-
-
SÁCH VÀ ĐIỂM SÁCH
***
Rhodes đã làm gì cho Việt Nam
Trần Quý
Phần 1
Nguồn khói lửa
Hai đế-quốc cùng nhau tàn phá
Trong thời chiến-tranh Đông-dương
1946-54, Pháp dùng không quân khủng-bố dân ở những vùng chúng chưa chiếm
đóng được ở châu thổ sông Hồng. Chợ đang họp đông, người ồn-ào,
máy bay đến gần họ mới nghe thấy tiếng, vội chạy đi tránh né. Mấy
cái hố ẩn chẳng thấm vào đâu, thiếu chỗ, họ núp ở bờ ao, bờ đường.
Phi công thi nhau bỏ bom vào chợ, bắn dọc theo các đường chung quanh. Máy
bay hết thét xé bầu trời, dân bóp ngóp bò dậy, nỗi sợ hãi vô hạn chiếm
hết tâm hồn, họ không để ý đến mình mặt mày lem luốc những bùn, quần
áo xốc xếch hoặc ướt sũng. Nét mặt hãi hùng càng hoảng hốt thêm khi
họ thấy những xác chết tung tóe, đầu một nơi, mình một nẻo, chân tay
bay đâu mất. Bao nhiêu người khóc lóc đau khổ.
Dân quê ai còn sống vẫn phải lo
mà sống. Trẻ con nhặt ở ngoài đồng vỏ đạn từ máy bay rơi xuống
đem về chơi, chiếc nào to thì dùng làm bình, ngắt hoa ở bờ rào cắm
vào. Nghe thấy người ta nói chiến lợi phẩm cũng nói theo, trẻ con sung sướng
với chiến lợi phẩm của mình.
Rồi quân Pháp tràn tới, có cả
lính lê-dương và lính ta. Một cậu bé mười lăm tuổi bị bắt giải đến
ngôi chùa làng Ân-thi, Hưng-yên. Cậu ngơ ngác run sợ trông thấy một thanh
niên bị treo tay chân trên cành cây lủng lẳng tựa con khỉ. Anh ta đau đớn
rền rĩ van xin những quân lính oai quyền, lặp đi lặp lại: "Bẩm lạy
các quan lớn, con có làm gì đâu!" nhưng lính bận canh gác, thổi nấu,
chẳng ai thèm để ý đến lời anh. Các tượng Phật nằm ngổn ngang dưới
đất, pho bị chặt mất đầu, pho bị cắt cổ dở dang.
Sáng hôm sau, quân Pháp dời chùa,
tiến thêm, cậu bé bị bắt đi theo làm phu khuân vác. Dọc đường cậu trông
thấy nhiều xác người nằm dọc trên ruộng khô bên lối đi. Một xác
chui đầu trong chiếc cống nhỏ ngang con đường đất, nạn nhân mất vía
khi bị lính Tây đuổi đã cố rúc vào ẩn nhưng cống nhỏ quá, hai vai
không lọt. Nhà cửa trong xóm vắng teo, sông không bóng thuyền chạy tuy su
hào thẳng tắp trên các luống, lấy vẻ xanh khoe công nông dân tưới bón
vài ba hôm trước. Những cánh đồng xa tới hết tầm mắt chẳng một bóng
người. Trời đất trầm ngâm chứng kiến cảnh nhân loại tương tàn.
Dân thiếu thốn trăm đường, cái
gì dùng được là dùng, nhiều đồ thừa quân Pháp vất lại trong khi rút
lui cũng rất quí. Những người biết chữ Pháp có dịp đọc báo Le Figaro
để thưởng thức tin tức, bình luận, văn chương, chữ nghĩa. Vỏ đồ hộp
dùng làm cái đựng, vỏ hộp cá tạm được, vỏ các thùng bánh bích-qui
(biscuit) quí hơn.
Năm 1954, khi quân Pháp bại trận chờ
ngày rút lui khỏi Bắc Việt, một di-tích lịch-sử thời nhà Lý ở chốn
núi Nùng sông Nhị bị phá hoại. Cửu-long Lê Trọng Văn đã phanh phui ra những
thủ-phạm là một nhóm người trong bọn lính Ca-tô (Catholic hay Công-giáo
La-mã, gọi tắt là Công La, như thấy ở dưới đây, cũng gọi là
Cong-giáo với "cong"nghĩa là "cong queo") ở Phát Diệm của
giám mục Lê-Hữu-Từ và linh mục Hoàng Quỳnh. Khi tạm trú tại trường
Thiếu Sinh Quân Hà-Nội để chờ phương tiện vô Nam họ đã đặt mìn giật
sập chùa Một Cột (Cửu-long, trang 45).
Trước đó mấy năm, thiên-chúa của
đạo Giê-su ra oai ở một đảo nhỏ trong lòng Tiền-giang. Từ Long-xuyên
đi xe hơi tới chợ Mỹ-luông quận Chợ Mới, bỏ xe lại, đi đò sang bên
kia sông là tới Cù-lao Giêng. Nhà thờ Ca-tô Cù-lao Giêng ở gần bờ sông,
xa hơn hút nữa là nhà nữ tu cùng đạo, đi chưa tới một cây số là tới
chùa ông Đạo Nằm. Cù-lao Giêng bốn bề là nước, sông Tiền-giang về mặt
Cao-lãnh, sông Mỹ-luông, một nhánh Tiền-giang, về mặt Long-xuyên.
Khoảng đầu thập-niên 1950, có một
ông ở vùng Xếp Cả Kích bên Cao-lãnh được dân chúng mệnh-danh là ông
Đạo Nằm, trắng-trẻo, tai dài như tai Phật, tính tình hiền lành ai cũng
quí mến. Người ta đồn là ông không bơi vẫn nổi trên mặt nước, bồng
bềnh trên giòng Tiền-giang, nước ròng trôi lên, nước lớn trôi xuống.
Có kẻ nghi là ông trêu thiên hạ, nằm trên cái phao gì đó cho nổi, bèn bơi
ra sông, lặn xuống nước, tò mò rờ xem ông có kê gì ở dưới lưng
chăng nhưng chẳng thấy gì cả. Dân Sài-gòn gom tiền góp của đem đến Cù-lao
Giêng xây một ngôi chùa, đón ông đến trông coi nhang khói.
Đúng ngày khánh thành, chùa đang đầy
thiện nam tín nữ thì một toán lính xông vào nổ súng. Ông Đạo Nằm và
mấy người nữa tử nạn, nhiều người bị thương. Bà Năm Mẫn, năm 1997
trên bảy mươi tuổi, hiện sống tại Cù-lao Giêng cũng bị thương. Bác sĩ
Bàng ở bệnh viện Long-xuyên chụp hình quang tuyến thấy bà Năm bị hai viên
đạn găm vào xương sống lưng, khuyên không nên giải phẫu vì có thể đụng
tới thần kinh, bà Năm nghe theo.
