| .......... |
. |
-
- "BÍ TÍCH" CÔNG GIÁO
- Trần Chung Ngọc
- Trích từ cuốn "Đức Tin Công
Giáo"
- Giao Điểm xuất bản, 2000
Trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma (Công Giáo),
"bí tích" hay "nhiệm tích" là những lễ tiết tín đồ bắt
buộc phải tin hiệu năng bí mật của chúng theo như những lời "giáo
hội dạy rằng", dù giáo hội "bí đặc", không làm sao giải
thích được tại sao lại phải tin như vậy, vì bản chất những "bí
tích" này thuộc loại mê tín dị đoan. Ví dụ, trong lễ "rửa tội",
sau vài lời lẩm bẩm bằng tiếng La Tinh là linh mục có thể truyền cho quỷ
Sa-tăng (Ca- Tô Giáo tin rằng bất cứ ai mà chưa rửa tội thì cũng có Sa-tăng
nằm vùng trong người) ra khỏi một đứa trẻ sơ sinh chưa biết gì ngoài
việc bú, ngủ, ị, tè v..v.., để nhường chỗ cho Chúa ba ngôi vào ngự
trong người đứa nhỏ; hoặc linh mục sờ tay vào tai đứa bé là có thể
làm cho đứa bé mở tâm hồn ra để đón rước Chúa. Một ví dụ khác là
trong lễ Ban Thánh Thể (Eucharist) tín đồ phải tin rằng, một cái bánh nhỏ
làm bằng bột, sau khi được linh mục hoa tay làm phép, lẩm bẩm vài câu
Thánh hóa, cái bánh đó biến thành thân thịt đích thực của Chúa Giêsu,
ăn vào sẽ được hiệp thông cùng Chúa. Những "bí tích" trong
Ca-Tô Giáo đại loại như vậy cả, trong khi giáo hội vẫn dạy tín đồ,
và tín đồ cũng tin như vậy, rằng Ca- Tô Giáo là một tôn giáo
"Thiên khải" chân thật duy nhất, tuyệt đối không có chút mê
tín dị đoan nào, không giống như những tôn giáo thấp kém mê tín dị
đoan khác. Giáo hội đã nhồi vào đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ, rằng
tất cả những gì giáo hội bày đặt ra và bắt tín đồ phải tin đều là
thật, và đó là những "bí tích" hay "nhiệm tích", nghĩa là
những tích bí mật và màu nhiệm do Chúa đặt ra, cho nên tín đồ chỉ việc
tin, không cần hiểu. Khi trí tuệ nhân loại chưa mở mang thì những cái gọi
là "bí tích" đó được tín đồ tin theo, không bàn cãi. Nhưng tiến
hóa là một định luật của vũ trụ trong đó có con người, cho nên, với
trình độ hiểu biết của con người ngày nay, những niềm tin mù quáng,
vô căn cứ, hoang đường, phi lôgic, phản lý trí, phản khoa học v..v.. vào
những "bí tích" trong Ca-Tô Giáo không còn chỗ đứng nữa, ít ra
là trong giới có học, trí thức và khoa học, ở trong cũng như ở ngoài
giáo hội. Trong những xã hội Âu Mỹ, số người đi lễ nhà thờ giảm
sút một cách rõ rệt. Điều này chứng tỏ những "bí tích" không
còn hấp dẫn đối với những tín đồ có trình độ hiểu biết cao. Hiện
tượng nhà thờ vắng khách ở Âu Châu là một sự kiện không ai có thể
phủ nhận. Trong khi đó, tại những nước chậm tiến như Phi Châu, Nam Mỹ,
Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân và một số ốc đảo ngu dốt ở Việt Nam (từ của
Linh Mục Trần Tam Tĩnh) cũng như trong những cộng đồng đông đảo người
Việt di cư, trình độ dân trí còn thấp, cho nên tín đồ Ca-Tô vẫn còn
đi lễ nhà thờ đông đảo và tin vào những cái gọi là "bí
tích" mà Giáo hội dạy các tín đồ là do Chúa đặt ra, nhưng thực ra
chỉ là Giáo hội đặt ra để tạo quyền lực tự ban cho giới chăn chiên
trong việc kiểm soát và nắm giữ đầu óc tín đồ. Tuy nhiên, ngày nay có
nhiều dấu hiệu cho thấy các quốc gia Phi Châu, Nam Mỹ và ngay cả trong những
ốc đảo Ca-Tô ở Việt Nam, con người đã bắt đầu thức tỉnh, song song
với sự mở mang dân trí trong những quốc gia này.
Trong Ca-Tô Giáo, có 7 "bí tích" chính qua những lễ
tiết và nghi thức đượm màu mê tín như: rửa tội, thêm sức, xưng tội
và giải tội, ban thánh thể, truyền chức linh mục, hôn phối, và xức dầu.
"Bí tích" Truyền Chức Linh Mục đột nhiên biến một người học
nghề linh mục trong vài năm thành một người có quyền thay Chúa để thực
hiện những phép lạ trong 6 "bí tích" còn lại. Với quyền năng tự
tạo này của giới chăn chiên như linh mục, giám mục v..v.. , giáo hội có
thể dùng 6 bí tích kia để ngự trị, kiểm soát, và mê hoặc tín đồ từ
ngày sinh, bắt đầu bằng bí tích rửa tội, cho đến ngày chết, bằng bí
tích xức dầu.
Sau đây tôi sẽ đi vào phần phân tích những bí tích
trên, dựa trên tài liệu của những giới chức trong Gia Tô Giáo như giám
mục, linh mục v..v.., những vị đã hành nghề chăn dắt tín đồ trong nhiều
năm, đã thực sự làm chủ lễ những lễ tiết này nhiều lần, và do đó
đã hiểu rõ và thấy rõ sự thực về những bí tích này hơn ai hết.
Trước hết là bí tích "Truyền Chức Linh Mục",
vì bí tích này có thể nói là then chốt trong thủ đoạn ngụy biện, tạo
ra những thần quyền cho giới lãnh đạo Ca-Tô mà mục đích chính là để
nhốt những con cừu nhẹ dạ, cả tin, vào trong khuôn phép của giáo hội.
3.1. Bí Tích Truyền Chức Linh Mục.
Sách Giáo Lý Công Giáo (Katholischer Katechismus), bản dịch
của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên, nhà in Zieleks, Texas, xuất bản năm
1991, viết về nghi thức Truyền Chức Linh Mục như sau, trang 231:
"Khi phong chức linh mục, đức giám mục im lặng đặt
tay trên đầu mỗi vị phụ tế và cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống
trên họ. Các vị linh mục dự lễ cùng đặt tay trên đầu họ như vậy.
Bấy giờ đức giám mục mới hát kinh tiền tụng để phong chức linh mục.
Giám mục lại cho các vị đeo khăn vai quàng qua ngực và mặc áo lễ để
chỉ dấu hiệu linh mục. Đoạn xức dầu thánh vào hai bàn tay và trao chén
thánh đựng rượu nước, như dấu chỉ từ nay các vị có thể dâng thánh
lễ. Đoạn giám mục cử hành thánh lễ cùng với các vị tân linh mục.
Sau cùng, giám mục còn đặt tay lần nữa trên đầu các vị tân linh mục
mà đọc rằng: "Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần, chúng con tha tội cho
ai thì họ được tha, cầm giữ ai thì họ bị cầm giữ".
Trước khi bình luận bí tích này, có lẽ chúng ta cũng nên
biết các linh mục đã được đào tạo như thế nào, rồi từ đó chúng
ta mới có thể suy ra thực chất những điều sách Giáo Lý Công Giáo viết
về bí tích truyền chức linh mục.
Linh Mục Joseph McCabe mô tả về sự đào tạo linh mục vào
khoảng giữa thế kỷ 20 trong cuốn Sự Thực về Giáo Hội Ca To⍊ như
sau:
Các linh mục được tuyển mộ khi còn rất trẻ tuổi, và
thường được tuyển trong giới ít học. Trong mọi quốc gia, hiện nay
giáo hội gặp khó khăn trong việc tuyển mộ những người xứng đáng, và
do đó phải hạ thấp nhiều tiêu chuẩn về khả năng. Như là một quy luật,
được chọn vào làm nghề linh mục là những thanh niên trẻ, đối với họ
việc tấn phong linh mục có nghĩa là được thăng lên một địa vị và uy
tín mà với những khả năng của họ, họ không thể đạt được ở ngoài
đời.
Điều này đặt cái gánh nặng đào tạo họ hầu như hoàn
toàn vào trong tay giáo hội, và sở học của họ thường rất nghèo nàn. Rất
ít linh mục đọc được những tác phẩm của những tác giả viết bằng
tiếng La Tinh (trừ Ceasar), hay là hiểu Horace, Tacitus, hay Juvenal. Về tiếng
Hi Lạp, như là một quy luật, họ chỉ có một kiến thức sơ đẳng mà họ
thường quên ngay. Về khoa học, lịch sử, và triết lý, theo cái nghĩa hiện
đại, như là một quy luật, họ không có một kiến thức nào.
Khoa học được dạy trong một số rất ít các trường huấn
luyện Linh mục và cũng chỉ ở trình độ sơ đẳng và trong một thời
gian ngắn. Sử học được trình bày trong vài bài về lịch sử Ca- Tô, do
các tác giả Ca-Tô viết.
Về khoa học và sử học, tôi không được học một bài
nào trong suốt thời gian đào tạo, và, như tôi đã nói, cái "triết học"
mà tôi học được chỉ liên hệ đến triết học hiện đại một cách
ít ỏi như là sự liên hệ của khoa chiêm tinh học với thiên văn học.
Cái nền giáo dục mà giáo hội ban cho tôi đã được chứng
tỏ rõ ràng khi tôi "trở lại đời". Tôi không thể kiếm được
một chân dạy học với đồng lương 10 đô la một tuần. Ông Forbes, bạn
tôi, sau khi khảo sát kiến thức của tôi, rất tiếc mà bảo tôi rằng, sở
học của tôi thật là vô dụng. 3 Linh mục đồng nghiệp của tôi lặng lẽ
bỏ giáo hội ra kiếm sống ở ngoài đời. Cả 3 đều thất bại và phải
quay trở lại giáo hội. Giáo hội chắc chắn là có nhiều linh mục như vậy." [1]
Linh Mục James Kavanaugh, trong cuốn Một Linh Mục Hiện Đại
Nhận Xét về Giáo Hội Lỗi Thời Của Ông có kể về sự huấn luyện
các linh mục như sau:
Sau Trung học tôi theo học 4 năm cho đến khi tôi được nhận
là có đủ khả năng làm Linh mục. Trong học trình của tôi, rất hiếm khi
bàn đến những nghi vấn hay quan niệm mà thường là hoặc trắng hoặc
đen.
Thí dụ như, trong môn triết học, chúng tôi học qua
Berkeley, Hume, và Kant chỉ trong vòng 1 tuần lễ..Chúng tôi phải học thuộc
lòng từng mỗi đề luận và định nghĩa và chứng minh rằng "lý
trí" chỉ có thể dẫn một người lương thiện đến niềm tin. Chúng
tôi là những người chân thật duy nhất vì chúng tôi đã bênh vực bằng
"lý trí" tất cả những giáo lý về đạo đức của giáo hội.
Giáo hội Ca-Tô chống ly dị và kiểm soát sinh đẻ, chống tự do ngôn luận
và tự do tư tưởng, chống sự giải thoát con người khỏi những cơn đau
đớn, chống ngoại tình, tất cả đều là những kết luận hiển nhiên của
một "lý trí" không bị che mờ bởi ham muốn và lòng kiêu hãnh. Sự
hiện hữu của hàng triệu người "không có lý trí" có vẻ như là
không quan trọng đối với giáo hội... Đó là một nền giáo dục không
có sự đồng tình, một sự huấn luyện không có sự giúp đỡ. Tôi nghe
những gì họ muốn tôi nghe, và nói những gì ban giám đốc mong muốn tôi
nói như vậy. Người nào chống đối thì bị gạt ra ngoài. Chỉ có những
người phục tùng luật lệ, hay những kẻ ngây thơ, tiêu cực mới tồn tại.
Sáng kiến không được khuyến khích trừ phi đi theo đường lối đã được
chấp nhận. "Tà đạo" là danh từ để chấm dứt mọi luận cứ,
và "Giáo hội dạy rằng" là nghị trình nhỏ hẹp của mọi tranh
luận. Tôi không được giáo dục mà được nặn thành. Tôi không được
khuyến khích suy nghĩ mà chỉ được huấn luyện để bênh vực giáo hội.
Người ta không muốn tôi suy tư mà chỉ muốn tôi học thuộc lòng.
Chúa ơi! Tôi đã trở thành cái gì? Người đòi hỏi tôi dẫn
dắt con chiên với sự yếu kém của xác thịt tôi, phục vụ những người
đang vật lộn với tội lỗi, và tôi đã trở nên một người cứng rắn
và thoải mái trong sự phục vụ chính mình. Tôi không phải là "một
đấng Ki Tô khác", (Giáo lý Ca-Tô nhét vào đầu những tín đồ có đầu
mà không có óc cái giáo lý giáo hội bịa ra để ngự trị trên đám tín
đồ là: "Cha cũng như Chúa". Chẳng thế mà gần đây ở trong nước,
trước những lời than phiền của giáo dân về sự bê bối của các Cha
thì có ông Giám mục răn rằng: "Các con đừng có nói hành các Cha mà
mắc tội với Chúa." (xin đọc bức thư ngỏ của LM Nguyễn Hữu Trọng
gửi Giáo Hoàng và Hồng Y Phan Đình Tụng, đăng trong cuốn Tại Sao Không
Theo Đạo Chúa, Tập 2; TCN)) và tôi cũng không hẳn là một con người. Tôi
chỉ là một tù nhân, một mẫu mực được tổng hợp, một kẻ bênh vực
cho một quá khứ mệt mỏi.
