giaodiem copyright

posted: 11.12.2005

giaodiem
 
giaodiem copyright

  ... KINH NGHIỆM, NỤ CƯỜI NƯỚC MẮT 

HUYỀN KHÔNG 

             Tôi tẩn mẩn đọc lại những lời Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch viết riêng cho tôi được in trong Kỷ Yếu Sinh Nhật mà thấy nhớ và cảm mộ tấm lòng của Giáo Sư vô cùng. Tình cảm của hơn 40 năm quen biết giữa tôi và Ông lúc nào cũng nhẹ nhàng, lặng lẽ, có khi phảng phất chút trang nghiêm của Đạo, chút tịch mịch của Triết và nhiều nhất, là niềm cô đơn thân mật của Thơ. Thỉnh thoảng có gặp nhau, bắt đầu cũng là hương trà cổ kính và câu chuyện trôi về những bến bờ thẩm mỹ thanh khiết, xa rất xa những ồn loạn phố thị, những lôi cuốn phồn hoa. Dáng dấp người nghệ sĩ đích thực như là phong thái một đời của Trần Hồng Châu, cuối cùng, có khác chi hình ảnh một tu sĩ, ung dung với cảnh sống tịch lặng, lúc nào cũng thiết tha chân thành với Đạo - Đạo ở đây là con đường đi của những lời thơ, những trang chữ được viết ra với tất cả sự trân trọng yêu quý, phơi trải hết tất cả vẻ đẹp long lanh của tinh thần. Đó là một vẻ đẹp nguyên vẹn về cuộc đời Trần Hồng Châu mà tôi có, tôi đã giữ lại... cho tới lần gặp sau cùng khi ông đang nằm khắc khoải trên giường bệnh, mà khi bốn mắt chạm nhau, ông cũng vẫn miệng cười ấm áp. Tuy sức khỏe đã đến hồi suy kiệt, không gượng dậy nỗi, Ông cũng mới vừa cho in xong tác phẩm cuối của đời mình ‘Suối Tím’, đem ký tặng bạn như gửi gắm một lời từ giã. Tôi may mắn và hân hạnh là người đầu tiên được tác giả đề tặng sách, cuốn sách nằm im nơi ngực trái, chờ bàn tay ngón đã run, viết mấy lời của trái tim thơ dường như đã tiên liệu một xa cách nghìn trùng đang ló dạng. Nước mắt tôi xúc động trào ra hòa với cũng đôi dòng nước mắt lặng lẽ của người yêu chữ chảy vào biển tình văn nghệ bao la. Rõ ràng, Ông chính là vẻ đẹp của những bài thơ đậm mầu trí tuệ của ông. Ông chính là hương thơm và màu sắc của những trang tùy bút nhẹ nhàng tươi tắn của Ông. Văn, thơ đó chính là Người, một Người đã sống tới cạn cuộc đời mình bằng suy tư trí thức, với chữ nghĩa rộng lượng. Tôi thương Giáo Sư với một tình thương nồng nàn như thế và tôi cũng từng ví Ông như con bướm vàng bay vờn trên các vườn hoa mỗi khi có dịp được nghe ông giảng bài hay nói chuyện.