Cháu gái bà Năm ở California kể rằng
thủ phạm là đám Cong giáo, cháu bà nhắc lại "Cong giáo" chớ
không phải Công giáo. Giữa ban ngày ban mặt, đám đông nhận diện được
những kẻ nổ súng: chẳng phải ai xa lạ mà là một số người trong bọn
lính Việt hộ vệ các cha đạo tại nhà thờ Ca-tô Cù-lao Giêng đấy thôi.
Đang lúc loạn ly, tố cáo chẳng đi đến đâu, chánh phủ dưới quyền
người Pháp lờ đi, chẳng thủ phạm nào bị bắt, bị điều tra hay trừng
phạt gì cả.
Cháu bà Năm thuật chuyện này nói
rằng đây là một niềm uất hận quê hương đáng cho mọi người biết.
Đúng lúc quân Pháp khủng bố dân
Việt, phá phách chùa chiền như vậy thì năm 1950, quốc-trưởng Bảo-đại,
tay sai của đế quốc Pháp, đã ký đạo dụ số 10 ban đặc quyền cho các
hội tuyên-truyền đạo Giê-su, lại xếp các tôn-giáo khác trong nước đồng
hạng với những hiệp hội thể thao hay giải trí (Tuệ Giác, trang 130-131).
Trước đó hai năm, giám-mục Pháp
Henri Chappoulie cho xuất bản Tập Nhì bộ Aux Origi- nes d’Une Église - Rome et
Les Missions d’Indo- chine aux XVIIe Siècle (Nói về Nguồn-gốc Một Giáo-hội
– Rô-ma và Các Hội Truyền-giáo Đông dương vào Thế-kỷ 17) vì các
giáo-sĩ đạo Giê-su theo gót quân viễn-chinh Pháp quay lại Việt-nam tiếp tục
mở mang nước thiên chúa Giê-hô-va đang cần tài liệu để tiếp tục công
việc của Rhodes và những giáo-sĩ thuộc hội Paris Truyền-giáo Quốc-ngoại.
Tập Nhì ấy có toàn bộ tác-phẩm Phép Giảng Tám Ngày của Rhodes bằng tiếng
Pháp. Tập Nhất đã được xuất bản năm 1943, khi thực dân Pháp đang
cai-trị Đông-dương.
Lính Pháp đốt chùa, phá tượng khắp
nơi trên nước Việt-nam; lính đạo Ca-tô bắn giết người trong chùa ông
Đạo Nằm; khu nhà thờ Phát-diệm có lính cộng-tác với Pháp; lính của
cha đạo Hoàng Quỳnh dật mìn sập chùa Một Cột; Bảo-đại ra dụ ban đặc
quyền cho cuộc tuyên-truyền đạo Ca-tô; giám-mục Pháp Chappoulie xuất bản
sách vừa thóa mạ các đạo cổ-truyền trên đất Việt, vừa kể công
các giáo sĩ ở Viễn-đông. Như sẽ trình bày dưới đây, tất cả những
sự việc ấy đã được thực hiện theo ý muốn của cặp đôi đế-quốc
giáo-quyềnVatican với đế-quốc thế-quyền Pháp chớ không ngẫu nhiên
cùng xảy ra trong thời gian thực dân có uy lực ở Đông-Dương.
Đạo Giê-su Ki-tô
Đạo Giê-su có nhiều giáo-phái,
Ca-tô là một. Đứng đầu phái này là giáo-hoàng, tuy ông chỉ là tiểu vương
một xứ nhỏ tí teo là Vatican, ông có nhiều thế lực trên chính trường
thế-giới vì dân một số nước Âu-châu và một số thuộc địa cũ của
họ theo giáo-phái ấy. Vatican muốn thực hiện lời Giê-hô-va để kiềm chế
con người đồng thời mở mang một đế quốc giáo quyền.
Các giáo-phái đạo Giê-su đều coi
những lời trong Thánh-kinh của họ là thiêng-liêng, là do chính Giê-hô-va
đọc hoặc linh ứng cho người ta viết ra. Hiểu nguồn gốc đạo Giê-su
là một điều cần thiết để xét hành động của những người làm nghề
giáo sĩ như Rhodes. Bộ Thánh-kinh viết đã luộm thuộm lại đầy những
điều mê-tín, gian dối nên trở thành một mớ bòng bong, nhưng chịu khó gỡ
mối ta có thể phần nào tìm ra lai lịch đạo ấy. Nhiều sử gia đã phân
tích bộ đó, đồng thời nghiên cứu nhiều văn liệu khác, soạn nên những
tác phẩm sáng sủa về lịch sử đạo Giê-su.
Thiên chúa Giê-hô-va
Khoảng thế kỷ 14 tiền dương-lịch,
khi dân Do-thái mới đến lập nghiệp ở vùng Palestine, họ còn man rợ sống
bằng nghề giặc cướp và tin theo chế độ giáo quyền, mù quáng tuân lời
các giáo sĩ. Giáo sĩ dựa theo quan niệm độc thần của một vị vua Ai-cập,
lập nên đạo thờ Giê-hô-va ("thần") Sabaoth nghĩa là "thần
các đội quân". Sau này giáo-hội Giê-su Ki-tô vẫn duy trì thần đó
làm thiên chúa. Giáo sĩ ăn trên, ngồi chốc, vua chỉ là một tên quân cho
họ sai đi ăn cướp. Khi vua có binh lực mạnh lấn áp giáo sĩ thì những kẻ
này khơi lòng mê tín của dân để chống lại. Trải qua các thế kỷ,
giáo sĩ gom góp những văn liệu về dã sử, thần quyền, thi ca thành một
bộ sách họ tôn làm Thánh-kinh. Điều tai hại nhất cho loài người là
giáo-hội Do-thái cũng như các giáo-hội Giê-su coi bộ sách ấy là chính lời
và luật thiên-chúa, chiếu vào đó để dự tính cũng như hành động.
Giê-hô-va ra lệnh cho dân Do-thái diệt
các dân tộc láng giềng khi chiếm được một thành của họ: Giê-hô-va,
thiên-chúa các ngươi, phó thành ấy vào tay các ngươi. Các ngươi hãy giết
hết đàn ông bằng lưỡi gươm. Các ngươi phải chiếm hết đàn bà, trẻ
con, súc-vật và mọi thứ ở trong thành, tức là mọi của cướp được,
làm của-cải của các ngươi. Các ngươi hãy hưởng những của cướp được
ấy, vì thiên-chúa của các ngươi đã cho các ngươi. Các ngươi hãy cư-xử
như thế với những thành ở xa-xôi, không thuộc các dân-tộc ở ngay đây.