Chúa ơi! Nếu tôi sẽ trở thành một linh mục thì trước
hết hãy để cho tôi làm một con người đã. Đừng bắt tôi phải trốn
đằng sau cái cổ áo thày tu, chức tước, cái bề ngoài giả dối của
tôi. Đừng bắt tôi phải đưa ra những câu trả lời mà chính tôi không
còn tin, hoặc bắt tôi phải đúc nặn giáo dân thành những người không
có nhân tính và những người đần độn chỉ biết tuân phục. Hãy để
cho họ biết đến những nghi vấn do chính miệng tôi nói ra, và hãy để
cho họ nói ra những nghi vấn của họ một cách thật thà. Đừng để cho
tôi trói buộc họ vào giáo luật và địa ngục, hoặc làm họ sợ hãi với
những câu chuyện về cái chết bất ngờ..." [2]
Linh Mục Emmett McLoughlin mô tả thực chất giáo dục Gia Tô
trong việc đào tạo Linh mục như sau, trong cuốn Văn Hóa Mỹ và các Trường
Học Ca-To⺼/font>
"Tôi không được học để suy nghĩ. Từ những năm của
thời thơ ấu qua thời kỳ thiếu niên bối rối (trong nhà Dòng) cho đến
khi thành người lớn, đầu óc tôi bị đúc trong một mô thức trí thức cũng
như là được đúc trong bê tông. Sự tiếp cận khoa học của tôi trong 21
năm là một cua về vật lý sơ đẳng. Trong 12 năm, tôi chẳng học được
gì về văn học nổi tiếng của hoàn cầu. Những ánh sáng trí thức này
được giam chặt trong Danh Sách Những Cuốn Sách Cấm Đọc của Giáo hội.
Nói ngắn gọn - tôi không được giáo dục - tôi chỉ bị
tẩy não. Tôi đã đạt đến trình độ khô cứng của sự hiểu biết trí
thức xoàng xĩnh. Tôi đã trở nên một người máy, một linh mục với những
lễ nghi thiêng liêng không rõ ràng, vô nghĩa ở sự hiệu quả của chúng cũng
như là những bài ca của các thầy Pháp Haiti. Tôi là một kỹ thuật viên
của giáo hội được huấn luyện để đúc nặn những bộ óc trẻ, dễ uốn
nắn..." [3]
Kiến thức của các giám mục, linh mục cũng được linh mục
Trương Bá Cần nhận định như sau trong cuốn Nguyễn Trường Tộ: Con
Người Và Di Thảo:
"Về Tây học, thì ông (Nguyễn Trường Tộ) quả có
được các linh mục thừa sai và, đặc biệt, Giám mục Gauthier dạy cho tiếng
Pháp và truyền đạt một số kiến thức khoa học, chỉ có thể là, rất
phổ thông...vì các thừa sai thuộc Hội Truyền Giáo Nước Ngoài (MEP) tuyệt
đại bộ phận chỉ học xong chương trình phổ thông, rồi vào các đại
chủng viện học làm linh mục để gởi đến các nước truyền đạo".
Từ những tài liệu trên, viết bởi các linh mục, chúng ta
thấy rằng, trình độ kiến thức của các linh mục không có gì đặc biệt,
và mục đích đào tạo các linh mục là biến họ thành những cái loa
phóng thanh của Tòa Thánh Vatican, chứ không phải để mở mang đầu óc con
người, mà trái lại để tẩy não, gò bó đầu óc con người theo một chiều
hướng nhất định và do đó, những linh mục sau khi tốt nghiệp cũng giống
như những con ngựa bị che mắt, chỉ biết đi theo một hướng nhất định.
Cái hướng nhất định này là dùng mọi thủ đoạn để thu nhặt tín đồ,
vơ vét của cải thế gian, ngự trị trên đám tín đồ thấp kém, và bảo
vệ những tín lý đã lỗi thời của Ca-Tô Giáo qua những luận cứ Thần
học mập mờ, ngoài khả năng phán đoán của đa số tín đồ ít học. Vậy,
chúng ta có thể tin được rằng, một người học vài năm trong trường Dòng
để thành linh mục với một kiến thức thuộc loại một chiều như được
mô tả trong các tài liệu trích dẫn ở trên, khi tốt nghiệp là được Chúa
ban cho quyền thay Chúa để có thể làm một số những chuyện thuộc loại
phù phép trong các bí tích hay không? Mà Chúa ở đâu mà ban quyền, Thánh
Linh ở đâu mà linh mục nhận lãnh? Tất cả chỉ là một mớ luận điệu
thần học mê tín, huyễn hoặc, hoàn toàn không có một căn bản hay bằng
chứng thuyết phục nào, của giáo hội phát minh ra và nhét vào đầu tín
đồ từ khi còn nhỏ. Vì bị nhồi sọ từ nhỏ nên các tín đồ đặt tất
cả những niềm tin của mình vào những lời có tính cách lừa dối của
giới chăn chiên mà không hề nhận ra những sự vô lý và mâu thuẫn cùng
cực trong những nghi thức lễ tiết này như sẽ được chứng minh trong phần
phân tích sau đây.
Thật vậy, nghi thức đầu tiên trong "bí tích" truyền
chức linh mục là "đức giám mục im lặng đặt tay trên đầu mỗi
vị phụ tế (nghĩa là những người sắp được phong làm linh mục) và
cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống trên họ."
Một câu hỏi được đặt ra là, lời cầu xin của giám mục
có thể thành sự thật được không, cái gì chứng tỏ lời cầu xin đó
được Chúa Thánh Thần chấp thuận, giả thử thực sự có cái gọi là
Chúa Thánh Thần. Nếu giám mục cầu xin Chúa Thánh Thần cái gì cũng được
thì bây giờ cả thế giới đã thành tín đồ Ca-Tô hết rồi, bởi vì
chúng ta đã biết giám mục là những người mong ước, cầu nguyện, và hăng
hái nhất trong việc sử dụng mọi thủ đoạn bất chính để Ca-Tô hóa thế
giới hơn ai hết. Chúng ta cũng biết: "Mỗi năm vào tháng Giêng thường
lịch, trong nhiều thập niên, các tín đồ Ca-Tô Rô-Ma (nghĩa là gồm
giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục và con chiên), đã
để ra 8 ngày để cầu nguyện (nghĩa là cầu xin Chúa Cha, Chúa Con và Chúa
Thánh Thần chấp thuận) cho sự thống nhất của giáo hội. Ý tưởng chính
trong những ngày đó, từ 18 đến 25 tháng 1, là hi vọng giáo dân Tin Lành sẽ
"trở lại" giáo hội chân thật duy nhất (nghĩa là Ca-Tô Giáo
Rô-Ma) và Chính Thống Giáo Ki-Tô sẽ dẹp tiệm" (Xin đọc cuốn
The Documents of Vatican II With Notes and Comments by Catholic, Protestant and Orthodox
authorities: Each year in January, for many decades, Roman Catholics have offered eight
days of prayer for church unity..The general idea behind those days of prayer, January
18-25, was the hope that the Protestants would "return" to the one true church,
and the Orthodox schism would end). Những lời cầu xin của cả tập thể Ca-Tô
có kết quả gì hay không? Cầu xin làm sao mà ở Nam Mỹ mỗi ngày có tới
8000 tín đồ Ca-Tô bỏ đạo đi theo Tin Lành đến nỗi giáo hoàng Gion Pôn
Hai (John Paul II) quá lo sợ trước sự hao hụt tín đồ, không kiềm chế
được, phải thốt ra những lời thiếu đạo đức, phê bình các nhà truyền
giáo Tin Lành là những "con chó sói đói mồi" (ravenous wolves)
đến cướp đi tín đồ của Ca-Tô giáo? (Newsweek, Feb. 12, 1996). Cầu xin
làm sao mà linh mục dòng đô-mi-nic David Rice phải viết trong cuốn Lời
Nguyện Bị Tan Vỡ: Những Linh Mục Bỏ Đạo (Shattered vows: Priest Who
Leave): "100,000 linh mục Ca-Tô Rô-Ma đã rời bỏ giáo hội trong 20 năm
qua - cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn 1 linh mục bỏ ra đi"
(100,000 Roman Catholic priests have walked out in the last 20 years - more than one every
two hours)? Nếu tin rằng lời giám mục cầu xin Chúa Thánh Thần xuống ngự
trong những người sắp được phong linh mục biến thành sự thực thì chẳng
lẽ khi linh mục bỏ đạo ra đi thì Chúa Thánh Thần cũng bỏ ra đi theo hay
sao? Còn nữa, trong cuốn Xin Đừng Cám Dỗ Chúng Tôi: Linh Mục Ca-Tô và
Vấn Đề Cưỡng Bách Tình Dục Các Em Nho 련Lead Us Not to Temptation: Catholic
Priests and the Sexual Abuse of Children), học giả Ca-Tô Jason Berry đã đưa ra kết
quả nghiên cứu: "Ở Bắc Mỹ, từ 1984 tới 1992, 400 linh mục Ca-Tô
bị tố cáo là cưỡng bách tình dục trẻ em. Cho tới nay, Berry ước tính,
giáo hội đã bỏ ra hơn 400 triệu đô-la để giải quyết những vụ trên.
Một nguồn nghiên cứu dự phóng là giáo hội sẽ phải tiêu tới 1 tỷ đô-la
trước khi thế kỷ này chấm dứt." (In fact, between 1984 and 1992, 400
Catholic priests in North America have been reported for molesting children. To date,
Berry estimates, $400 million has been paid by the church to resolve these cases. One
source projects that $1 billion may be paid by century’s end.) Vậy nếu tin vào bí
tích truyền chức linh mục thì Chúa Thánh Thần đã ngự trong các linh mục
có trách nhiệm gì về những hành động vô đạo đức của các linh mục
này không? Và khi linh mục vào tù vì những tội này thì Chúa Thánh Thần
có theo họ vào tù hay không?
Vài tài liệu nêu trên kể cũng đủ để chứng minh rằng
lời cầu xin Chúa Thánh Thần xuống ngự trong người sắp được phong chức
linh mục tuyệt đối không có một giá trị cụ thể nào. Tất cả chỉ
là những luận điệu thần học bày đặt ra để mê hoặc con nít và đám
tín đồ thấp kém ngõ hầu tạo quyền lực hoang đường cho giới linh mục
để họ có thể kiểm soát, thống trị con chiên. Những tài liệu này cũng
cho thấy câu sau cùng trong nghi thức truyền chức linh mục: "Hãy nhận
lấy Chúa Thánh Thần, chúng con tha tội cho ai thì họ được tha, cầm giữ
ai thì họ bị cầm giữ" thật là láo lếu, phách lối, lừa bịp
và hoang đường. Câu này mạ lỵ đầu óc con người và xúc phạm nặng nề
những người không phải là tín đồ Ca-Tô. Như trên tôi đã chứng minh, lời
cầu xin của giám mục là vô giá trị, vậy Chúa Thánh Thần ở đâu mà nhận.
Và Chúa Thánh Thần trao quyền tha tội và cầm giữ tội cho linh mục như
thế nào? Qua vài lời hoang đường thuộc thời bán khai của ông giám mục?
Thực chất của bí tích truyền chức linh mục ra sao? Không ai biết rõ hơn
linh mục Joseph McCabe, một người đã hành nghề linh mục hơn 20 năm, khi
ông viết:
"Bí tích", lẽ dĩ nhiên, chỉ là một phần của hệ
thống nâng cao giới linh mục, cho họ những lợi ích cá nhân to lớn trên
đám tín đồ thông thường.
Nó đúng là như vậy trong bí tích "dòng thánh" hay
là phong chức linh mục.. Nghi thức (truyền chức linh mục) chỉ là một tập
hợp những hành động huyền bí với những lời cầu nguyện cổ lỗ có
tính cách rối răm, mê hoặc và lạ lùng đối với khán giả bên ngoài. Người
ta cho là nó có hiệu lực đến độ sau đó ông linh mục có thể ra lệnh
cho quỷ đi đâu thì đi, tha tội, và biến mẩu bánh thành Chúa Ki-Tô. Đó
là điều người láng giềng Ca-Tô của bạn tin thật như vậy.[4]
Tại sao một linh mục lại có thể viết như vậy? Bởi vì
ông ta là người có đầu óc, là người không thể bán rẻ lương tâm để
truyền bá những điều chính mình không tin. Ông ta là một học giả rất
nổi tiếng của Mỹ, đã nhận ra những điều hoang đường lừa dối đám
tín đồ thấp kém trong các bí tích. Ông ta không còn tin vào hiệu lực của
các bí tích, vì thật ra không có gì có thể dựa vào đó mà tin. Rõ ràng
là những bí tích đã được bày đặt ra để lừa dối những kẻ nhẹ dạ,
cả tin, và những quyền lực mà tín đồ Ca-Tô tin rằng nằm trong tay linh
mục thật ra chỉ là những ngụy quyền tự tạo. Điều này sẽ được chứng
minh rõ ràng trong bí tích đầu tiên mà giới linh mục dùng để nắm giữ
đầu óc con người từ khi mới sinh ra. Đó là bí tích "rửa tội"
mà tôi sẽ phân tích sau đây.
3.2. Bí Tích Rửa Tội.
Sách Giáo Lý Công Giáo (Katholischer Katechismus) đã nêu
ở trên, viết về Nghi Thức Rửa Tội cho con nít như sau, trang 149-151. Chỉ
cần đọc nghi thức này chúng ta cũng có thể nhận ra thực chất của
"bí tích" này ra sao. Tuy nhiên, tôi xin kèm theo vài nhận xét cá
nhân để cho vấn đề sáng tỏ hơn. Nguyễn Khắc Xuyên là Tiến Sĩ Thần
Học của học thuật Ca- Tô nên chúng ta có thể tin tưởng bản dịch này
là đúng. Phần chữ nghiêng là nghi thức rửa tội, phần chữ thẳng và nhỏ
hơn là bình luận của tôi.
A. Nghi thức ngoài cửa nhà thờ:
- 1. Những câu hỏi đầu tiên:
- Linh mục (LM): Con tên gì?
