toi phai lam. Rat tiec la ong NVD vua qua doi cach day may nam. Neu nhu ong con song, ong co the hoi thang ong ay thi rat tien. Tuy nhien, toi hy vong Ba NVD cung co the tra loi ong viec nay duoc, tuy khong ro nhu ong ay.
Viec toi viet bai ve Cu NVT, cung co nguoi hoan nghenh, nhu ong NVD va co loi cam on (di nhien vi toi viet ve cu NVT) nhung cung co nguoi phan ung. Vi du, trong bai viet, co may chu ”Ong Nguyen Hưu Độ (theo đao Thien Chua)”. Ong Nguyen Ly Tuong (GS NLT), thuong goi la Giao Su Nguyen Ly Tuong trach cu toi tai sao lai mo ngoac nhu the va co cho toi biet rang ong Nguyen Hưu Đo, khong theo dao Thien Chua bao gio. GS NLT hoi toi can cu vao dau ma viet nhu the va co bao toi rang khi viet phai tra cưu sach vo cho dang hoang (Co nghia la toi viet khong dang hoang). Cung may, toi tim lai duoc bai viet cua ong Tien Si Vu Ngu Chieu (TSVNC), trong do noi rang ong “NHĐ la nguoi theo dao Thien Chua”. Toi ben trich lai doan van ay cua TSVNC ma goi cho ong GSNLT, roi toi yeu cau hai ong thao luan voi nhau cho ro van de. Ong nao cung la su gia nen ho co du trinh do va tai lieu de noi voi nhau, con toi thi thay sach viet sao, toi viet lai vay ma thoi. Khong biet hai ong nay co thao luan gi voi nhau khong va viec di toi dau roi.
Tom lai, ve ong Hoang Lien thi toi da trinh bay voi ong roi. Ve ong Vinh Lai hay nhung nguoi dich tho cua Cu NVT nhu toi kem trong phan phu luc, thi toi chi viet lai theo ong Hoang Lien. Toi hy vong ong se lien lai duoc voi gia dinh ong NVD de van de duoc ro them.
Xin cam on ong da doc bai toi viet. Va nhan tien dau nam Tay, xin kinh chuc ong suc khoe va nhieu hanh thong trong cong viec ong dang lam.

Kinh
Hoang Long Hai (Tue Chuong)

_________________

(*) Đầu đề chung do Trần Xuân An đặt.

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: giaodiem@giaodiem.com