Nhưng trong các thành của những dân-tộc ở đây mà Giê-hô-va, thiên-chúa
các ngươi, đã ban cho các ngươi làm sản-nghiệp, thì chớ để sống một
vật nào biết thở (Thánh kinh, sách Deuteronomy, chương 20, từ câu 13 đến
câu 16). Vì là thần ăn cướp, thiên chúa Giê-hô-va không chút xấu hổ,
dám mở miệng đích thân đòi quân cướp chia chiến lợi phẩm, đặc biệt
là có lần đòi nộp một lúc 32 gái trinh sau khi đã hạ lệnh giết hết
đàn ông, đàn bà đã ăn nằm với đàn ông (Thánh-kinh, Dân-số 31:17-18 và
31:40). [Xin coi phần trích dẫn tiếng Anh-phần trích dẫn trang 291]
Giê-hô-va dặn kỹ càng tín đồ phải
diệt các đạo khác: "Phàm những dân tộc nào các ngươi đuổi đi
được, các ngươi phải phá sạch những nơi họ thờ thần của họ, trên
núi cao, trên đồi, dưới bóng cây xanh; các ngươi phải đập tan bàn thờ,
đập vụn cột đền, lấy lửa đốt rụi các tượng của họ; các ngươi
phải đục khoét cho mất hết hình trạm trổ các tượng thần của họ và
xóa tên các thần ấy khỏi chỗ đó (Deut. 12:2-3)". Vậy chẳng có
gì đáng ngạc nhiên khi bọn lính Ca-tô cuồng tín giật mìn phá chùa Một
Cột, xả súng giết người trong chùa ông Đạo Nằm.
Ai theo đạo khác là phải diệt,
dù là người trong gia đình, đó là ý muốn của thiên chúa Giê-hô-va, thần
dâm ác này ra lệnh:
Khi anh em một mẹ với ngươi,
hay con trai ngươi, hay con gái ngươi, hay vợ yêu mến của ngươi, hay bạn
chí thân của ngươi, kín đáo xúi giục ngươi, bảo ngươi rằng: Ta hãy
đi thờ các thần khác, đó là những thần mà ngươi và tổ tiên ngươi
chưa hề biết, đó là các thần của những dân tộc sống chung quanh ngươi,
hoặc gần hoặc xa, từ đầu này tới đầu kia mặt đất, ngươi hãy chớ
theo nó hay nghe nó. Mắt ngươi đừng thương nó. Ngươi chớ sót sa che chở
nó mà ngươi phải giết nó. Ngươi phải ra tay giết nó trước rồi mới tới
tay dân chúng (Deut. 13:6-9).
Ấy thế mà bọn cuồng tín răm rắp
nghe lời thần dâm ác đó, họ đã có lần giết anh em, vợ con, bạn hữu,
một lúc ba ngàn người chỉ vì những người này thờ thiên chúa E-lờ, tượng
trưng bằng tượng con bò đúc bằng vàng (Exodus 32:15-29).
Chúa cứu thế Giê-su
Thời thế kỷ 1 dương lịch, khi quân
La-mã mới diệt đế-quốc Hi-lạp xong và đất Palestine nhỏ bé đã phải
nằm dưới quyền cai trị của họ, một người thợ mộc nhà quê tên là
Giê-su khoảng ba mươi tuổi bỏ nhà đi sống lang thang. Sau khi ông bị giết,
một nhóm người tôn ông là chúa cứu-thế, thờ cả Giê-hô-va, cả ông, lập
nên một giáo-phái Do-thái. Giáo-phái ấy biến thành một đạo riêng gọi
là đạo Ki-tô, đối lập với đạo Do-thái (Trần Quí, trang 37).
Những lời truyền miệng trong dân
gian, những lời giáo sĩ bịa đặt thêm để bịp đám dân mê-tín tạo
thành những sự tích về Giê-su. Khoảng bốn mươi năm trở đi sau khi ông
chết, người ta chép những điều đó thành sách, các sách ấy thường
được gọi là phúc-âm hay tin lành. Bốn sách như thế được các giáo-hội
Giê-su chính thức dùng gọi là sách thánh Mác, sách thánh Ma-thi-ơ, sách
thánh Lu-ca và sách thánh Gioan. Tác-giả toàn là vô danh nhưng để lòe tín
đồ, những giáo-hội đạo Giê-su bảo rằng những sách ấy được viết
bởi chính các tông đồ Mác, Ma-thi-ơ, Lu-ca, Gioan là các đệ-tử của Giê-su,
đã từng sống với ông, biết rõ ông. Nhiều điều trong những sách ấy
chống tôn giáo hoặc không có tính cách tôn-giáo cho ta thấy các tác-giả
mê muội hiểu lầm đó là những điều cao siêu, thiêng liêng lắm, vượt
sức hiểu biết của họ, nên họ cứ thế chép lại không suy nghĩ. Nhờ
những điều ấy, sau khi ta lột bỏ áo chúa cứu thế giả tạo của vai
Giê-su trong những phúc-âm đi, phần nào nguyên hình Giêsu-thật hiện ra.
Giêsu-thật đã trên ba mươi tuổi,
chớ bé bỏng gì, mà mẹ cứ phải lẽo đẽo đi theo. Có lần người nhà
phải đi tìm ông vì ông nổi cơn điên (Mark 3:21). Một đám đông nói:
"Người này bị ma ám đây mà!" (Mark 3:30), như ngày nay ta biết,
dân gian thường tưởng lầm người điên là bị ma làm. Giê-su có những
ảo-giác, hoang tưởng như trông thấy quỉ, nghe thấy tiếng quỉ, lại nghĩ
rằng mình bị quỉ mang lên mái nhà, lên đỉnh núi (Ma-thi-ơ 4:1-10), toàn
là những triệu chứng bệnh điên điển hình, mà bị như thế cả tháng,
cả năm chớ không phải chỉ một vài ngày (Trần Quí, trang 108).
Thỉnh thoảng Giê-su nói được những
câu khôn ngoan chứng tỏ có lúc ông tỉnh. Sức học kém, ông kể một chuyện
lịch-sử Do-thái nhỏ ra cũng sai, ông nói rằng Abiathar là giáo-sĩ trưởng
khi vua David bị đói phải vào đền thờ xin ăn bánh thánh, nhưng đúng theo
sách chép thì giáo-sĩ trưởng bấy giờ là Ahimelech (Mác 2:26 và I Samuel
21:6).
Giê-su làm nhiều điều ngang tàng dại
dột, phá phách của cải của người ta, bị dân Do-thái giận, bắt giao
cho quan La-mã, bị án tử hình rồi bị đóng đinh trên cây thập ác cho chết.
Nếu ông sống trong thời đại văn minh, thuốc đã hay, luật pháp lại nương
tay cho kẻ bệnh tâm thần, thì đâu nên nỗi.
Giê-su nói nhiều câu chứng tỏ
ông giễu cợt nước trời của Gioan Rửa Tội (John the Baptist), người đã
rửa tội cho ông, nói chi đến việc ông lập một đạo riêng. Ông nói:
"Nước trời giống như gì nào? Ta hãy ví nước trời với gì đây?
Nước trời ví như hạt cải người ta lấy ném ra vườn, nó mọc thành
cây to, thế là chim trời đến làm tổ trên cành" (Lu-ca 13:18-19).
Rau cải nào mọc thành cây mộc với cành to lớn cho chim đến làm tổ.
Chim nào dại dột làm tổ trên cành rau cải khi ngày ngày vườn có người
ra tưới nước, chăm cây.