- Cha, Người đỡ đầu (NĐĐ): xưng tên thánh đứa trẻ...
- LM: Con xin gì cùng giáo hội Chúa?
- NĐĐ: Con xin đức tin.
(Đứa trẻ sơ sinh
chưa biết nói, trí tuệ chưa phát triển, chưa có khả năng hiểu biết,
được cha mẹ hay người đỡ đầu thay mặt nó, cưỡng bách nó phải xin
đức tin (faith) trong khi điều mà nó cần khi trưởng thành là lý trí, là
trí tuệ để nhìn sự vật như chúng là như vậy. Đầu óc của đứa trẻ
đã bị ô nhiễm ngay từ khi sơ sinh, vì như trên đã nói, đức tin là con
đường đi tới mê tín. Chẳng trách là đa số tín đồ Ca-Tô khi lớn lên
trở nên cuồng tín vì đầu óc đã bị uốn nắn và điều kiện hóa để
tin mà không cần biết, không cần hiểu, vào những điều phi lý ngay từ
khi vừa mới chào đời)
LM: Đức tin sinh ích lợi gì cho con?
NĐĐ: Sinh sự sống đời đời.
(Sự sống đời đời trong Ca-Tô Giáo đặt căn bản trên
huyền thoại về "tội tổ tông", và tin vào khả năng "cứu rỗi"
của Giêsu, sự hiện hữu của một Thiên đường, nơi Chúa ngự. Nhưng
trước những khám phá của khoa học, huyền thoại Adam và Eve về tội tổ
tông nay đã không còn một giá trị trí thức nào, vì trái đất đã có tuổi
ít ra là 4 tỷ rưỡi năm, con người đã xuất hiện trên trái đất cách
đây cả triệu năm, chứ không phải mới được Thần Ki Tô "sáng tạo"
ra cách đây khoảng 6000 năm như những lời "mạc khải" không thể
sai lầm của Thần được ghi lại trong Thánh Kinh. Và gần đây, Giáo hoàng
Gion Pôn Hai đã tuyên bố là không làm gì có Thiên đường ở trên các tầng
mây. Do đó, sự sống đời đời trên thiên đường, cái bánh vẽ ở trên
trời (từ của Linh Mục Ernie Bringas) của Giáo hội đưa ra, nay đã không
còn ý nghĩa, dù vẫn còn vô cùng hấp dẫn đối với những tín đồ muốn
lên thiên đường với một giá rất rẻ, chỉ cần xin đức tin với một
linh mục.)
2. Nghi thức trừ quỷ:
Từ khi có tội tổ tông thì quỷ Sa tăng, có quyền khuấy
khuất nhân loại. Bởi vậy, linh mục thổi ba lần trên mặt đứa nhỏ và
truyền cho Sa Tăng phải rút lui, nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần.
(Đây là điều mê tín nhất trong những điều mê tín: rằng
Sa Tăng, cũng là một tạo vật của Chúa Cha, có thật và là nguồn gốc của
những sự xấu ác, có quyền khuấy khuất nhân loại, và có sẵn trong mọi
người từ khi sơ sinh. Đây cũng là tín điều man rợ nhất và xúc phạm
nhất đối với những người không theo đạo Ca-Tô. Tín điều này, chỉ
có thể có trong đầu óc của những tín đồ Ca-Tô, cho rằng: bất cứ đứa
trẻ nào sinh ra cũng đều bị Sa Tăng ngự trị trong người, nếu không đuổi
Satan ra khỏi thân thể đứa bé bằng những nghi thức "rửa tội"
hoang đường, phản khoa học, phi lý trí, thì Satan sẽ còn ở lại với đứa
trẻ suốt đời. Đông phương cho rằng: "Nhân chi sơ, tính bản thiện".
Trái lại, Ca-Tô Giáo của Tây phương quan niệm "Nhân chi sơ, tính bản
ác". Lịch sử đã chứng minh rằng, không thiếu gì người Ca-Tô, những
người đã chịu lễ rửa tội, từ Giáo hoàng trở xuống, tệ hại và ác
độc hơn những người ngoại đạo. Khi rửa tội thì Sa Tăng đã rút lui,
nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần. Vậy Chúa Thánh Thần chính là nguồn gốc
của những sự xấu ác trong những con người xấu ác khi đã trưởng thành
này. Không thiếu gì người ngoại đạo suốt đời không làm điều gì xấu
ác, trái với lương tâm. Điều này chứng tỏ rằng, Satan (nếu có) trong
những người ngoại đạo, những người chưa rửa tội, còn tốt gấp bội
lần Chúa Thánh Thần đã thay thế Satan trong những tín đồ Ca-Tô xấu ác
sau khi đã rửa tội.
Nhưng điều đáng nói nhất ở đây là, trong Thánh Kinh đã
viết rõ là Chúa Giê-su đã chiến thắng Satan, vậy Satan còn ở đâu nữa
mà đuổi. Thật vậy, Colossians 2: 15: Thượng đế đã tước hết uy quyền
thống trị của Satan, công khai phô bày cho mọi người biết Chúa Cứu Thế
đã chiến thắng nó tại cây thập tự; và John 12: 31: Đã đến lúc thế
gian bị xét xử, và Satan, kẻ thống trị thế gian bị trục xuất. Vậy,
Chúa đã chiến thắng Satan rồi, giáo hội lại phục hồi quyền lực của
nóﬠcho nó cái quyền khuấy khuất thiên hạ, nhét nó vào trong những đứa
trẻ chưa biết gì, và dạy rằng linh mục có khả năng đuổi Satan ra khỏi
đứa bé trong cái bí tích gọi là rửa tội. Thật là một sự lừa bịp
trắng trợn đối với giới hiểu biết, nhưng lại rất hữu hiệu đối với
những người không có đầu óc suy nghĩ, không đọc Thánh Kinh, và không hề
thấy sự mâu thuẫn trong những lời giải thích quanh quẩn của giáo hội
về vai trò của Satan)
3. Ghi dấu Thánh giá:
Linh mục vẽ dấu thánh giá trên trán và ngực đứa nhỏ.
(Để làm gì và có tác dụng gì? Không thấy giải thích)
4. Nghi thức đặt tay:
Linh mục giơ bàn tay phủ lên đầu đứa nhỏ, chỉ dấu Chúa
Ki Tô chinh phục nó.
(Chúa Ki Tô ở trong bàn tay của linh mục? Cùng một lúc ở
trên thế gian này có biết bao nhiêu đứa trẻ đang bị cưỡng bách rửa tội.
Chúa "quyền phép vô cùng" như Tề Thiên Đại Thánh nên có thể
cùng lúc nằm trong bàn tay của vô số linh mục trên khắp thế giới để
chinh phục những đứa trẻ sơ sinh chưa biết gì, chưa hiểu gì? Mà chinh
phục đứa trẻ sơ sinh để làm gì? Để sau này lớn lên làm tôi tớ hèn
mọn của Chúa như Linh mục Trần Lục tự nhận và được khắc trên tấm
mộ bia của ông? Các bậc cha mẹ mang con đi rửa tội không muốn cho con
mình làm người tự do, có trí tuệ, chỉ muốn con mình được một người
Do Thái đã chết cách đây gần 2000 năm chinh phục làm tôi tớ hèn mọn.
Thật là tội nghiệp cho những đứa trẻ này.)
5. Ban muối:
Linh mục ban muối cho đứa nhỏ. Muối giữ cho khỏi hư thối,
chỉ rằng đức tin gìn giữ khỏi sự tội.
(Đức tin có thực sự gìn giữ khỏi sự tội không? Tội
đây tuyệt đối không phải là tội của con người trong đời sống hàng
ngày, vì thực tế cho thấy đức tin đâu có gìn giữ tín đồ khỏi tội
lỗi đâu? Vậy tội đây là "tội Tổ Tông". Nhưng, như trên đã
nói, "tội Tổ Tông" chỉ là một huyền thoại của dân Do Thái cổ
xưa, cho nên lễ tiết "ban muối" trở thành vô nghĩa, đượm màu
mê tín của người dân Do Thái bán khai)
6. Lại trừ quỷ:
Linh mục lại truyền cho Satăng lần nữa, phải ra khỏi đứa
nhỏ. Ngài vẽ dấu thánh giá trên trán, bởi vì dấu đó là ấn tích của
Chúa Ki Tô, đoạn truyền cho Satăng không bao giờ được làm mất dấu ấn
tích đó.
(Trong nghi thức trừ quỷ lần đầu, Linh mục đã ra lệnh
cho Sa Tăng phải rút lui nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần. Một là Sa Tăng
coi thường lệnh của Linh mục chẳng có uy lực gì, hai là Chúa Thánh Thần
đã biến thành Sa Tăng trong thân thể đứa trẻ nên Linh mục lại phải
đuổi Sa Tăng ra khỏi đứa trẻ lần nữa. Điều thứ hai này có thể đúng
hơn vì khi lớn lên, đứa trẻ vẫn có thể làm ác, dù rằng mọi hành động,
suy nghĩ của đứa trẻ sau này đều được Chúa Thánh Thần chỉ đạo. Khó
mà có thể đổ tội cho Sa Tăng được nữa. Mặt khác, đứa trẻ chưa biết
nghe. Linh mục nói gì nó có hiểu gì đâu, nhiều khi đang nói thì nó ị đùn,
tè dầm, hay khóc oe oe. Mà có thật là có Satan trong người đứa bé không?
Thật tội nghiệp cho một đứa bé ngây thơ trong trắng, hồn nhiên, vô tội,
bị cái niềm tin quái gở làm ô nhiễm nó. Nếu có Satan thì Satan cũng không
ở trong đứa bé. Theo một nghĩa nào đó, chính Satan nằm trong linh mục, người
đã tin vào những điều hoang đường của thời bán khai, cưỡng nhét Satan
vào đứa bé để có cớ mà đuổi Satan ra, một quyền lực giả dối tự
tạo để ngự trị trên đầu óc của đám tín đồ.)
Rước vào nhà thờ:
LM đặt dải khăn quàng của ngài trên mình đứa nhỏ, rồi
đưa vào nhà thờ Chúa, vừa đi vừa đọc: Con hãy vào nhà Chúa để thông
phần sự sống đời đời cùng Chúa Ki Tô.
(Lại sống đời đời. Cái bánh vẽ trên trời này kể ra
cũng hấp dẫn. Nhà thờ được gọi là nhà Chúa. Nhưng trên thế giới đã
có biết bao nhà thờ, kể cả những nhà thờ danh tiếng ở bên Ý, bị
bão lụt, xét đánh, động đất v..v.. hủy hoại. Vậy có thật nhà thờ
là nhà Chúa không? Hơn nữa, ngoài nhà thờ thì không phải là nhà Chúa tuy
rằng Chúa "sáng tạo" ra tất cả. Vậy nhà Chúa trên thế giới
chiếm một tỷ lệ là bao nhiêu trên toàn thể diện tích của trái đất?
Vả lại, ai đọc câu trên chẳng được, cứ gì phải Linh mục, một người
chỉ có nhiệm vụ học thuộc lòng và nhắc lại những điều "giáo hội
dạy rằng", bất kể những điều này vô nghĩa tới đâu. Nhưng sống
đời đời cùng Chúa Ki Tô ở đâu? Ở trên Thiên đường? Thiên đường
ở đâu? Giáo hoàng Gion Pôn Hai nói: Không ở trên các tầng mây, ở trong
tâm con người.)
B. Trước giếng rửa tội.
- Mọi người cùng đọc Kinh Tin Kính và Lạy Cha.
(Nội dung Kinh Tin Kính ra sao, chúng ta đã biết. Mọi người
lạy Cha nào? Cha trên trời chỉ có một con là Giê-su. Còn Cha trên đời đứng
trước mặt mình chỉ là một danh xưng tiếm vị của các linh mục.)
- LM lại còn truyền cho quỷ lần nữa phải dứt bỏ đứa
nhỏ; để tâm hồn em bé trở nên Đền thờ Chúa hằng sống ngự.
(Nghĩa là quỷ vẫn còn ở trong đứa nhỏ? Nhưng đã hai lần
Linh Mục truyền nó phải rút lui nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần rồi cơ
mà. Hai lần trước thất bại, có gì bảo đảm là lần này ông thành
công?)
- LM vừa sờ vào tai, lỗ tai của đứa nhỏ vừa đọc:
"Ephêta", nghĩa là: "hãy mở ra" có ý chỉ: hãy mở tâm hồn
đón rước Chúa.
(Ông linh mục có vừa sờ vào tai, lỗ tai của đứa nhỏ vừa
đọc "Ephêta" thì đứa nhỏ cũng chẳng hiểu Ephêta là cái quái
gì. Bố nó còn chẳng hiểu nữa là nó, vừa mới sinh ra đời, chưa hề học
cái ngôn ngữ chết (dead language) là tiếng Latinh, hoặc tiếng Do Thái (Linh
mục Joseph McCabe cho biết ông thường đọc Epheta bằng tiếng Do Thái (in
Hebrew). Dù ông có đọc bằng tiếng Việt nó cũng chẳng hiểu. Vậy hành
động của ông có tác dụng gì đối với nó? Mà thực ra, ông nhét Chúa
vào tâm hồn trong trắng của nó chứ nó đâu có tự nguyện mở tâm hồn
để đón rước Chúa đâu.)
- LM hỏi: "Con có bỏ Sa tăng không? Có bỏ mọi việc dối
trá nó làm không? Người đỡ đầu trả lời thay: Con xin bỏ.
(Ông Linh mục ơi, ông đã truyền cho Sa Tăng phải bỏ đứa
trẻ, đi sang phía Tin Lành hay đi đâu đó (xin đọc tài liệu của linh mục
Joseph McCabe ở phần sau), nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần mấy lần rồi?