            Giao tình giữa chúng tôi có để lại cho Ông một chút bối rối lúc cuối đời. Số là tôi có yêu cầu Ông viết đôi lời cho lần in lại tập sách Ảnh Hưởng Phật Giáo trong Nền Văn Hóa Việt Nam. Lý do để có lời yêu cầu đó là vì đề tài là nội dung buổi nói chuyện của tôi tại Đại Học Văn Khoa Saigon năm 1960, trước lúc tôi lên đường du học. Và gần gũi hơn nữa là vì ông đã đảm nhận trọng trách Khoa Trưởng Văn Khoa trong một thời gian dài. Ông đã rất hoan hỷ nhận lời. Viết đi rồi viết lại, không ưng ý, lại khởi sự viết... Cho tới lúc bệnh tới mà việc chưa thành. Có lẽ đó là một gợn bận tâm đã có trong lòng Ông bởi vì theo ông, cái gì được hiến tặng qua lại giữa chúng tôi với nhau phải là những kỹ vật. Mà kỹ vật của ông thì tôi còn giữ lại rất nhiều: 5, 6 tác phẩm là công trình thai nghén một đời, Bức hình tượng Phật xưa bằng gỗ Chiên Đàn mà Ấn Độ đã tặng cho thành phố Trường An... Bức tượng nầy là kỷ niệm của ngày gặp lại Ông ở Los Angeles sau nhiều năm Ông kẹt lại trong nước. Tặng phẩm đó Ông muốn tôi lưu giữ một phần là cảm tình nồng hậu và phần khác, Ông cũng hy vọng rằng tôi sẽ là người biết gìn giữ. Tôi treo bức ảnh ở chỗ trang trọng nhất bên cửa ra vào của Chùa Việt Nam Los Angeles cho ai tới chùa cũng được cơ duyên nhìn thấy tượng xưa. Thu năm nay cũng là gần tới ngày kỷ niệm húy nhật 2 năm của Ông. Chẳng biết bây giờ Ông đang vân du chốn nào. Mỗi lần nhìn lại bức tượng Phật xưa, tôi nhớ Ông, nhớ tha thiết Trần Hồng Châu Nguyễn Khắc Hoạïch, đã có một lúc nào đem đôi mắt hiền lành trí tuệ cúi xuống trầm ngâm trên hàng chữ mới vừa viết xong cho riêng một người mà hành hoạt một đời dường như... Huyền Không đã sống trọn vẹn kinh nghiệm, nụ cười nước mắt...