Giêsu-thật không làm nên gì đáng
nói cho nhân loại nhưng vai Giê-su trong Thánh kinh đã gây ảnh hưởng lớn
trên khắp năm châu. Sau khi Giê-su chết, đồng bọn sợ liên-lụy, họ tìm
lối thoát, bịa ra là ông sống lại, bay lên trời và họ lập nên một
giáo-phái thờ ông. Dân chúng lạc hậu tin liền, thế là che chở họ. Họ
đã thoát hiểm lại trở nên phát tài, có địa vị. Giáo-phái phát triển
nhanh hơn sau khi một giáo sĩ là thánh Paul bịa ra thuyết cứu-thế. Giê-su
trở thành một chúa cứu-thế chết theo chương trình của Giê-hô-va. Thần
này phái ông xuống trần gian ban ơn cứu rỗi bằng cách lấy cái chết của
mình để rửa tội hộ cho nhân loại. Đánh đúng tâm lý con người, Paul rất
thành công.
Giáo-phái Giê-su viết phúc âm, viết
nhiều sách nữa tạo thành một bộ sách mới thêm vào bộ Thánh-kinh
Do-thái. Họ gọi Thánh-kinh Do-thái là Cựu-ước, bộ sách mới là Tân-ước.
Họ tâng Giê-su lên ngang hàng với Giê-hô-va, họ gọi thần này là chúa
cha, Giê-su là chúa con, lại bảo rằng chúa cha với chúa con là một. Họ bịa
chuyện rất sơ sài, ấy thế mà tín đồ say mê. Vai Giê-su cứu-thế được
coi là có tài tiên-tri, Ngài nói trước rằng Ngài sẽ chết rồi sau ba
ngày, ba đêm Ngài sống lại. Ngài phán: "Giô-na đã ở trong bụng
cá voi ba ngày ba đêm thì con của người cũng thế, sẽ ở trong lòng đất
ba ngày, ba đêm" (Ma-thi-ơ 12:40). Nhưng họ khôn vặt mà không ngoan,
để lòi cái đuôi bịa chuyện. Theo sách Mác, chừng 36 giờ sau khi Giê-su
chết, chỉ sau chưa tới hai chớ không phải ba đêm thì xác ông không còn
nằm trong mộ nữa (Mác 16:2-6).
Vai Giê-su thề thốt: "Đừng
tưởng ta đến để phá luật-pháp hay lời các nhà tiên-tri. Ta đến không
phải để phá mà để thực-hiện toàn-vẹn. Ta thề mà nói rằng chừng
nào thế-gian còn, trước khi thế-gian tàn, một dấu chấm, một nét phảy
trong luật-pháp cũng không mất đâu" (Ma-thi-ơ 5:17-18). Luật-pháp
là những lời trong Ngũ-kinh tức là trong năm cuốn sách đầu bộ Thánh-kinh;
lời các nhà tiên-tri là lời những người như Samuel; nói khác ra, Giê-su dạy
tín-đồ phải thi-hành đúng từng lời từng chữ trong bộ Cựu-ước. Giáo-hội
Giê-su nào cũng muốn duy trì nguyên vẹn sự thờ Giê-hô-va, nhưng giáo-hội
nào cũng đòi tín đồ phải thờ trong khuôn khổ của họ, đồng thời phải
coi tất cả những giáo hội khác là sai lầm.
Chính-sách đế-quốc của Vatican
Năm 1493, Giáo-hoàng Alexandre VI vạch
một đường Bắc Nam 100 dặm về phía Tây quần đảo Azores làm ranh giới
chia địa cầu thành hai; ông dớ dẩn không nghĩ tới việc chia hai thì cần
vạch hai đường như vậy chớ không phải một. Ông ra sắc lệnh giao quyền
cai-trị và truyền-giáo đến các xứ phía Đông đường ấy cho Bồ-đào-nha,
phía Tây đường ấy cho Tây-ban-nha. Phi-châu, Á-châu thuộc quyền Bồ-đào-nha,
còn Mỹ-châu thuộc quyền Tây-ban-nha. Các mảnh đất như Goa ở bờ phía
Tây bán đảo Ấn-độ, Malacca trên bán-đảo Mã-lai, Macao trên nước
Trung-hoa do Bồ-đào-nha lấy được từ trước thì Bồ cai-trị đã đành.
Nhưng làm gì với Phi-luật-tân đây, Tây-ban-nha đã chiếm được rồi đời
nào chịu nhường cho Bồ dù Cha dưới đất đại-diện Cha trên trời bảo.
Tây-ban-nha cãi rằng Phi-luật-tân ở phía Tây vạch chia. Từ Tây-ban-nha cứ
đi mãi về phía Tây, vượt qua eo biển Magellan, qua Thái-bình-dương cũng tới
Phi-luật-tân thật. Tòa thánh Vatican lờ chuyện ấy đi.
Tuy dâm-dật kém thiên chúa của
ông, giáo-hoàng Alexandre VI đã có ít ra là bảy con khi còn làm hồng-y
giáo-chủ bên Tây-ban-nha; Lu- crèce Borgia là một trong bốn người con ông
có với bà tình nhân tên làVannoza. Ông hối-lộ để được bầu làm
giáo-hoàng, phung-phí tiền tứ phương nộp về cho tòa thánh, dùng thế lực,
của cải của giáo-hội gây dựng quyền hành, sản nghiệp cho con cái, họ
hàng. Khi làm giáo-hoàng, ông đem Lucrèce gả chồng nhiều lần. Một chồng
cũ của nàng là Giovanni Sforza phàn nàn rằng ông loạn luân với nàng. Ông
rất cần tiền, rất cần hậu thuẫn của các vua chúa dưới quyền ông, lại
muốn họ đem võ lực mở mang đế-quốc giáo-quyền của ông khắp thế giới.
Giám mục Henri Chappoulie xuất bản
tập nhất bộ sách Aux Origines d’Une Église nói trên năm 1943, khi thực-dân
Pháp vẫn còn cai trị dân Việt và các giáo-sĩ đạo Giê-su vẫn còn đầy
lòng tin tưởng vào quyền lực của thực-dân ở các nước bị trị. Ông
không cần e dè viết trần sự thật ở ngay trang thứ nhất phần mở đầu
cuốn sách:
Trong khắp các thời đại lịch
sử của nước giáo-hoàng, nước ấy đã coi việc truyền bá tin phúc-âm
đến mọi người là nhiệm vụ chính yếu. Vào thế kỷ 16, trong thời-gian
nhiều cuộc khám-phá lớn xảy ra, Rô-ma bỗng dưng bị đặt trước những
khối lớn nhân loại trải rộng trên những vùng đất chưa rõ to nhỏ bao
nhiêu; và chỉ dựa vào phương tiện của mình thì nước giáo-hoàng không
tài nào đi đến được. Các giáo hoàng nhận thấy không có cách gì khác
để hoàn thành nhiệm vụ tông đồ ngoài cách giao việc truyền bá
phúc-âm đến các xứ xa xôi cho những vua chúa nào đã khám phá ra các xứ
đó cho Âu-châu thuộc đạo Giê-su Ki-tô. Tàu bè của họ đưa các thừa
sai đi, khí giới của họ bảo vệ các thừa sai, những của cải họ mới
kiếm ra nuôi nấng các thừa sai. Để trả công cho việc phục-dịch đó,
(nước giáo-hoàng) cho vua chúa được quyền vừa lựa chọn những kẻ chỉ
huy, vừa điều khiển sự bành trướng sau này của các giáo hội. Quan niệm
ấy đẻ ra quyền các vua Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha được bảo-hộ Tây
Ấn-độ (châu Mỹ La-tinh), Đông Ấn-độ (xứ Ấn-độ ngày nay), Phi-châu.