Satan ở đâu nữa mà ông còn phải hỏi đứa con nít còn khóc oe oe chưa biết
nói, chưa hiểu gì, một câu hỏi ngớ ngẩn như vậy? Mà Bố nó trả lời
chứ đâu có phải là nó trả lời. Nhỡ nó không muốn bỏ Sa Tăng thì
ông làm gì nó? Thực tế ở ngoài đời cho thấy, từ Giáo hoàng trở xuống
cho đến tín đồ cùng đinh, trong số này có thể có cả ông nữa, không
thiếu gì người khi lớn lên không muốn bỏ Sa Tăng qua những hành động
phi luân lý, phi đạo đức của họ.)
- LM lấy dầu thánh xức trên ngực và vai đứa nhỏ chỉ rằng
nó sẽ có sức mạnh chống nổi Sa tăng.
(Thật hoang đường. Chính ông còn không đủ sức chống Sa
Tăng nằm đầy trong Giáo hội, nhất là trong Vatican, làm sao mà chút "dầu
Thánh", cái dầu mà chính ông đã xức khi nhỏ, có tác dụng chống Sa
Tăng? Ông có biết trong giáo hội của ông có bao nhiêu Giáo hoàng, Hồng Y,
Tổng Giám Mục, Giám mục, Linh mục phạm tội giết người, nghiện rượu,
đàng điếm trai gái, cưỡng bách tình dục trẻ em, đồng giống luyến
ái, bị bệnh AIDS v...v... không? Mặt khác, ông có biết rằng việc làm của
ông vô giá trị hay không? Vì Thánh Kinh đã viết rõ, dầu Thánh chỉ để
xức cho người Do Thái, không được xức cho người ngoài, xức cho người
ngoài là vô hiệu lực (Exodus 30: 22-33). Thỉnh ông hãy đọc lại Thánh Kinh
đi.)
Ở Giếng Rửa Tội:
Ở giếng rửa tội, LM còn bảo người đỡ đầu tuyên xưng
đức tin lần nữa.
- - LM đổ nước ba lần thành hình thánh giá trên
đầu kẻ chịu phép rửa tội, vừa đổ vừa đọc lời rửa tội.
- - LM lại xức dầu thánh trên đỉnh đầu đứa
nhỏ đã trở nên giáo hữu được dự phần con cái trong gia đình Chúa
Kitô.
- - LM trao áo trắng cho đứa nhỏ mà nói rằng: Con
hãy nhận lấy áo trắng này. Ước gì con sẽ giữ mãi cho tinh truyền, tới
ngày ra trước tòa Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta mà lĩnh sự sống đời đời.
(Thánh Kinh viết rằng,
Chúa sẽ trở lại trần để lập tòa phán xét nhân loại ngay khi vài môn
đồ của Chúa còn sống. Sau đó thì Chúa biệt tăm. Đến nay đã 2000 năm,
người ta đã tiên đoán ngày Chúa phán xét bao nhiêu lần rồi, và lần
nào cũng sai. Lời hứa "lĩnh đời sống đời đời" trước Tòa
Chúa rút cục chỉ là những lời hứa hẹn vô trách nhiệm của giới chăn
chiên, lừa dối những tín đồ đầu óc thấp kém, cả tin.)
- - LM lại trao cho đứa nhỏ cây nến thắp sáng mà bảo:
- Con hãy nhận lấy ngọn nến sáng này. Hãy giữ luật Chúa, bảo vệ ân sủng
đã nhận khi chịu phép rửa tội. Như vậy, tới ngày Chúa đến ban tiệc
cưới đời đời, con sẽ có thể cùng các thánh ra đón rước Người, đi
vào triều đình thiên quốc, hưởng phúc đời đời.
- Đoạn LM chúc lành bình an cho đứa nhỏ.
(Miễn phê bình)
Bản văn của nghi thức rửa tội đã chứng minh rằng
"bí tích" rửa tội vô giá trị vì không có gì chứng tỏ là cái
"tội tổ tông" hoang đường đã được rửa sạch, quyền lực của
Linh mục chỉ là giả tạo để lừa dối tín đồ vì không có gì bảo đảm
là Sa Tăng đã rút lui nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần trừ phi chúng ta hiểu
rằng Sa Tăng và Chúa Thánh Thần tuy hai mà là một, theo như tinh thần bản
văn và những thực tế ở ngoài đời. Thật vậy, sách Giáo Lý Công
Giáo viết, trang 153:
"Khi chịu phép rửa tội rồi, ta được Chúa Cha, Chúa
Con và Chúa Thánh Thần tới ngự trong tâm hồn. Người giáo hữu trở nên
đền thờ Chúa ngự."
Như vậy thì ai chịu trách nhiệm về những hành động xấu
xa, ác độc, vô luân v..v.. của một số giáo hoàng, giám mục, linh mục
và vô số con chiên sau khi tất cả những người này đã rửa tội và được
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn? Đổ tội cho Sa
Tăng chăng? Nhưng như vậy thì rõ ràng là cả ba Chúa Cha, Chúa Con và Chúa
Thánh Thần họp lại cũng không chống nổi Sa Tăng, vậy bày đặt ra chuyện
"toàn năng" với "cứu rỗi", với "ban cho đời sống
đời đời" v...v... làm gì? Có phải chỉ là để lừa dối những kẻ
nhẹ dạ, cả tin, không có đầu óc suy luận hay không?
Sau đây chúng ta hãy đọc linh Mục Joseph McCabe viết về lễ
rửa tội. Linh mục đã làm lễ này cho tín đồ trong 25 năm. Sau cùng ông
đã viết sách trình bày những điều ông nhận xét về Ca-Tô Giáo Rô-Ma.
Ông viết rất nhiều, về đủ mọi khía cạnh của Ca-Tô Giáo. Ngoài ra,
ông còn viết một bộ Sử Thế Giới, bộ Sử này đã được nhiều đại
học Mỹ dùng làm sách giáo khoa trong nhiều năm. Đoạn sau đây là trích từ
cuốn Sự Thực Về Giáo Hội Ca-Tô:
"Bí tích rửa tội là để cho các trẻ sơ sinh...vì một
lý do rất nghiêm trọng. Mọi hậu duệ của Adam đều mang cái tội của
Adam và phải chịu trừng phạt. Mới đầu người ta tin tưởng rằng, đàn
ông, đàn bà, trẻ con nào không được nước rửa tội rửa sạch cái tội
tổ tông đó đi thì sẽ bị đầy đọa trong hỏa ngục vĩnh viễn. Niềm
tin này thật là quá đáng, ngay cả đối với con người trong thời Trung Cổ,
và các nhà Thần học bèn sửa đổi... Ai không rửa tội thì không được
lên Thiên đường, Giáo hội bám chặt vào điều này. Nhưng những đứa trẻ
ngây thơ vô tội không phải xuống hỏa ngục. Chúng bị đầy vào một nơi
u ám, cánh tay hiện đại nối dài của hỏa ngục, và có thể sung sướng
ở đây, nhưng chúng không bao giờ được thấy "nhan thánh Chúa" hoặc
gặp lại cha mẹ chúng.
Do đó, đứa trẻ được mang vội tới nhà thờ chiếu
ngày Chủ Nhật ngay sau khi sanh. Nếu nó bị cảm lạnh và chết thì cha mẹ
không được than khóc. Nó đã đi thẳng lên thiên đường, nơi tuyệt đối
không có tì vết nào...Tuy nhiên, ngày nay nước rửa tội đã được làm
ấm, và rồi cái lễ kỳ quặc bắt đầu..."
Linh mục McCabe tả nghi thức rửa tội như sau, sau vài câu
đối thoại khôi hài với người đỡ đầu đứa trẻ:
"Ông (linh mục) nhổ vào đầu ngón tay rồi bôi vội
lên miệng và mắt đứa bé và nói "Ephetha" (bằng tiếng Do Thái).
Ông ta cho ít muối vào miệng đứa bé; đương nhiên nó vùng vẫy chống lại
và khóc lên. Ông ta nghiêm trọng ra lệnh cho bất cứ những con quỷ nào
trong nó ra khỏi nó và đi đến - bọn Tin Lành hay bất cứ đâu. Rồi ông
đổ ít nước, đã được trừ quỷ và ban phép lành rất kỹ, lên đầu
đứa bé (phải hết sức cẩn thận đổ nước lên da đầu chứ không chỉ
trên tóc, nếu không đứa bé sẽ không bao giờ được lên thiên đường);
và rồi cái án phạt khủng khiếp treo trên đầu nó, vì một nhân vật
hoang đường tên là Adam ăn một trái táo hoang đường trong một cái vườn
hoang đường dưới triều Vua Khammurabi ở Babylon, đã được ân huệ (của
Chúa) hủy bỏ."
Thật khó mà có thể thảo luận bí tích số 1 này một
cách nghiêm túc. Nhổ nước bọt và quỷ, dầu thánh và nước thánh, đèn
cầy thắp sáng và hộp thu tiền, đã đủ hoang đường rồi, nhưng cái
nguyên lý chủ yếu của lễ rửa tội này thật là không thể chịu được.
Ngay cả ý tưởng đọa đầy tương đối nhẹ những đứa trẻ không rửa
tội (vào một nơi u ám, cánh tay nối dài của hỏa ngục như đã viết ở
đoạn trên. TCN), với tất cả sự thích hợp với thời đại mới, cũng
quá ngu xuẩn để có thể viết lên thành lời. Ngày nay có những học giả
Gia Tô coi chuyện Adam và vườn Eden như là "một huyền thoại thích
thú." Tuy vậy, bí tích này vẫn là giáo điều xác định rõ ràng và bắt
buộc của giáo hội, rằng đứa trẻ nào sinh ra đời, (trừ Mary - đây
chính là nghĩa thực của "thụ thai vô nhiễm") đều phải mang
"cái tội của Adam", và phải trải qua những nghi thức kỳ lạ
tôi đã mô tả." [5]
Linh mục McCabe viết những điều trên năm 1942. Ngày nay,
có thể một số chi tiết trong những nghi thức rửa tội đã thay đổi,
như được viết trong cuốn Giáo Lý Công Giáo. Nhưng tính chất mê
tín, hoang đường và phi lý trong những nghi thức rửa tội mà giáo hội vẫn
còn duy trì và bắt buộc tín đồ phải tin thì vẫn còn nguyên. Đây chính
là điều đáng nói. Ngoài ra, học giả Ca Tô Henri Guillemin, trong cuốn Cái
Giáo Hội Khốn Nạn cũng nhận xét về bí tích rửa tội trong Ca-Tô giáo
như sau:
- "Ngày nay, người nào nói đến "Rô-Ma" là nói đến Vatican,
đến Tòa Thánh, đến Giáo hội Ca-Tô trong trung tâm quyền lực của họ...
Đối với những nhà tiên tri, Rô-Ma chính là biểu tượng của các thói xấu
và những sự ô nhục, và Sách Khải Huyền trong Thánh Kinh đã biến thành
phố của các vua La mã khi xưa thành con "quái vật có 7 đầu và 10 sừng",
"con điếm nổi danh", "mẹ đẻ của những sự đồi bại
"...
- .. Cái giáo hội mà ngày nay đang suy sụp , bị ngự trị bởi một giáo
hoàng thuộc thời Trung Cổ, và theo ý tôi, dù ông ta có thay đổi kỹ thuật
(để lừa dối tín đồ) đi chăng nữa, cũng không thể làm gì được để
ngăn chặn sự tàn lụi một cách dứt khoát và mau chóng trong thiên niên kỷ
thứ ba, ít ra là dưới cái dạng thái Rô-Ma của nó, một giáo hội phải
dùng đến ảo thuật để thực hiện hai "bí tích chính" của
mình. Mới đầu, với một chút nước và vài câu đối thoại khôi hài,
Giáo hội giật đứa trẻ sơ sinh ra khỏi móng vuốt của con quỷ giam cầm
đứa trẻ trong cái "tội tổ tông" (tác giả muốn nói đến bí
tích "rửa tội". TCN), rồi, bằng vài lời lẩm bẩm, giáo hội
gài vào trong một mẩu bánh thân thể, thân thể thực sự bằng xương bắng
thịt của Giê-su Ki Tô để cho tín đồ dùng qua đường ăn uống (tác giả
muốn nói đến bí tích "ban thánh thể". TCN). [6]
Trước những tài liệu
nêu trên của linh mục McCabe và của học giả Ca-Tô Guillemin, và trước bản
văn mô tả nghi thức rửa tội trong sách Giáo Lý Công Giáo của Việt Nam
mà tôi vừa bình luận ở trên, các tín đồ Ca-Tô Việt Nam ngày nay đứng
trước một vấn đề nan giải, vì họ chỉ có thể chấp nhận một trong
hai điều sau đây, chứ không thể chấp nhận cùng lúc cả hai. Hai điều này
có tính cách loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), có điều này thì không
thể có điều kia.
Một là tin vào hiệu năng của bí tích rửa tội qua quyền
phép ảo thuật của linh mục hay giám mục mô tả trong nghi thức rửa tội.
Vậy thì tất cả những tội lỗi của Ca-Tô Giáo đối với nhân loại là
tội của Chúa Ba Ngôi, vì sau khi rửa tội, Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa
Thánh Thần đã thay SaTăng tới ngự trong tâm hồn của các tín hữu Ca-Tô.
Người giáo hữu đã trở nên đền thờ nơi Chúa ngự. Những hành động
của các tín đồ Gia Tô, do đó, đều không phải là do Sa Tăng có quyền
khuấy khuất, vì Sa Tăng đâu có còn trong người nữa, mà chính là do sự
hướng dẫn tâm linh của Chúa Thánh Thần. Vả chăng, giáo hội thường dạy
các con chiên: Giáo hoàng là do sự mạc khải linh ứng của Chúa Thánh Thần
cho các hồng y trong việc tuyển lựa giáo hoàng, giáo hoàng được Thánh
linh chỉ đạo, không thể sai lầm về đức tin hay đạo đức, và giáo hội
là nhiệm thể của Chúa Ki Tô cho nên không thể sai lầm. Nhưng nay giáo
hoàng đã chính thức xưng thú 7 núi tội lỗi mà giáo hội đã phạm đối
với nhân loại và xin được tha thứ. Và chúng ta cũng đã biết đạo đức
của một số Giáo hoàng trước đây như thế nào. Vậy, đúng ra điều này
phải được giải thích là chính Chúa Thánh Thần ngự trong các giáo
hoàng, trong các tín đồ Ca-Tô, trong giáo hội, đã là nguồn gốc của mọi
tội lỗi mà giáo hội cũng như những cá nhân trong giáo hội gây ra.