            Tôi không nghĩ là câu nói ấy lột tả đúng đắn nhất những gì tôi đã gặt hái trên đường đời tôi đã đi. Mọi sự xẩy tới cho tôi, tôi nghĩ vẫn rất nhiều ưu đãi. Đôi khi phải giáp mặt với những phút khó khăn, nhưng rồi cũng qua, tôi vẫn giữ nụ cười lành như chưa từng vấn vương nước mắt. Ngay cả những lúc chìm sâu trong nổi cô liêu tận cùng mà nhớ tới câu nói...kinh nghiệm, nụ cười nước mắt... là tôi nghĩ ngay tới Thầy Thiện Minh. Chính Thầy, cả cuộc đời của Thầy, những giấc mộng dở dang Thầy hằng ôm ấp cho Đạo, cho Đời... đã bị chôn sâu dưới chiếc bóng nặng nề của câu nói ấy. Thầy Thiện Minh, nhà lãnh đạo lỗi lạc và quý hiếm của Phật Giáo Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 20 đã sống và chết với trọn vẹn giấc mộng đời mình. Giấc mộng đó là Độc Lập cho Dân Tộc, Hòa Bình cho Đất Nước, Dân Chủ Tự Do cho Con Người. Dân Tộc, Đất Nước và Con Người ở đây là Việt Nam. Chọn lựa sống cho giấc mộng đó, Thầy trở thành người tù của mọi chế độ thực dân, độc tài và ngoại thuộc.   Không một chế độ nào biết đối xử bao dung với Thầy dù Thầy trong cương vị bảo về quyền dân lúc nào cũng kiên nhẫn và rộng lượng với mọi chế độ. Thầy sẵn sàng giúp đỡ, che chở cho rất nhiều người mà dẫu sau đó, nhận lại những ơ thờ, quên lãng, thì Thầy cũng mỉm cười tha thứ, chẳng bận lòng trách cứ. Tôi nhớ mãi một cố sự về Thầy phản ảnh rất cụ thể tấm lòng rộng mở của Thầy. Năm 1969, Thầy rủ tôi cùng đi Nhật Bổn, trước là để chữa bệnh, sau lần chấn thương vì lựu đạn trước Tổng Vụ Thanh Niên, sau là với tư cách một nhà lãnh đạo PGVN đi thăm viếng và cám ơn chính phủ cùng nhân dân Nhật đã tỏ lòng ủng hộ, chia xẻ với PGVN trong các cuộc đấu tranh 1963, 1966... Chúng tôi chọn ở Prince Hotel để có phòng tiện nghi nhằm tiếp khách và lập một lịch trình thăm viếng chi tiết, trong đó có tới viếng Ông Bộ Trưởng Ngoại Giao. Đầu tiên, nghĩ tới những ân nghĩa cũ với Ông Đại Sứ Việt Nam ở Tokyo, Thầy nhờ tôi điện thoại để mượn xe của Tòa Đại Sứ, dùng cho việc thăm viếng thêm trịnh trọng, nhưng được Ông Đại Sứ trả lời là ‘xe hư hết cả rồi, không có xe cho Thầy mượn’. Thầy buồn, rưng rưng nước mắt, nghĩ miên man đến tình đời và thở ra. Tôi phải liên lạc với Ông Nghị Sĩ Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện để nhờ giúp đỡ. Ông sốt sắng đáp ứng, cho xe và tài xế để Thầy Thiện Minh xử dụng toàn thời gian ở Nhật. Ông Nghị Sĩ còn làm trung gian thu xếp để Ngoại Trưởng Miki gặp gỡ Thầy trong một tiệc khoản đãi mở rộng có sự tham dự thêm của 16 Tổng Trưởng và Nghị Sĩ Nhật. Trước khi nhập tiệc, Ông Ngoại Trưởng đã thay mặt quan khách và chính phủ nói mấy lời chào đón và xin được tiếp Thầy như một quốc khách. Tiệc tàn, và đúng như lời báo trước của ông Bí Thư Bộ Ngoại Giao với Tòa Đại Sứ VN, là chúng tôi sẽ đến vấn an Ông Đại Sứ vào lúc 5 giờ chiều. Tới nơi, cuộc gặp gỡ đã diễn ra trong thân mật, vui vẻ. Hôm sau, Ông Bà Đại Sứ thân hành đến Hotel để thăm trả Thầy Thiện Minh và cho biết rằng xe đã sửa xong, muốn đem cho Thầy mượn. Thầy hoan hỉ từ chối vì không còn nhu cầu nữa. Để đánh tan sự áy náy trong lòng, ông Đại Sứ muốn mời Thầy đến Tòa Đại Sứ ăn cơm. Thầy nhận lời. Tôi bất bình cự nự, nhưng Thầy cười hiền: Mình không nên ‘cạn tàu ráo mán, mà tội! Thầy ơi, cả đời Thầy, Thầy nhận chịu cho người ta ‘cạn tàu ráo mán’ với Thầy, còn Thầy thì...

            Đã 27 năm đi qua kể từ ngày thầy bỏ thân nơi nhà tù Hàm Tân lạnh lẽo - Giác linh Thầy chắc vẫn còn nhớ chuyến đi nhiều kỷ niệm kia. Bên cảnh Phật, tôi chắc là cũng nhiều khi Thầy còn đoái thương thế giới Ta Bà, ngoảnh nhìn lại mà xót xa hơn cho những ... kinh nghiệm, nụ cười nước mắt...

            Hai mươi bảy năm, chúng tôi, bạc phận lênh đênh, nhớ Thầy, chỉ biết khóc thương thầm lặng. Hai mươi bảy năm rồi mà Đất Nước vẫn chưa đủ sự rộng lượng để tưởng nhớ và dựng lại đích thực một hình bóng Thích Thiện Minh lịch sử.  Biết đến bao giờ mới thôi nỗi đoạn trường ... kinh nghiệm, nụ cười nước mắt!  

Huyền Không

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: giaodiem@giaodiem.com