(Chappoulie, tập 1, trang xi).
Lịch-sử thế-giới nói chung, lịch-sử
Việt-nam nói riêng và gần đây, cuộc chiến-tranh Đông-dương 1946-54, cho
thấy đế quốc giáo quyền Vatican đã cộng-tác chặt-chẽ với đế-quốc
thế quyền để vừa mê-hoặc dân các nước hậu tiến, vừa dùng võ lực
đàn áp họ, cốt để bóc lột họ đúng như chánh-sách Giám-mục Henri
Chappou- lie mới nói trên. Tuy vậy, lịch sử còn cho thấy, hai bọn ấy dù
nhiều khi cộng tác với nhau, song vẫn có lúc đi lẻ trong công cuộc xâm lăng;
dù nhiều khi chung sống với nhau để cùng ăn cướp, song vẫn có lúc ruồng
rẫy nhau để thủ lợi cho riêng mình; dù nhiều khi ôn hòa chia nhau chiến
lợi phẩm, song vẫn có lúc kình địch nhau hay tranh nhau của cải chiếm
được của dân bị-trị. Họ giống như cặp anh chị lấy nhau vì tham lợi,
chẳng vì mảy may yêu đương.
Phần 2
Alexandre de Rhodes - Rhodes gốc Do-thái
Tây-ban-nha
Tổ tiên Alexandre de Rhodes là người
Do-thái ở Aragon, Tây-ban-nha, bị chính-phủ đạo Ca-tô bên ấy ngược đãi
nên bỏ chạy sang Avignon, miền Nam nước Pháp ngày nay, nơi ông chào đời
năm 1591. Ấy thế mà ông theo đạo Ca-tô, dòng Tên. Ông học tiếng Nhật,
định sang đó sinh sống bằng nghề tuyên truyền đạo của mình. Trung-tâm
dòng Tên ở Viễn-đông là Ma-cao, nên dù hành nghề ở xứ nào trong vùng,
các giáo-sĩ của dòng cũng phải lui tới đó để nhận lệnh cấp trên; phương-tiện
di chuyển là tàu thuyền. Gặp khi chính phủ Nhật-bản đang tiễu trừ tới
tận diệt người theo đạo Ca-tô, dòng Tên thấy đất Việt là nơi tương
đối dễ sống hơn, bèn gửi giáo sĩ sang.
Rhodes gốc dân Do-thái ở
Tây-ban-nha. Lịch sử Tây-ban-nha gắn bó với lịch sử đạo Ca-tô. Thế kỷ
8, dân Hồi giáo bên Ma-rốc vượt biển sang chiếm phần khá lớn bán đảo
Iberia. Họ dễ dãi với các đạo thờ thần Giê-hô-va nên dân Do-thái và
dân Ca-tô sống yên lành dưới quyền họ. Họ lập nên một nền văn hóa
cao vượt hẳn văn hóa đạo Giê-su, đem cho châu Âu những ảnh hưởng quan
trọng về tư-tưởng, về khoa-học nhưng vào thế kỷ 13, họ suy yếu chỉ
còn giữ được một phần đất nhỏ về miền Nam còn phần Bắc do các
lãnh chúa phong kiến Ca-tô cai trị. Đến thế kỷ 15, hầu hết các lãnh
chúa phong kiến miền Đông Bắc của bán đảo nằm trong địa phận xứ
Aragon, còn các lãnh chúa miền Tây Bắc nằm trong phạm vi xứ Castile. Nữ
hoàng Isabella cai trị xứ Castile kết hôn với Ferdinand, con vua xứ Aragon. Năm
1479, Ferdinand nối ngôi cha, hai vợ chồng cùng cai trị Aragon và Castile. Đó
là lịch sử cuộc hình thành nước Tây-ban-nha.
Đầu năm 1492, vua Hồi-giáo đầu hàng
Castile, dân Hồi sống dưới quyền người Ca-tô không được may mắn như
dân Ca-tô sống dưới quyền người Hồi ngày trước. Tổng giám-mục
Hernando de Talavera xúi nữ hoàng Isabella bắt họ phải đổi đạo. Francisco
Jiménez de Cisneros, tuyên úy của nữ hoàng, sau này được thăng hồng y giáo-chủ,
đã bày ra kiểu ép đổi đạo tập thể. Dân Hồi nổi lên chống năm 1499
nhưng năm sau loạn bị dập tắt, những người không chịu đổi đạo bị
trục xuất sang Ma-rốc.
Dân Do-thái, đồng bào của Giê-su,
vốn được dân Hồi đối đãi nhân hậu, bây giờ bị những kẻ thờ
ông đàn áp khắc nghiệt. Theo giáo-lý đạo Giê-su, Giê-hô-va cho con là
Giê-su xuống chết tạm ở thế-gian mấy ngày để chuộc tội hộ loài người.
Ví như dân Do-thái thời xưa có kết tội Giê-su, khiến ông bị quan La-mã
đem giết đi, theo giáo lý ấy họ chẳng phạm tội gì với đạo Ca-tô cả
mà họ còn có công là đằng khác, vì họ đem cho Giê-su cơ hội để chết
theo chương trình của Giê-hô-va. Nhưng nhiều tín đồ đạo Ca-tô, vốn
quen uống máu ăn thịt Giê-su, gọi là ăn bánh thánh, đã đua nhau làm thịt
đồng bào của ông (dân Do-thái) trong gần hai ngàn năm.
Năm 1478, giáo-hoàng Sixtus IV ban sắc
lệnh cho phép Tây-ban-nha lập tòa án đạo để xét xử những conversos
(dân Do-thái đã đổi sang đạo Giê-su) phạm tín tội. Năm 1492 Tomás de
Torquemada, một converso, quan toàn-quyền tòa án đạo Ca-tô đầu tiên, xúi
vua trục xuất hết những người Do-thái không chịu đổi đạo như ông. Một
số khá lớn conversos bị tình nghi là giả đổi đạo nhưng tình thực vẫn
còn ngấm ngầm theo đạo cũ. Họ bị tố cáo, bắt bớ, tra khảo; khoảng
sáu ngàn người bị giết, phương pháp hành hình thường là thiêu sống. Một
số conversos trở thành mộ đạo Giê-su; họ theo dòng Alumbrados (Illuminists,
Chiếu minh), hay để noi gương giáo sĩ Anh Erasmus, theo dòng Erasmians. Dẫu
đi tu cũng vẫn không thoát, họ vẫn bị tòa án đạo truy lùng khiến nhiều
người phải bỏ xứ mà đi.