Hai là tin rằng tất cả những tội lỗi của giáo hội Ca-
Tô đối với nhân loại không phải do Chúa chủ mưu, mà chính là do Sa Tăng
khuấy khuất. Điều này đưa đến sự vô hiệu của bí tích rửa tội.
Quyền năng đuổi bỏ Sa Tăng của linh mục là quyền giả tạo, vì đã năm
lần bảy lượt đuổi Sa Tăng ra khỏi đứa trẻ để nhường chỗ cho Chúa
Thánh Thần mà sau cùng Chúa Thánh Thần vẫn bị đánh bạt ra khỏi người
đứa trẻ. Nói tóm lại, dù trong lễ rửa tội, linh mục đã làm đủ mọi
cách, sử dụng mọi quyền phép Chúa ban cho, theo như những lời "giáo
hội dạy rằng" mà thực chất là để ngự trị đám tín đồ thấp kém,
tội tổ tông vẫn không rửa được, Chúa vẫn thua Sa Tăng, đứa trẻ khi
lớn lên vẫn không đủ sức chống nổi Sa Tăng, tâm hồn người đã rửa
tội vẫn không có Chúa ngự. Những ân sủng mà linh mục thay Chúa ban cho
người chịu phép rửa tội chỉ là những bánh vẽ ở trên trời, và lẽ
dĩ nhiên, chẳng làm gì có sự sống đời đời, cứu cánh chung cùng của
"bí tích" rửa tội, như các ông linh mục thường hứa hẹn khi làm
lễ.
Cũng vì nhận rõ được tính chất hoang đường và lỗi thời
của "bí tích rửa tội", của vai trò "chuộc tội" và
"cứu rỗi" của Giê-su, mà trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải
Thay Đổi Không Thì Chết, Giám mục John Shelby Spong đã dành riêng chương
6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh
Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go). Trong chương này,
Giám Mục Spong viết như sau:
"Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta
không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết
tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật
sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng
cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ
là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời
-Darwin." [7]
Qua sự phân tích những bí tích truyền chức linh mục và rửa
tội ở trên, chúng ta đã thấy tất cả những sự lừa dối của giáo hội
trong sách lược ngu dân, mê hoặc tín đồ bằng những điều hoang đường,
phi lý, phi lô-gic, phản khoa học, mâu thuẫn v..v.. mà con người trong đời
sống hiện đại, với những kiến thức của nhân loại ngày nay, không thể
nào chấp nhận được. Tất cả các bí tích của Ca-Tô Giáo đều có mặt
Thánh Linh hay Chúa Thánh Thần trong đó. Chúa Thánh Thần đã biến thành
công cụ của các giám mục, linh mục v..v.., vì các ông này muốn sai Chúa
Thánh Thần đi đâu là Chúa Thánh Thần phải đi đó. Trong lễ rửa tội,
linh mục sai Chúa Thánh Thần xuống ngự trong đứa bé còn đang khóc oe oe,
nhưng rồi Chúa Thánh Thần lại bỏ đứa bé đi đâu mất cho nên khi nó lớn
lên, trong lễ truyền chức linh mục cho nó, giám mục lại phải sai Chúa
Thánh Thần xuống ngự lại trong người nó. Họ nói là cầu xin, nhưng cầu
xin cái gì được cái nấy, nghĩa là đấng mà họ cầu xin bắt buộc phải
chấp thuận và thi hành lời cầu xin thì đó chẳng qua chỉ là một một
hình thức sai khiến. Đặc biệt hơn nữa, giáo hội tuyên bố rằng, trong
ngày hạ trần hay hiện xuống, nghĩa là 50 ngày sau ngày Chủ Nhật mà
Giê-su sống lại, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống ngự và ở lỳ trong
giáo hội cho tới ngày nay. Chẳng vậy mà sách Giáo Lý Công Giáo viết,
trang 95:
Đức Chúa Thánh Thần hằng ở cùng Giáo hội và hoạt động
trong đó. Người (Chúa Thánh Thần là Người?) soi sáng cho Giáo hội khỏi
xa chân lý. Người thánh hóa Giáo hội bằng đổ ơn xuống tràn đầy.
Vậy các "tiến sĩ Thần học" trong giáo hội giải
thích làm sao về cái lịch sử chứa 7 núi tội ác của giáo hội mà giáo
hoàng cùng "tòa thánh" vừa mới xưng thú, trong đó có các tội ác
của tập thể Ca-Tô, của nhiều cá nhân giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục,
giám mục, linh mục, cho tới con chiên? Có cách nào giải thích ngoài điều
chấp nhận những tội ác này là do hoạt động của Chúa Thánh Thần đổ
ơn xuống tràn đầy để thánh hóa giáo hội? Nếu không chấp nhận điều
này thì phải chấp nhận là chẳng làm gì có Chúa Thánh Thần "hằng
ở cùng giáo hội" và "soi sáng cho giáo hội" hay "thánh
hóa giáo hội". Tất cả những luận điệu thần học mà giáo hội
đưa ra chỉ là sản phẩm của một số người rất thế tục với mưu đồ
thống trị đầu óc con người đằng sau cái chiêu bài thần thánh, khai
thác sự yếu kém tâm linh của quần chúng thông thường.
Cũng vì vậy mà Giáo sư Thần Học Uta Ranke-Heinemann đã nhận
ra những điều hoang đường về vai trò của Chúa Thánh Thần ngự trong
giáo hội cùng hiện diện trong các "bí tích" và viết:
Nhưng Chúa Thánh Thần này không phải là cái Tâm Linh để
ngự trong giáo hội hay cá nhân, vì nó muốn lưu chuyển tới đâu thì tới,
chứ không phải là tới chỗ mà giáo hội hay bất cứ cá nhân nào muốn
nó phải tới. Do đó, chúng ta có thể cho rằng, giáo hội chỉ là một sản
phẩm của cái tâm linh của chính mình.
[8]
Tại sao chuyện Chúa Thánh Thần ngự xuống nơi linh mục
theo lệnh truyền của giám mục, và nơi con nít, theo lệnh truyền của linh
mục, lại là những chuyện chuyện hoang đường? Bởi vì thực tế cho thấy
những chuyện này không đúng như chuyện hoang đường về Thánh Linh giáng
lâm trong Thánh Kinh. Sách Giáo Lý Công Giáo trích dẫn đoạn sau đây
trong Thánh Kinh, Công Vụ Các Sứ Đồ 2: 1-4:
Đến ngày lễ ngũ tuần, các môn đệ Chúa đều họp mặt
đông đủ. Thình lình có tiếng động từ trời như luồng gió mạnh thổi
vào đầy nhà. Các môn đệ thấy những chiếc lưỡi bằng lửa xuất hiện,
đậu trên đầu mỗi người. Tất cả đều đầy dẫy Thánh Linh, mỗi người
bắt đầu nói một ngoại ngữ do Thánh Linh chỉ bảo.
Thời buổi này, có ai còn có thể tin được chuyện quái gở
như vậy không. Thứ nhất, tiếng động từ trời thì chỉ có thể vang tới
chứ không thể thổi tới. Vang tới to hay nhỏ là tùy theo cường độ của
tiếng động chứ không phải là như luồng gió mạnh thổi vào. Không có
gió thì tiếng động vẫn vang tới như thường. Luke (tác giả của sách
Công Vụ Các Sứ Đồ) không hiểu gì về khoa học nên mới viết như trên.
Thứ nhì, Thánh Kinh, những lời mạc khải không thể sai lầm của Chúa,
Chúa Cha hay Chúa Con hay Chúa Thánh Thần cũng vậy vì ba chỉ là một, cho rằng
trái đất phẳng dẹt như cái đĩa, không biết đến cả một nửa địa cầu,
vậy Chúa Thánh Thần làm sao biết được tiếng nói của các sắc dân ở
phía bên kia địa cầu mà chỉ bảo tiếng nói của họ. Thứ ba, trong ngày
lễ ngũ tuần, nghĩa là 50 ngày sau khi Giê-su sống lại, thì có bao nhiêu
môn đồ họp hành. Tất cả những người nghiên cứu Thánh Kinh ngày nay đều
đồng thuận là Giê-su không có quá 12 môn đồ. Vậy trên thế giới có
bao nhiêu thứ tiếng khác nhau và 12 môn đồ trên, mỗi người phải nói
bao nhiêu thứ ngoại ngữ, trong đó có những ngoại ngữ mà chính Thánh
Linh cũng không biết đến sự hiện hữu của những ngoại ngữ này. Thật
là chuyện hoang đường quá sức tưởng tượng, thế mà vẫn có người
tin và cho vào sách Giáo Lý Công Giáo. Nhưng điều đáng nói là dấu hiệu
khi Chúa Thánh Thần ngự xuống là dưới dạng các lưỡi lửa trên đầu mỗi
người, nếu chúng ta có thể tin được cái chuyện có tính cách mạ lỵ
đầu óc con người này. Vậy có ai thấy những lưỡi lửa này hiện trên
đầu của những người được tấn phong linh mục trong lễ truyền chức
linh mục, hay trên đầu những đứa con nít trong lễ rửa tội chưa? Kết
luận? Tất cả chỉ là trò lừa dối của giới chăn chiên ru ngủ những
đầu óc không có khả năng suy luận. Tin cũng được, nhưng tới một mức
độ nào thôi chứ, cứ tin bướng tin càn bất kể là điều mình tin nó
hoang đường, phi lý tới đâu thì thật quả là đáng tội nghiệp.
Trên đây, tôi đã phân tích và trình bày tất cả những sự
hoang đường phi lý và mâu thuẫn trong những bí tích truyền chức linh mục
và rửa tội. Tất cả những bí tích khác trong Ca-Tô Giáo Rô Ma đại loại
đều như vậy cả. Tuy nhiên, để cho vấn đề phân tích các bí tích được
đầy đủ, sau đây tôi sẽ bàn qua đến 5 bí tích còn lại. Trước hết là
"bí tích" thêm sức.
3.3. Bí Tích Thêm Sức
Sách Giáo Lý Công Giáo viết về bí tích hay nhiệm
tích thêm sức, trang 180-183, viện dẫn một đoạn trong Thánh Kinh:
Khi hay tin dân xứ Samari đã đón nhận lời Chúa, thì các
tông đồ ở Gia Liêm liền phái Phê-rô và Gioan tới. Các vị này liền xuống
xứ Samari và cầu xin cho họ được đón nhận Chúa Thánh Thần. Bởi vì
Chúa Thánh Thần chưa ngự xuống trong lòng một người nào cả; họ chỉ mới
chịu phép rửa tội nhân danh Chúa Giêsu mà thôi. Khi ấy Phêrô và Gioan đặt
tay lên đầu họ, thì họ liền được đón nhận Chúa Thánh Thần (Tông đồ
Công vụ 8, 14-17)
rồi mô tả nghi thức làm phép thêm sức như sau:
- Lúc bắt đầu cử hành nghi thức, Đức Giám Mục bưóc lên bàn thờ, đoạn
quay mặt ra phía các kẻ chịu phép đang quỳ trước bàn thờ. Ngài giơ hai
tay trên đầu họ để cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống tâm hồn họ.
Đoạn Đức Giám Mục đặt tay phải lên đầu mỗi người, và lấy dầu
thánh vẽ hình thánh giá trên trán mỗi người mà đọc rằng: "Cha vẽ
dấu thánh giá trên trán và xức dầu thánh cứu độ cho con, nhân danh cha
và con và thánh thần."..
- Khi chịu phép thêm sức, Chúa Kitô ban Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy
trong tâm hồn ta.
Trong Ca-Tô Giáo Rô-ma, danh
từ "thánh" đã được sử dụng một cách quá ư bừa bãi, bất cứ
cái gì cũng có thể mang thuộc tính thánh. Giáo hội chứa đầy tội ác
trong suốt 2000 lịch sử cũng được gọi là "hội thánh"; các
giáo hoàng sát nhân, trụy lạc, ăn cướp, loạn luân v..v.. cũng được gọi
là "đức thánh cha"; một cái hồn ma không ai biết, không ai nhìn
thấy v..v.. cũng mang cái tên "chúa thánh thần"; cây thập giá dùng
để xử tử hình các phạm nhân một cách man rợ nhất trong lịch sử
loài người cũng được gọi là cây "thánh giá"; một số Việt
Gian "cõng rắn cắn gà nhà" cũng được phong làm "thánh"
Ca-Tô; nước thường, dầu olive hay dầu thơm, bánh làm bằng bột, rượu,
sau khi được ông giám mục hay linh mục hoa tay làm phép, lẩm bẩm vài câu
bằng tiếng La-Tinh cũng hóa thành "nước thánh, dầu thánh, bánh thánh,
rượu thánh" (trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua, các ông tuyên uý
Ki-Tô mang nước thánh này đi rảy trên các cỗ xe tăng và các khẩu đại
bác của Hoa-Kỳ trong nhiệm vụ cao cả giết càng nhiều người Việt càng
tốt để vinh danh Chúa, bảo vệ nền văn-minh Ki-Tô); nói tóm lại, bất cứ
cái gì có bàn tay, kể cả các bàn tay nhơ bẩn của những kẻ vô đạo đức
trong các giới chăn chiên, làm phép là chúng đều mang thuộc tính
"thánh" hết. Những chuyện "làm phép này" có khác gì những
chuyện phù thủy làm không? Â 깠thế mà trong lịch sử giáo hội Ca-Tô, giáo hội đã săn
lùng, bắt bớ, tra tấn và thiêu sống hàng trăm ngàn người mà giáo hội
gọi là phù thủy, những người bị vu cho là làm những phép lạ không thuộc
loại phép lạ của giáo hội. Nhưng mà tại sao các tín đồ có thể tin
được những chuyện phi lý huyền hoặc như là "làm phép" trong
Ca-Tô giáo? Thật ra, chẳng có gì là khó hiểu. Nghệ thuật lừa dối của
giáo hội rất tinh vi. Mới đầu, từ khi mới sinh ra đời, tín đồ đã
được các ông linh mục, với sự phụ giúp của các bậc cha mẹ kém hiểu
biết, nhồi vào đầu óc cái mặc cảm tội lỗi và hứa hẹn một sự cứu
rỗi của Chúa Ki-Tô. Bản chất của sự cứu rỗi này chỉ là một cái
"bánh vẽ trên trời", theo như nhận định của linh mục Ernie
Bringas, nhưng lại rất hấp dẫn đối với những người đầu óc yếu
kém, cần đến một cặp nạng để giúp cho mình lê lết trên cuộc đời.