Torquemada, Rhodes gốc đạo Do-thái,
tổ tiên vốn bị giáo-hội Ca-tô ngược đãi tàn nhẫn, thế mà họ đổi
sang đạo này rồi hành động để tỏ lòng mộ đạo hơn cả những tín
đồ Ca-tô gốc là một điều đáng chú ý. Các nhà tâm-lý nói là họ
"đồng-hóa với kẻ ăn hiếp"(identifying with the aggressor). Khi đồng
hóa với kẻ ăn hiếp mình, nạn nhân cảm thấy mình thuộc phe mạnh, thuộc
phe những kẻ đi ăn hiếp, thế là yên ổn trong lòng hơn. Dĩ nhiên những
kẻ ấy hoặc không có hoặc bán rẻ lương-tâm nên coi đồng bào của
mình cũng là kẻ thù.
Rhodes theo dòng Tên
Rhodes theo dòng Tên (Jesuite). Dòng
Tên do Ignatius thuộc tộc Loyola lập ra. Ignatius sinh năm 1491 vùng Basque,
Tây-ban-nha. Năm 1521, khi còn là quân nhân, ông bị một trái đạn đại-bác
của đối-phương, quân Pháp, gây thương tích ở cẳng phải. Vụ chữa xương
gãy không được hoàn hảo nên người nam nhi thọt sinh ra say đắm đạo
Ca-tô.
Năm 1534, Ignatius cùng năm bạn đồng
song ở Đại-học Paris, Francois Xavier là một, lập ra dòng Tên; năm sau dòng
được giáo-hoàng Paul III thừa nhận. Một trong các điều lệ dòng là tuyệt
đối tuân lời cấp chỉ huy, nhất là giáo hoàng. Chỉ mấy tháng sau khi
thành lập, Ignatius gửi Xavier với ba người nữa sangViễn-đông tuyên truyền
đạo Ca-tô. Năm 1556, khi Ignatius qua đời, dòng Tên có độ một ngàn người;
năm 1626 có tới 15.544, trong đó có một số đến tuyên truyền tại Việt-nam.
Ignatius lập ra dòng Tên là để củng
cố lại sức mạnh của Vatican sau khi giáo hội ấy bị sự xuất hiện của
các giáo-hội Tin Lành làm suy yếu. Cuộc thành lập dồn dập các giáo-hội
Tin Lành được gọi là phong-trào Cải-cách nên cuộc phục-hồi uy-quyền của
giáo-hội Ca-tô được gọi là phong-trào Phản Cải-cách. Dòng Tên là con
đẻ quan trọng nhất của phong trào này.
Đầu thế kỷ 15 là thời giáo-hội
Ca-tô La-mã đầy uy quyền ở Tây Âu, thủ lãnh giáo-hội sống huy hoàng
ở Vatican, tha hồ thị oai tác phúc, dân chúng run sợ đã đành, vua chúa cũng
phải kiêng nể họ. Khi lên ngôi, vua phải cố xin xỏ đút lót làm sao cho
giáo hoàng công nhận, nếu không, ngai vàng chắc chắn lung lay. Dân gian bị
dạy mãi thành ra tin rằng giáo hoàng ở trần thế là người đại diện
thiên chúa Giê-hô-va ở trên trời nên một khi người này ngưng công nhận,
vua lập tức bị những kẻ thù lợi dụng cơ hội quấy động sự mê tín
của quân sĩ, của dân chúng, để chống lại, vua bị lật đổ như không.
Nắm quyền độc đoán trong tay, người
ta dễ làm càn, đời là vậy. Muốn xoay tiền dân, giáo-hội Vatican bày ra
nhiều mánh khóe, một trong các mánh khóe là bán các món ân-xá
(indulgences).
Một khi phạm tín tội, người theo
đạo Ca-tô tin rằng họ không có hi vọng lên được thiên đàng sau ngày tận
thế, viễn ảnh đời đời bị đầy trong hỏa ngục nằm trước mắt. Tín
tội là tội xét theo lòng tin, đương nhiên không vâng lệnh gì của
Giê-hô-va cũng là phạm tín tội, một cách để chuộc tội là bỏ tiền
ra mua ân xá. Năm 1476, giáo-hoàng Sixtus IV cần tiền nên đặt ra một món
ân xá mới, đó là kêu gọi dân chuộc tội cho cha mẹ, ông bà hay người
thân hiện đang nằm trong luyện ngục. Dân chất phác tin rằng bỏ tiền mồ
hôi nước mắt của họ vào thùng chuộc tội là cứu được người quá-cố
thoát khỏi nơi đày ải ấy. Giáo-sĩ Johann Tetzel dòng Đa-minh quảng cáo rằng:
"Tiền vừa reng ở thùng này, hồn vung khỏi hỏa ngục ngay tức
thì!" (Durant VI, trang 339).
Luther, một giáo-sĩ dòng Augustin, bực
bội sẵn về sự thối nát của Vatican, không chịu nổi các vụ làm tiền
trắng trợn như thế. Năm 1517, ông liều mạng chống đối, đã dán lên
cánh cửa nhà thờ Palast tại Wittenburg một bản 95 điều cần nói. Dân
chúng hưởng ứng lời kêu gọi của ông, chống lại giáo hoàng. Ở nhiều
nơi trên đất Đức, Pháp, Thụy-sĩ, giáo sĩ đua nhau lập ra các giáo hội
Tin Lành, cũng được gọi là các giáo hội Cải-cách. Các giáo hội Tin
Lành vẫn tin vào Giê-su, vào Giê-hô-va nhưng không phục tòng Vatican. Vua
chúa kẻ theo phe này, người theo phe nọ, bản đồ Âu-châu trở thành một
thứ da beo, xứ thì Ca-tô, xứ thì Cải-cách.
Phe Ca-tô kết tội phe Cải-cách là
nói sai lời Giê-hô-va, gọi họ là bọn tà-giáo. Phe Cải-cách cãi lại rằng
chính phe Ca-tô nói sai lại chê là thờ thần tượng, vì phe này thờ tượng
chúa hài-đồng, Ma-ri-a, thánh nọ thánh kia. Trung thành với lệnh Giê-hô-va
(Deuteronomy 18:20) "Phải giết đi kẻ tiên tri nào dám nhân danh ta nói
điều gì ta không bảo nói", hai phe gây chiến với nhau hàng trăm
năm giết hại biết bao sinh linh.