Một khi ăn phải cái bả "cứu rỗi" rồi thì tín đồ không còn
có thể suy nghĩ gì khác, tất cả đều phải nghe theo mọi giải thích của
giáo hội, bất kể những giải thích này phi lý đến đâu, nếu muốn được
lên thiên đường cùng Chúa. Cho nên, khi "giáo hội dạy rằng",
Chúa hoặc "đức thánh cha" đã ban cái quyền "làm phép"
cho các giám mục, linh mục trong mọi nghi thức thực hành các nhiệm tích,
thì tín đồ chỉ có việc nghe theo và bắt buộc phải tin. Không tin thì bị
giáo hội khai trừ ra ngoài "hội thánh", nghĩa là giáo hội đã cấm
Chúa, không cho phép Chúa được cứu rỗi những người này. Những điều
phi lý có tính cách mê tín, trịch thượng, cướp quyền Chúa này vẫn còn
nhiều triệu người trên thế giới tin. Tuy nhiên cũng đã có cả triệu người
gồm đủ các giới trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma, từ hồng y trở xuống, không
còn tin nữa, và họ đã hoặc bỏ đạo, hoặc viết sách vạch trần những
sự lừa dối trong nền thần học Ki Tô Giáo. Tuyệt đại đa số những cuốn
sách thuộc loại này là do những tác giả và giới lãnh đạo trong Ki-Tô
giáo viết chứ không phải do những người "ngoại đạo" viết.
- Bây giờ chúng ta hãy trở lại nhiệm tích Thêm Sức. Tôi xin nhắc để
chúng ta cùng nhớ rằng, trong nhiệm tích "Rửa Tội", vị linh mục
làm lễ đã năm lần bảy lượt làm phép đuổi Sa-Tăng ra khỏi đứa con nít,
nhường chỗ cho đức Chúa Thánh Thần ngự vào, và sách Giáo Lý Công
Giáo cũng khẳng định là: "Khi chịu phép rửa tội rồi, ta được
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần tới ngự trong tâm hồn. Người giáo
hữu trở nên đền thờ Chúa ngự."
- Nhưng đoạn mà sách Giáo Lý Công Giáo trích dẫn từ Thánh Kinh ở
trên lại cho chúng ta biết vì lý do nào mà tín đồ phải chịu làm lễ
Thêm Sức: "Bởi vì Chúa Thánh Thần chưa ngự xuống trong lòng một
người nào cả; họ chỉ mới chịu phép rửa tội nhân danh Chúa Giêsu mà
thôi."
Điều này chứng tỏ là trong lễ rửa tội, Chúa Thánh Thần
chưa tới ngự trong tín đồ. Kết luận? Những chuyện làm phép của giới
linh mục trong lễ rửa tội là do giáo hội bày đặt ra để lừa dối đám
tín đồ với mục đích chính là tạo những quyền lực thần thánh giả tưởng
cho giới chăn chiên. Còn nữa, đoạn mô tả nghi thức làm lễ Thêm Sức viết:
Ngài (đức Giám Mục) giơ hai tay trên đầu họ để cầu xin Chúa Thánh Thần
ngự xuống tâm hồn họ. Như vậy là trong tâm hồn của đứa trẻ đã rửa
tội không hề có Chúa Thánh Thần nên đến khi mười lăm, mười sáu tuổi,
lúc làm lễ Thêm Sức, nó mới được đức Giám Mục cầu xin (nghĩa là
sai khiến) đức Chúa Thánh Thần xuống ngự trong tâm hồn nó. Vậy, lễ Rửa
Tội hoàn toàn vô ích, và những điều giáo hội dạy về lễ rửa tội
là không thực. Nếu lễ Rửa Tội đã là vô ích, thì có gì bảo đảm là
lễ Thêm Sức có ích, và có gì bảo đảm là Chúa Thánh Thần chịu nghe
theo lời sai khiến của ông giám mục xuống ngự trong tâm hồn đứa trẻ?
Không có gì bảo đảm cả, trái lại, đó cũng chỉ là một luận điệu
thần học lừa dối những đầu óc thấp kém, vì chúng ta cũng đã biết
trong nghi thức truyền chức linh mục, khi mà đứa trẻ, sau khi chịu lễ rửa
tội, rồi lễ thêm sức, lớn lên muốn làm linh mục, thì lại có cảnh "đức
giám mục im lặng đặt tay trên đầu mỗi người sắp được phong làm
linh mục và cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống trên họ." Điều này
chứng tỏ một cách rõ ràng là trong lễ rửa tội và lễ thêm sức, Chúa
Thánh Thần không hề nghe lời sai khiến của ông Giám mục xuống ngự
trong những đứa con nít và những đứa trẻ đến tuổi dậy thì. Giả thử
chúng ta tin vào cái chuyện hoang đường là có Chúa Thánh Thần thật và Người
xuống ngự trong những tín đồ thật, thi hành lệnh "cầu xin" của
các ông giám mục hay linh mục, trong những lễ tiết như rửa tội, thêm sức,
và truyền chức linh mục, thì những điều tôi vừa phân tích ở trên đã
chứng tỏ rằng sau mỗi lễ tiết, Chúa Thánh Thần lại bỏ các tín đồ
đi chơi chỗ khác, thăm người tình cũ là Mary chẳng hạn, đến khi cần
thì lại được mấy ông giám mục, linh mục gọi về. Về trong vài phút rồi
lại bỏ đi. Cuối cùng, trong người tín đồ cũng chẳng bao giờ có Chúa
Thánh Thần ngự cả. Đây là điều hiển nhiên nhất.
Linh mục Joseph McCabe đã nhận ra sự hoang đường trong nhiệm
tích Thêm Sức nên đã viết trong cuốn Sự Thực Về Giáo Hội Ca-Tô như
sau:
Nhiệm tích "Thêm Sức" tiến hành theo cái lý thuyết
đáng kính phục là khi đứa trẻ đến, hoặc gần đến, tuổi dậy thì
nó cần phải được thêm sức. Có vẻ như là chúng ta kêu ca một cách khiếm
nhã, nhưng chúng ta thật lấy làm ngạc nhiên tại sao đấng Toàn Năng lại
chỉ ban cái sức này qua trung gian của một ông Giám Mục, và như là một
phần của một lễ tiết rất cổ lỗ và hoàn toàn không thể hiểu được
- đối với đứa trẻ?.. Lẽ dĩ nhiên, "nhiệm tích" chỉ là một
phần của hệ thống nhằm nâng cao giới linh mục, tạo cho họ những sự
lợi ích to lớn trên đám tín đồ thông thường. [9]
Mục đích chính của việc bày đặt ra các nhiệm tích đúng
là như vậy. Chẳng qua chỉ để đưa giới chăn chiên lên một địa vị tự
phong, thay thánh, thay thần, thay Chúa, rồi dựa vào đó để mà thống trị
đám tín đồ thông thường, dùng Chúa, dùng thánh, dùng thần làm cái bung
xung để bất cứ trong trường hợp nào cũng có thể đưa Chúa ra làm cái
bình phong chống đỡ cho những hành động phi thánh, phi thần, rất thế tục,
đượm nhiều màu sắc mê tín của những người có nhiệm vụ "chăn dắt"
con chiên.
3.4. Bí Tích "Ban Thánh Thể"
Giáo hội bày đặt ra cái gọi là lễ ban Thánh Thể, nôm
na là "ăn thịt và uống máu Chúa", lấy cái bánh tròn nhỏ,
làm bằng bột, lấy rượu lễ làm bằng nho, rồi Linh mục đọc vài câu
phù phép bằng tiếng La-Tinh để Thánh hóa bánh và rượu đó, gọi chúng
là bánh thánh và rượu thánh, nghĩa là chúng đã thực sự biến thể
thành thịt và máu Chúa, cho tín đồ ăn và uống và gọi đó là để hiệp
thông với Chúa và bảo đảm được Chúa cho sống đời đời khi Chúa trở
lại trần để phán xét thế gian. Và các tín đồ đều tin đó là thịt
Chúa máu Chúa thật, ăn vào, uống vào sẽ được hòa đồng cùng Chúa,
mang Thánh Thể trên người, và chờ ngày lên thiên đường. Đã có lần
tôi đích thân thử nghiệm xem Thánh Thể của Chúa Giê-su trong người tôi
ra sao. Sau buổi lễ, tôi thản nhiên xếp hàng lên ăn bánh thánh. Theo luật
của Ca-Tô Giáo, người ngoại đạo không được phép hiệp thông với
Chúa, nhưng ông Cha làm lễ đâu có hỏi tôi là người theo đạo hay không,
nên vẫn thản nhiên đặt vào lưỡi tôi chiếc bánh thánh. Theo nguyên tắc,
chiếc bánh này là toàn thân của Chúa cho nên tín đồ phải để cho nó
tan trong miệng chứ không được nhai vụn ra. Vì tôi là người ngoại đạo
nên tôi tự cho phép bất tuân những luật lệ kỳ cục của Giáo hội và
thản nhiên nhai chiếc bánh thánh trong miệng xem vị thịt của Chúa ra sao
và người tôi có khác gì không. Bánh nhạt nhẽo vô vị và những mảnh vụn
tan mau trong miệng. Tôi chợt nghĩ tới một phần chiếc bánh này sẽ bị
đào thải qua bộ máy tiêu hóa, nói nôm na là theo đường đại tiện và
tiểu tiện, và tôi cho rằng Thánh Thể chẳng bao giờ có thể hoàn toàn
hòa đồng trong người tôi. Đó là tôi dùng lý trí để đưa ra một kết
luận, dựa vào những điều tôi biết về bộ máy tiêu hóa của con người
mà tôi đã học ở những lớp Trung học. Nhưng Linh mục Joseph McCabe lại có
cái nhìn khác về lễ ban Thánh Thể vì ông ta đã làm lễ này không biết
bao nhiêu lần trong các nhà thờ. Trong cuốn Sự Thực Về Giáo Hội La
Mã ông viết như sau:
- Bí tích ban Thánh Thể - nghĩa là, giáo điều về sự "hiện diện thực"
của Chúa Ki Tô trong bánh và rượu đã được Thánh hóa - đích thực là
niềm tin chính của Giáo Hội Ca-Tô...Vì trên cái sở hữu vô gíá về một
đời sống thực của Thượng đế trong họ, và trên cái bản chất kỳ lạ
của chế độ giáo hoàng, mà các tín đồ Ca-Tô có thái độ ưu việt nực
cười đối với tất cả phần còn lại của nhân loại. Và bí tích này
là một trong những niềm tin ấu trĩ và điên rồ nhất được duy trì
trong một tôn giáo văn minh.
- Giáo điều về lễ ban Thánh Thể của Giáo Hội thường không được rõ
ràng. Không phải vì Giáo hội trình bày sai nhưng vì sự kiện là: một người
ngoại đạo không tin được rằng bất cứ một con người hiện đại có
học thức nào lại có thể tin được những điều như vậy. Họ biết Giáo
hội dạy rằng có sự hiện diện đích thực của Thần Ki-Tô trong bí
tích ban Thánh Thể. Đã quen thuộc với niềm tin rằng Thần Ki-Tô ở khắp
mọi nơi, họ không thấy một ý nghĩa trí thức to lớn nào trong bí tích
này. Họ không biết, và không thể bị thuyết phục, rằng những tín đồ
Ca-Tô tin, và giáo hội của họ đoan chắc một cách giáo điều rằng, cái
ở trước mắt họ rõ ràng là bánh và rượu, sau vài lời Thánh hóa, lại
không phải là bánh và rượu, mà là chính nhục thân sống của Giê-su
Ki-Tô, từ đầu tới chân.
- Trong buổi đầu của thời Trung Cổ, cũng như trong nhiều triệu tín đồ
Ca-Tô vô học ngày nay, giáo hội không cần tới một sự giải thích nào về
sự biểu hiện của bánh và rượu, cũng như không cần tới một toan tính
giải thích nào về tại sao nhục thân của Chúa Ki Tô cùng lúc ở trên
thiên đường và hàng triệu nơi khác trên trái đất. Đối với những đầu
óc như vậy, họ có thể tin bất cứ điều gì. Mọi giải thích cũng rườm
rà như mọi lý luận.
- Thật là rất thuận tiện. Bằng một hoạt động siêu nhiên, trong buổi
lễ, cái "thể" vô hình của bánh và rượu được thay thế bằng
cái "thể" của nhục thân thực, sống động của Chúa Ki Tô. Còn
về tại sao nhục thân của Chúa Ki Tô có thể cùng lúc ở hàng triệu nơi
khác nhau, và toàn bộ nhục thân này hiện hữu trong một mẩu bánh, thì
câu trả lời là - hãy cúi đầu tuân phục bí nhiệm của sự "biến
thể". [10]
Trong đoạn trên, Linh mục
Joseph McCabe đã chứng tỏ đức tin Ca-Tô về "bí tích Thánh Thể"
là phi lý trí, vì nếu dùng lý trí để suy luận thì không ai còn có thể
tin vào những điều hoang đường kỳ quặc như vậy. Cũng vì vậy mà
chúng ta thấy trong cuốn "Những vị Thần cuối cùng của Huyền Thoại:
GiaVê và Giêsu" ("Mythology's Last Gods: Yahweh and Jesus", p. 16),
Tiến sĩ William Harwood, một tín đồ Ca-Tô phải mất ba năm mới tỉnh ngộ
và bỏ được những niềm tin phi lý sau khi nghiên cứu lịch sử các tôn
giáo trong đế quốc La Mã và khám phá ra rằng "bí tích" ăn thịt
uống máu Chúa (Eucharist) mà ông đã tin và thọ hưởng bí tích này hàng tuần
và trong nhiều năm, đã có từ 3000 năm trước khi Giêsu ra đời, và rằng
các Thần hay Thượng Đế (Gods) chỉ là những chuyện tưởng tượng y như
những chuyện thần tiên kể cho trẻ con nghe. (Dr. Harwood..discovered that the
"god-eating" ritual in which he participated weekly as a believing Christian had
existed three thousand years before Jesus' birth. Not for three years, however, could he
fully abandon the disproved beliefs to which he had been emotionally committed, and
acknowledge that gods are as imaginary as fairies)
- Học giả Henri Guillemin cho bí tích này là một
trò ảo thuật của giáo hội bày đặt ra và viết trong cuốn Cái Giáo Hội
Khốn Nạn (Malheureuse Église, 1992) như sau:
- "Bằng vài lời lẩm bẩm, giáo hội gài vào trong một mẩu bánh thân
thể, thân thể thực sự bằng xương bắng thịt của Giê-su Ki Tô để cho
tín đồ dùng qua đường ăn uống (tác giả muốn nói đến bí tích
"ban thánh thể". TCN)". (Au moyen de quelques syllabes, elle insère,
dans un fragment de pain, le corps, le corps physique de Jésus-Christ voué à une
consommation buccale et stomacale...)
- Bàn về bí tích ban thánh thể, David Hume, một triết
gia nổi tiếng của Tô Cách Lan (Scotland) phát biểu như sau:
Trong tất cả các tôn giáo thì tôn giáo vô lý và vô nghĩa nhất là
tôn giáo mà những người hiến thân cho Chúa, sau khi đã tạo ra Chúa, lại
đi ăn thịt Chúa của họ. (Of all religions, the most absurd and nonsensical is
that whose votaries eat, after having created, their deity.)
3.5. Bí tích Xưng Tội:
"Giáo hội dạy rằng", bắt đầu từ 7 tuổi, các
con chiên phải đi xưng tội và sau đó mỗi năm ít nhất phải đi xưng tội
một lần. Ca-Tô Giáo phân biệt tội nhẹ và tội nặng. Tội nhẹ thì
không cần phải thú tội. Còn các tội nặng thì bắt buộc phải xưng tội
để linh mục tha tội cho, nếu không thì vĩnh viễn bị đọa đầy nơi hỏa
ngục. Danh sách các tội liệt vào loại nặng thì rất nhiều, từ những lăng
nhăng về tình dục ra ngoài tiêu chuẩn của giáo hội cho tới không đi lễ
nhà thờ ngày chủ nhật hay đọc sách báo "chống" Ca-Tô Giáo, nghĩa
là những sách báo nói lên sự thực về Ca-Tô Giáo, v..v.. Điều khó hiểu
đối với những người ngoại đạo, khi dùng lý trí để suy luận và đặt
vấn đề, là một người, sau vài năm học ở trường Dòng ra, được
phong chức linh mục, là tự động được Chúa ủy quyền cho thay Chúa để
tha tội cho các con chiên, dù rằng thực tế cho thấy, Chúa chẳng có quyền
tha tội cho ai, ít ra là đối với hai phần ba dân số thế giới, và trong
rất nhiều trường hợp, chính các linh mục cũng phạm tội như, hay còn phạm
tội nhiều hơn, các con chiên nữa. Trên nước Mỹ, có hơn 400 linh mục bị
đưa ra Tòa xử về tội cưỡng bách tình dục trẻ em và nữ tín dồ vị
thành niên, giáo hội đã phải bỏ ra hàng tỷ đô la để bồi thường cho
các nạn nhân. Trong nhiều trường hợp, linh mục được thuyên chuyển đi
một giáo xứ khác và vẫn thản nhiên làm dấu "thánh giá" và nói
"Cha tha tội cho con" với những tín đồ đến xưng tội. Không thiếu
gì trường hợp "cha tha tội cho con" xong rồi cha đi vào nhà tù nghỉ
mát về chính những tội mà cha đã phạm. Chúa nào trao quyền tha tội con
chiên cho các linh mục, và quyền này ở đâu mà ra? Đó chẳng qua chỉ là
điều Giáo hội tự bày đặt ra, cho rằng Chúa có quyền tha tội rồi tiếm
quyền Chúa, để ngự trị trên đám tín đồ kém hiểu biết. Thật vậy,
chúng ta hãy đọc Linh mục Joseph McCabe viết về "bí tích" xưng tội
này:
- Toàn phần cuộc hành lễ "bí tích thống hối", mà nhiều người
khác gọi là xưng tội, thật là vô dụng và ngớ ngẩn đối với trẻ
con. Bí tích này chỉ để "làm cho chúng thuần đi". Rồi sau đó,
ít nhất là mỗi năm một lần, chúng phải quỳ dưới chân của một linh
mục để xưng tội, nếu không sẽ bị vĩnh viễn đầy hỏa ngục.
- Thật là hiển nhiên, bí tích này cũng như bí tích hôn phối, được tạo
ra với mục đích chính là để kiểm soát hoàn toàn con chiên.
- Sau vài lời cổ võ, tôi làm dấu chữ thập với tính cách ma thuật, và
nhắc lại cái công thức trang nghiêm tha tội: không phải là "Chúa tha
tội cho con", mà là "Ta tha tội cho con".
- Bí tích thú tội chắc sẽ giúp một số người, nhưng đại để hạ thấp
những người khác; nó chỉ là một sự cần thiết đau khổ, vô thưởng vô
phạt đối với tuyệt đại đa số. Cái tính chất tai hại của nó là sự
ngu đần khó tin được. Nó được chính thức bày đặt ra trong thế kỷ
13, như là một giáo điều bắt buộc bởi các linh mục muốn kiểm soát
hoàn toàn Âu Châu, mà tín đồ Ca-Tô tin như là Chúa đặt ra. Cái ý nghĩa
chủ yếu của nó - quyền tha tội của một linh mục trẻ tay đã được
thoa dầu - thật là thô thiển. Nó chẳng phải là, như một số người ngoại
đạo nhiều tình cảm đôi khi tưởng, một phương cách tốt để cổ súy
đạo đức. [11]
Linh Mục Emmett McLoughlin
trong cuốn Tội Ác Và Vô Luân Trong Giáo Hội Ca-Tô đã viết về bí tích xưng
tội trong chương 14 như sau:
Xưng Tội: Bước Đầu Tiên Trong Sự Nô Lệ Hóa Đầu Óc
Con Người:
- Mặc dù những lời long trọng tuyên bố, cam đoan của Giáo hội Ca-Tô, rằng
giáo hội là giáo hội duy nhất do Chúa thành lập, rằng giáo hội là hội
thánh, có thể và đích thực tạo sự thánh thiện trong những tín đồ, giáo
hội Ca-Tô Rô-Ma trong quá khứ đã thất bại trong việc nâng cao trên đầu
ngọn cờ đạo đức. Và trong thời đại này của chúng ta, giáo hội tiếp
tục chứa chấp, che dấu nhiều người phạm trọng tội và nhiều kẻ tội
lỗi hơn các giáo hội khác, hơn cả đám người không theo tôn giáo nào..
- Một sự giải thích có ý nghĩa về phần lớn những sự phạm tội của
tín đồ Ca-Tô Rô-Ma nằm ngay trong cấu trúc của đạo Ca-Tô. Qui tắc ứng
xử của giáo hội được xây dựng trên những lễ tiết và sự mê tín hơn
là trên ý niệm tôn giáo chân thật, đạo đức theo lý trí, tự học, và
tự kiểm.
- Cái lễ tiết quan trọng nhất để kiểm soát và phục hồi cách ứng xử
của tín đồ là lễ xưng tội, còn được gọi là nhiệm tích thống hối.
Nó là tột đỉnh của sự mê tín trong cái túi chứa những đồ lừa bịp
và bùa phép của giáo hội từ nhiều thế kỷ.
- Lễ tiết xưng tội là một sự mê tín mà tự điển Webster đã định
nghĩa như sau:
- Một thái độ phi lý khốn cùng của đầu óc hướng về siêu nhiên,
thiên nhiên hoặc Thần bắt nguồn từ vô minh, từ sự sợ hãi phi lý cái
mình không biết hay không hiểu, một sự thận trọng bệnh hoạn, một niềm
tin vào ảo thuật hoặc may mắn, vào sự hướng dẫn hoặc dẫn giải về
thiên nhiên sai lầm của tôn giáo vô ngộ (unenlightened); ..bất cứ niềm
tin, quan niệm, hành động hay sự thực hành nào phát xuất từ một tâm cảnh
như trên..một ý tưởng phi lý cố định.. một khái niệm được duy trì
mặc dù có những bằng chứng đối ngược.
- Thật là bất hạnh cho những tín đồ Ca-Tô sùng tín vì định nghĩa này
áp dụng quá đúng cho cái mà chúng ta được dạy là một bí tích được
Chúa Ki-Tô thành lập để làm sạch hoàn toàn những linh hồn tội lỗi và
khôi phục chúng về "trạng thái được ân huệ". [12]
Có nằm trong chăn mới biết
chăn có rận, không ai biết rõ đạo mình hơn những ngưòi ở trong đạo và
nhận ra thực chất của nhiệm tích xưng tội. Linh mục Joseph McCabe và linh
mục Emmett McLoughlin là người ở trong giáo hội lâu năm và đã làm lễ xưng
tội cho không biết bao nhiêu tín đồ Ca-Tô. Nhận định của họ khó có
thể nghi ngờ vì mục đích viết sách của họ là để vạch trần những
mê tín dị đoan phi lý trong giáo hội chứ không phải là để phỉ báng đạo
Ki-Tô. Lẽ dĩ nhiên, đối với giáo hội thì họ, hoặc bất cứ ai đưa ra
những nhận định trái ngược với chủ trương kìm hãm tín đồ trong vòng
mê tín của giáo hội đều là những kẻ phản đạo hay rối đạo. Nhưng
đối với giới trí thức, họ là những người được kính trọng hơn là
các giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục, giám mục, và linh mục không còn lương
tâm trí thức. Nhiều người thú nhận bỏ giáo hội không có nghĩa là bỏ
đạo, mà chỉ bỏ một định chế bất lương (dishonest institution).
Chúng ta cũng nên nhớ, trong những thế kỷ 18, 19, khi mà
giáo hội Ca-Tô đồng hành với các thế lực thực dân để đi truyền đạo
trong những nước yếu kém bị thực dân xâm chiếm, thì nhiệm tích xưng tội
là phương tiện hữu hiệu nhất để các giám mục, linh mục khai thác
lòng mê muội của đám tín đồ cùng dân làm công tác tình báo. Chuyện
này rõ ràng nhất ở Việt Nam. Lý do chính mà Tôn Thất Thuyết ra đạo luật
chống Ca-Tô Giáo năm 1885 là vì "chính cái nhiệm vụ lấy tin tức
tình báo của những cộng đồng Ca-Tô mới thật đáng sợ" (Xin đọc
Trần Lục: Thực Chất Con Người và Sự Nghiệp của Bùi Kha và Trần
Chung Ngọc, trang 121).
3.6. Bí Tích Hôn Phối:
- Về hai bí tích sau cùng, bí tích hôn phối và bí
tích xức dầu cho người bệnh hay sắp chết, không có gì đáng nói nhiều.
Tuy nhiên chúng ta cũng nên đọc vài câu trong sách Giáo Lý Công Giáo về
hai bí tích này để rồi nhìn vào thực tế xem nó thế nào. Sách viết,
trang 232- 233:
- Chúa Ki-Tô, bởi sự chết của Người, đã khiến cho hôn nhân trở nên
thánh (đây là thánh hôn chứ không phải là thành hôn. TCN) và là nguồn mạch
cách ơn Chúa đã nâng hôn nhân lên hàng các nhiệm tích. Hôn nhân công
giáo là hình ảnh cuộc phối hợp đầy ơn giữa Chúa Ki-Tô và bạn Người
là giáo hội (Êphêrô 5, 32)..
- Trong phép hôn phối Chúa nối kết đôi dự hôn lại thành một cuộc phối
hợp thánh và không chia lìa được..
Chúng ta thấy ngay mấy
câu trên hoàn toàn vô nghĩa và không đúng với thực tế. Giáo hội dạy rằng
Chúa chết là để chuộc tội cho nhân loại. Bây giờ Chúa chết lại khiến
cho hôn nhân trở thành thánh. Mai mốt rất có thể là Chúa chết lại khiến
cho ly dị trở thành thánh. Thực tế cho thấy, trong các nước Âu Mỹ mà
các cuộc hôn nhân phần lớn thuộc loại "Chúa nối kết thành một
phối hợp thánh và không chia lìa được" lại chia lìa nhiều nhất.