Trung-tâm dòng Tên ở Viễn-đông
là Ma-cao thuộc Bồ-đào-nha. Tuy Bồ là một dân tộc rất bé sống ở một
rẻo đất nhỏ miền Tây bán đảo Iberia, nhưng nhờ giỏi về nghề hàng hải,
đầu thế kỷ 15 họ đã bắt đầu chiếm được nhiều đất trên thế giới
để lập thành một đế quốc. Cuộc chiếm quần đảo Madeira năm 1419, quần
đảo Azores năm 1427 ở Đại-tây-dương, xa ngoài Phi-châu, là những miền
đất không người ở. Họ di dân đến đấy lập nghiệp. Họ lập pháo đài
cùng trạm thương mại ở vịnh Guinea, Tây Phi-châu năm 1481. Các nhà hàng hải
Bồ vượt mũi Hảo-vọng sang Ấn-độ-dương năm 1488.
Âu-châu thời bấy giờ theo chế độ
phong kiến, vua chúa xứ nọ thường thông gia với vua chúa xứ kia. Sau khi
vua chết, quyền kế vị nằm trong tay người cùng huyết thống, bất kể
trai hay gái. Thuộc địa của vua qua đời có thể bị cắt thành nhiều mảnh
để chia cho các con, vậy nên xảy ra nhiều trường hợp, một người vốn
sống ở xứ mình có thể trở thành vua một xứ xa xăm cách trở. Bởi thế
nhiều ông vua không nói được tiếng và cũng không biết tập quán của
dân mà mình cai trị. Đó là trường hợp khiến cho vua Tây-ban-nha thành vua
nước Bồ hay vua nước Hòa-lan. Columbus tìm thấy Tây-bán-cầu năm 1492; đất
đai chiếm được phải thuộc về vua Tây-ban-nha là kẻ bỏ vốn ra bảo trợ
cuộc thám hiểm nhưng vì quyền thừa hưởng theo huyết thống, Bồ được
Tây-ban-nha ký nhường một vùng đất bao la ở Tây-bán-cầu gọi là xứ
Ba-tây theo thỏa ước Tordesillas năm 1494.
Afonso de Albuquerque chiếm Goa ở bờ
biển miền Tây bán đảo Ấn-độ năm 1510, rồi năm sau chiếm Malacca trên
bán đảo Mã-lai. Năm 1557, Bồ thuê của nhà Minh đất Ma-cao ở tỉnh Quảng-đông
bên Trung-quốc, lập thành thuộc địa. Bồ hiện đang duy trì thành-phố nhỏ
nghèo nàn ấy làm một nơi cho du khách đến cờ bạc giải-trí, ít nhất cũng
được đến năm 1999 là khi phải trả lại cho Trung quốc.
Rhodes không sang được Nhật
Rhodes học tiếng Nhật trước khi
sang Viễn-đông, vì đã tính mạo hiểm đến đấy làm ăn nhưng dân Nhật
quyết liệt diệt đạo Ca-tô nên dòng Tên đành đưa ông vào nước Việt-Nam
vậy.
Vào thế kỷ 17, tàu buôn Tây-phương
cứ ghé đất Nhật là được các lãnh chúa tiếp đón ân cần. Họ ham
thích những hàng hóa vừa thiết yếu, vừa hấp dẫn, nhất là những khí
giới vượt xa kỹ thuật sản xuất trong xứ. Các giáo-sĩ đi ké thuyền
buôn được hậu đãi lây, không bị các lãnh chúa mảy may ngờ vực, còn
được tướng-quân tặng đất ở Kinh-đô (Kyoto) để xây giáo-đường.
Tướng-quân bên Nhật thời ấy y hệt chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, nắm quyền
cai-trị toàn cõi, thiên-hoàng chỉ ngồi làm vì.
Nước Vatican cử một giáo sĩ dòng
Tên (Jesuite) là Valignani sang Nhật để điều khiển cuộc xâm lăng nước này.
Ông tới nơi năm 1579, khôn khéo phô trương bề ngoài hiền như bụt, không
vụ lợi, cũng chẳng cướp bóc tranh giành. Ông được lòng những người
quyền thế. Các vương hầu như Omura, Arima, Bungo ngả theo, hết lòng giúp
đỡ nhóm ông mở chủng viện, trường học, nhà thương. Giáo-sĩ Tây-phương
dạy thần học đạo Giê-su cho thanh niên Nhật. Mọi kẻ tân tòng, bất kể
là vương-hầu hay thường dân đều bị giáo-sĩ dạy phải tuân lời
giáo-hoàng mà chỉ vâng lời người này thôi, rồi họ quên luật pháp quốc
gia, lòng yêu nước cũng phai mờ theo Tưởng rằng cơ hội đã tới, giáo sĩ
bèn tự lột mặt nạ hiền lành, xúi tín đồ phá phách chùa chiền nếu
không biến thành giáo đường để thờ Giê-hô-va.
Tướng-quân Hideyoshi tuần du đảo
Cửu-châu năm 1587, ngỡ ngàng thấy tận mắt cảnh chùa tan hoang, tượng Phật
bị đập bể. Khi khám phá ra vụ các lãnh chúa theo đạo Ca-tô trong vùng
lén cử sứ thần sang Rô-ma để tỏ lòng trung thành với giáo-hoàng, một
kẻ xa lạ ở tận Roma, ông giật mình lo ngại rồi lập tức ra lệnh triệt
hạ các giáo đường, tu viện đạo Ca-tô ở Kyoto, Osaka và trục xuất hết
giáo-sĩ ngoại quốc, bắt họ phải rời khỏi đất Nhật trong vòng hai mươi
ngày.
Chiếc tàu San Felipe của Tây-ban-nha
gặp bão dạt vào tỉnh Tosa năm 1596 bị Tướng-quân Hideyoshi cho các quan đến
tịch thu. Viên thuyền-trưởng phô trương sức mạnh của nước mình cho
các quan, hi vọng rằng đến tai tướng-quân, ông này sẽ sợ rồi hủy bỏ
lệnh đi. Hắn vừa mở bản đồ ra khoe những đất đai Tây-ban-nha cai-trị
ở khắp bốn phương trời, vừa giảng rằng xứ Nhật không tài nào làm
thế nổi, là vì Tây-ban-nha có giáo-sĩ mà Nhật thì không. Giáo sĩ đi trước
thuyết giảng cho dân các nước theo đạo Ca-tô, rồi lính đế quốc Tây-ban-nha
dùng tín đồ đạo ấy làm nội ứng đã dễ dàng chiếm nhiều xứ khác.
Tướng quân Hideyoshi quả nhiên sợ
nhưng ông đã phản ứng khác với ý muốn của viên thuyền trưởng dại dột.
Năm 1597, các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô, dòng Đa-minh bị chính phủ
thiên-hoàng đặt ra ngoài vòng pháp luật. Tại Na-gasaki, 26 giáo sĩ bị hành
hình. Đã hiểu thâm ý của Vatican, các tướng-quân về sau tiếp tục diệt
đạo Ca-tô, có khi gắt gao hơn cả Hideyoshi. Tướng-quân Yeyasu cấm dân đi
theo giáo-sĩ trốn ra nước ngoài.