Tỷ lệ những cặp do Chúa phối hợp rồi ly dị cao hơn bất cứ ở đâu
trên thế giới, nhất là so với những nước Á Đông, nơi đây hầu như
tuyệt đại đa số không biết Chúa là ai, và những cặp thành hôn cũng chẳng
cần đến Chúa, vậy mà cuộc hôn nhân của họ vẫn bền vững. Giải
thích làm sao đây, hỡi các ông linh mục thường dạy con chiên "hôn
phối Ca-Tô là một nhiệm tích" do Chúa đặt ra. Cái gì cũng do Chúa
đặt ra nhưng tại sao thực chất lại kém hẳn những thứ không do Chúa đặt
ra. Giáo hội Ca-Tô vẫn tự nhận là "vị hôn thê" của Chúa. Suốt
2000 năm nay vị hôn thê này đi lăng nhăng khắp nơi và phạm những tội
vô tiền khoáng hậu đối với nhân loại, Chúa muốn ly dị nhưng vị hôn
thê không cho phép, thành ra Chúa đành chịu vậy. Vị hôn thê này bảo
Chúa ngồi đâu thì Chúa phải ngồi đó, sai Chúa tới đâu thì Chúa cũng
phải tới đó, muốn Chúa làm gì Chúa cũng phải làm cái đó. Chẳng thế
mà giáo hội bảo Chúa thành lập giáo hội, Chúa cũng phải thành lập, dù
rằng trong Thánh Kinh đã viết rõ rằng Chúa không bao giờ có ý định lập
giáo hội. Rồi giáo hội bắt Chúa phải trao chức đại diện Chúa cho Phê
rô tuy trong Thánh Kinh Chúa đã gọi Phê-rô là Sa-Tăng và Phê-rô đã ba lần
chối Chúa, để rồi các giáo hoàng tự nhận là kế thừa Phê-rô, làm đại
diện của Chúa trên trần. Bất cứ cái gì, cứ đưa Chúa ra là xong. Giáo
hoàng Pius XI, năm 1925, đội vương miện cho Chúa, phong Chúa làm "Vua
mọi định chế, mọi luật lệ và mọi xã hội." Điều này tương
đương với tự phong mình làm Phó Vương (Vice-roi) vì sau Chúa là đến giáo
hoàng, và vì Chúa đã chết nên phó vương, đại diện của Chúa trên trần,
đương nhiên nắm hết quyền trong thế gian. Giáo hoàng Pius XII viết năm
1944: "Chúa Ki Tô và đại diện của Ngài (nghĩa là giáo hoàng)
cùng với nhau họp làm một" (Le Christ et son vicaire ne forment ensemble
qu’une seule tête). Trong gần 2000 năm nay Chúa có nói gì đâu, chỉ toàn là
giáo hội nói.
Ai muốn lập gia đình với ai thì lập. Chúa không có việc
gì làm khác hay sao, chẳng hạn như tạo chỉ một ngày trên thế giới
không có chiến tranh bắn giết lẫn nhau, mà lại đi quan tâm đến việc
hai người sắp sửa được ngủ với nhau? Hơn nữa, mỗi ngày, mỗi phút,
trên thế giới có biết bao nhiêu tín đồ Ki-Tô lập gia đình, Chúa ở đâu
mà đi khắp nơi để mà kết hợp cùng lúc bao nhiêu cặp để cho "thành
một sự phối hợp thánh và không thể chia lìa được"? Linh mục
Joseph McCabe viết về bí tích hôn phối như sau trong cuốn Sự Thực về Giáo
Hội Ca-Tô:
Bí tích "hôn phối" không cần phải thảo luận nhiều.
Trong ít nhất là 6 thế kỷ sau sự thành lập của Ki-Tô Giáo, giáo dân cương
quyết từ chối không cho linh mục làm phép cưới, và họ tự do thực thi
quyền ly dị. Khái niệm về một sự thành lập tính cách thần thánh cho
bí tích này là một tác phẩm táo bạo tuyệt diệu. Đó chính là những người
như Hildebrand, đã hoàn thành công tác nô lệ hóa quần chúng trong tay linh mục,
những vị này sau cùng đã bảo đảm sự kiểm soát hoàn toàn của giáo hội
trong vấn đề hôn phối. Vì nó là một bí tích nên loại hôn phối mới
này không thể hủy bỏ được. Và vấn đề đạo đức trong những quốc
gia mà giáo hội tiếp tục chống sự hủy bỏ những cuộc hôn nhân "cơm
chẳng lành, canh chẳng ngọt" đã nói lên cái lịch sử của nó. Tất
cả vấn đề chỉ là một phần trong quyết tâm của giới linh mục với mục
đích thống trị và thu lệ phí . [13]
3.7. Bí Tích Xức Dầu:
Sách Giáo Lý Công Giáo viết, trang 224:
- Chúa Ki-Tô, là bạn các bệnh nhân, đã đến giúp đỡ ta trong nhiệm tích
xức dầu bệnh nhân.
- Thánh Giacôbê tông đồ viết: " Nếu ai trong anh em bị đau yếu thì
phải lo mời các linh mục trong giáo hội tới, để các ngài xức dầu
nhân danh Chúa Ki Tô và cầu nguyện cho bệnh nhân. Kinh nguyện đức tin sẽ
cứu thoát bệnh nhân và Chúa sẽ nâng đỡ họ. Nếu họ có tội thì cũng
được tha thứ".
- Lời thánh Giacôbê tông đồ chứng tỏ ngay từ thời các tông đồ đã
có làm phép xức dầu bệnh nhân. Mà các ngài chỉ định làm như vậy là
bởi Chúa đã lập phép này.
Đoạn trên rõ ràng là một
tác phẩm ngụy tạo của giáo hội, nhét vào thánh kinh không ngoài mục đích
tạo thêm quyền lực thần thánh hoang đường cho giới linh mục.
Chúng ta đã biết, thời các tông đồ không làm gì có
giáo hội và linh mục. Thời đó, Giê-su chỉ có 12 tông đồ, và tất cả
đều bỏ trốn trong ngày Chúa bị đóng đinh trên thập giá vì sợ vạ
lây. Vậy giáo hội ở đâu ra, và linh mục ở đâu ra? Hơn nữa, thánh kinh
đã viết rõ, Giê-su tin rằng ngày tận thế gần kề, sẽ xảy ra ngay trong
thế hệ của ông, vậy chuyện truyền cho Phê-rô lập giáo hội là chuyện
giáo hội bịa đặt ra về sau để cho giáo hoàng chiếm ngôi vị kế thừa
Phê-rô, nghĩa là kế thừa Chúa.. Cũng vì vậy mà David Voas, giáo sư đại
học New Mexico State, đã cho rằng thư của tông đồ James (Giacôbê) là ngụy
tạo (The epistle is a forgery). Phân tích câu của Giacôbê ở trên chúng ta thấy
rằng đó là niềm tin cổ xưa của người Do Thái, tin rằng bệnh tật là
do tội lỗi sinh ra hoặc do quỷ ám, và những lời cầu nguyện không được
đáp ứng là vì không đủ đức tin. (It would be dreadful for anyone to think
that illness is caused by sin, or that prayers fail for lack of faith).
Tôi nghĩ rằng, ngày nay chẳng có mấy người theo lời
"thánh tông đồ" Giacôbê kia. (Tôi không hiểu tại sao sách Giáo
lý Công Giáo do tiến sĩ thần học Nguyễn Khắc Xuyên dịch mà lại dịch
James là Giacôbê, trong khi những bản kinh thánh bằng tiếng Việt dịch là
Gia-Cơ). Khi đau yếu, tôi tin rằng tín đồ đi tới bác-sĩ hay thầy lang để
chẩn bệnh chứ chẳng có ai gọi "linh mục trong giáo hội" đến xức
"dầu thánh" và cầu nguyện để Chúa làm cho họ khỏi bệnh. Có lẽ
chỉ khi sắp chết mới mời linh mục đến xức dầu để được Chúa xá
hết tội lỗi và cho lên "thiên đường" sống đời đời cùng
Chúa. Niềm tin này vô hại, vì nó không đụng chạm tới ai, trừ phi nó
được biểu thị qua hành động bán khai của một số người trong trường
hợp liên hệ tới họa sĩ Trần Đại Lộc: thừa khi người nhà đi vắng,
kéo đến làm càn và "ban cho" họa sĩ những hai tên
"thánh", chẳng biết là thánh loại nào, thánh hoang dâm như David
hay thánh Việt gian, Tàu gian v..v.., không cần biết ông ta có muốn hay
không.
Trên đây, tôi đã phân tích 7 bí tích trong Ca-Tô Giáo
Rô-Ma, dựa trên những tác phẩm do chính những vị có thẩm quyền trong
giáo hội viết. Tôi có thể kết luận làm sao đây, khi mà chúng ta đã biết
rõ bản chất của những bí tích này là như thế nào. Thôi thì lại nhường
lời cho mấy linh mục và học giả Ca-Tô vậy.
Linh mục Georges Las Vergnas có bàn về các bí tích trong
Ca-Tô Giáo Rô-Ma trong cuốn Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Hội Rô-Ma. Sau đây
là một đoạn điển hình:
Điều quan trọng là phải đọc đúng, không được sai lầm.
Một linh mục có thể đọc lên công thức thuộc loại bí tích này mà
không cần hiểu nó, và ngay cả không cần phải tin nó, nhưng để cho ảo
thuật vận hành, ông ta phải làm cái gì mà giáo hội làm. Tuy nhiên, nếu
ông ta nói sai một chữ thì bí tích sẽ không có tác dụng gì cả. Theo
nguyên tắc, cái tinh thần của câu "Vừng ơi! Hãy mở cửa đi"
(Las Vergnas ví những câu làm phép của giới linh mục với câu phù phép
trong chuyện "A-li-ba-ba và những tên ăn trộm, ăn cướp." TCN) không
hề thay đổi.
- Những bí tích không những chỉ vô lý mà còn có tính cách phỉ báng.
Rabelais đã chẳng nói: Tôi gọi đó là "nhạo báng Thần". Tôi còn
cho rằng tất cả "lòng mộ đạo" Ca-Tô chỉ là tập hợp những
trò lừa bịp và cách thức để biến đổi linh mục thành một tên
"lang băm" và tín đồ thành kẻ đần độn. Linh mục biết rõ sự
đần độn của con người là vô tận: họ khai thác điểm này. [14]
Học giả Ca-Tô Joseph L.
Daleiden, sau khi nghiên cứu về những niềm tin trong dân gian cổ xưa, đã viết
trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng như sau:
- Đã có một thời tôi tin vào cái tục lệ sơ khai mà Cicero đã viết
trong thế kỷ thứ nhất trước thời đại thông thường (thật lâu trước
khi Ki-Tô Giáo thực hành tục lệ này): "Làm sao mà một người có thể
đần độn đến độ có thể tưởng tượng được rằng cái mình ăn đúng
là Thần?" Điều biện bạch duy nhất của tôi là, đó là trước khi tôi
phát triển khả năng suy lý mà ngày nay tôi có. Hơn nữa, tôi không có
cách nào để biết rằng (vì nền giáo dục đặc biệt Ca-Tô. TCN) những
nhà nhân chủng học và các sử gia đã truy nguyên ra rằng, sự thực hành
cái lễ tiết ăn thịt Thần đã là tín ngưỡng của con người trong buổi
sơ khai, tin rằng mình có thể có được những uy lực của những vật mà
mình ăn.
- Sau cùng, tôi đã bị lừa bởi trò bịp trong môn nghĩa ngữ học rất thịnh
hành trong bộ môn giả khoa học là siêu hình học. Từ "biến thể"
(trong lễ ban thánh thể, cho rằng bánh và rượu sẽ biến thành thịt và
máu Chúa do sự phù phép của linh mục. TCN) gây nên sự khá kinh sợ cho những
đầu óc chất phác. Khi từ này lại do một người có thẩm quyền như một
linh mục, mô tả tại sao bánh và rượu có thể đổi cái "thể"
mà không đổi "tính chất" thì rất dễ làm cho người ta tin. Hơn
nũa, ai mà chẳng thích trò ảo thuật. Nó chắc chắn là hấp dẫn hơn là
đi đào sâu vào triết lý thực nghiệm của David Hume hay sự phân tích sắc
xảo của Ludwig Feuerbach. Chính hai người này đã là những người đầu tiên
vạch rõ điều hiển nhiên như sau: cho rằng một vật (thể) hiện hữu mà
không có thuộc tính (tính chất) thì cũng ngớ ngẩn như là cho rằng ngược
lại, nghĩa là có "tính chất" mà không có "thể". (hãy chỉ
cho tôi một cái "không có gì (nothing) mà lại dài", hoặc
"không có gì mà lại xanh hay cứng). Do đó, không có những vật thể
hiện hữu riêng biệt nào có thể "biến thể" một cách có tính
cách ảo thuật. (Tác giả viết đoạn này quá ngắn gọn nên hơi khó hiểu.
Vấn đề tác giả muốn nói là: bánh và rượu có những tính chất riêng
của nó, thí dụ như bánh thánh thì có vị của bột, và rượu thì có vị
ngọt hoặc hơi chát của rượu. Tín đồ ăn bánh và uống rượu chỉ thấy
vị (tính chất) của bánh và rượu, chứ không thấy vị của thịt và
máu Chúa, cho nên chuyện "biến thể" là chuyện không tưởng. TCN).
Một lần nữa, các nhà thần học đã thành công trong việc làm mê mẩn đầu
óc con người bằng những từ vô nghĩa. Tất cả những bí tích, giống như
những ngày lễ, biểu tượng của Ki Tô Giáo, chỉ là những toan tính đơn
giản để thích nghi với những tín ngưỡng dân gian. Đối với những người
không có thiên kiến, có đầu óc suy lý, thì chúng ta có tràn ngập những
bằng chứng để đi tới kết luận này. [15]
Sau khi luận về 6 bí
tích, trước khi phân tích chi tiết về bí tích xưng tội, linh mục Joseph
McCabe đã đưa ra nhận xét châm biếm sau đây, Ibid.:
Đó là 6 trong 7 bí tích, sự vinh quang và bông hoa đặc biệt
của tín ngưỡng Ca-Tô, hệ thống tỉ mỉ nhất về ảo thuật mà xưa nay
chưa hề có một tôn giáo văn minh nào phát minh ra được. Từ bí tích đầu
cho đến bí tích cuối, chúng được thiết kế để tăng thêm quyền lực
và uy tín của giới giáo sĩ. Trong nghi thức thực hành và ý tưởng căn bản
trong đó, chúng cũng xa lạ v |