Năm 1637, dân đạo Ca-tô ở đảo
Amakusa và vùng lân cận là Shimbara ép Phật-tử đổi sang đạo họ, lại võ
trang chống chính phủ. Các giáo-sĩ Tây-phương dòng Tên cầm đầu 30.000 quân
dương cờ lâm trận; có cờ mang tên Giê-su, tên Ma-ri-a. Họ giết vị quan
cai-trị Shimbara, chiếm thành trì làm nơi cố thủ. Quân chính phủ không
phá được thành vì không có đại bác đủ mạnh, phải điều đình mượn
thương thuyền có võ trang của Hòa-lan. Người Hòa-lan theo đạo Tin Lành, cũng
thờ Giê-su nhưng không biết ý chúa cứu-thế này ra sao mà họ không chịu
đội trời chung với Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha. Đại bác Hòa-lan mạnh,
thành bị phá, quân chính phủ Nhật tiêu diệt được quân đạo Ca-tô ở
trong. Từ đó trở đi, đạo Ca-tô không ngóc đầu lên nổi ở Nhật. Một
số người Nhật trốn ra khỏi nước đã làm nghề phụ-giáo-sĩ ở Hội-an
để độ thân.
Đúng là kẻ cắp gặp bà già,
Vatican là tay không vừa đụng phải dân Nhật-bản là những người quyết
không dung các kẻ muốn cướp nước họ. Giáo-sĩ Ca-tô cứ tưởng áp dụng
chiến-thuật dùng "vật hi-sinh" là có thể lung lạc nổi dân Nhật.
Họ tin rằng nhờ cách ấy họ đã nuốt xong đế quốc La-mã to lớn thì
thế nào mà chẳng nuốt trọng được nước Nhật nhỏ bé.
Ở đế-quốc La-mã, họ gây sự
cho chính phủ bắt bớ, giết hại giáo sĩ. Quả nhiên các hoàng-đế đã
làm như họ muốn. Các vị vua ấy tính rằng giết một người, vạn người
sợ, nên mỗi khi hành hình một kẻ cuồng tín là rềnh rang quảng cáo với
công chúng. Giám mục Cyprian ở tỉnh Phi-châu tức Algeria, Tunisia ngày nay, vừa
nhiều tham vọng, vừa to miệng, lẩn trốn được tám năm rồi bị chính
phủ bắt. Năm 258 ông đành chịu hưởng ân tử đạo. Khi ông bước ra pháp
trường, các giáo sĩ làm việc dưới quyền ông được phép đi theo để
tiễn đưa ông lên thiên đàng hưởng nhan Giê-hô-va. Họ bày một tấm vải
ra để hứng máu ông khi đầu ông rơi xuống, đem về làm thánh tích
(Gibbons, trang 219). Hoàng đế Diocletian (284-305) và những người kế vị đã
đàn áp đạo Ca-tô trong mười năm. Sử-gia Gibbons kể rằng trong thời gian
ấy, riêng tại vùng Palestine 92 người được danh dự chết cho Giê-hô-va rồi
ông tính rằng cũng trong thời gian ấy, trên toàn đế quốc độ hai ngàn
người (Gibbons, trang 233) được hưởng ân sủng đó. Nói chung trong mỗi
thành thị ở đế quốc rộng bao la như vậy, thường là lâu lâu mới có
một người bị lên án tử hình. Sự trừng trị đã chẳng làm kẻ mê muội
tỉnh ra, lại còn thành dịp cho các giáo-sĩ khích động lòng cuồng tín.
Thế là đế-quốc La-mã xụp đổ, Âu-châu bị xé thành nhiều xứ phong kiến
do các lãnh chúa Ca-tô cầm đầu dưới quyền giáo-hoàng.
Nhật-bản không đối đáp với
giáo-hội Ca-tô theo cách thức của đế-quốc La-mã. Họ đã tình cờ lấy
gậy ông đập lưng ông, họ đã dùng chiến-thuật "làm cỏ" đạo
khác của Vatican để chống lại đám người Ca-tô cuồng tín. Thế-kỷ 13,
dân vùng Toulouse, miền Nam nước Pháp ngày nay, nhận thấy Giê-hô-va ác
quá, đúng là quỉ Satan mạo nhận làm thiên-chúa. Họ lập giáo-phái
Cathari chỉ kính thờ Giê-su thôi. Năm 1209, Giáo-hoàng Innocent III ra lệnh
thánh chiến để diệt họ, quân phe giáo-hoàng bao vây thành Bézier rồi
ngày 22 tháng bảy xông vào trong giết hết dân kể cả đàn bà, trẻ thơ.
Người Nhật không biết dùng một gậy nữa của đạo Ca-tô. Vatican làm cỏ
dân sống chưa đủ, họ không tha người đã chết. Năm 1329, tòa án đạo
của họ ở Carcassonne cho đào mả bảy người họ kết tội tà đạo, móc
xác lên đốt đi (Trần Quí, trang 133).
Rhodes viết sách
Rhodes để lại một số tác phẩm.
Ông soạn một cuốn tự điển chữ quốc ngữ đối chiếu với tiếng Bồ-đào-nhà
và tiếng La-tinh tựa là Dictionnarium Annamiticum Lusitanum et Latin- um. Vài giáo
sĩ Bồ đã dùng mẫu tự La-mã phiên âm tiếng Việt từ trước, Rhodes bồi
bổ thêm.
Năm 1645 Rhodes viết một bản Tường-trình
Về Đàng Trong nói về những hoạt-động, những thủ đoạn tuyên-truyền
đạo Giê-su của giáo sĩ ở Đàng Trong. Những đoạn như sau trong sách cho
thấy dù chiến thuật dùng vật hi-sinh thất bại ở Nhật, họ vẫn kiên
nhẫn áp dụng ở đất Việt:
"Thày giảng Inhaxu cần mẫn
thực hành chức vụ trong miền Bắc đã trao phó cho thày. Thày bắt đầu làm
nhiệm vụ trong phủ, nơi không thiếu việc để thỏa mãn lòng nhiệt
thành. Có nhiều người xin theo đạo, những người này từ một năm nay đã
giữ các ngày Chủ nhật và ngày lễ như thể đã là các Kitô hữu. Có một
vụ bắt bớ đã xảy ra trong tỉnh này, làm mồi nhóm lòng nhiệt thành rất
lạ lùng" (trang 13-14).
"Thù địch ơn cứu rỗi của
ta không thể chịu mất nhiều đồ đệ, thế là khi tôi rút lui thì nổi
lên một vụ bắt bớ dữ dằn chống lại các người tân tòng, nhất là
ở làng Kẻ Đại nơi có nhiều Kitô hữu hơn. Có một sắc lệnh được
ban hành, bắt mọi người phải bỏ đạo, nếu không thì sẽ bị tịch thu
hết của cải và bị án lưu đồ" (trang 14).
Bốn thủ đoạn chính đế quốc giáo
quyền dùng để thôn tính các xã hội là gây lòng cuồng tín, cộng tác với
đế quốc thế quyền, tàn sát những kẻ khác tín ngưỡng, đòi tự do
tôn giáo. Vào cuối thế kỷ 20, nhiều lực lượng chính trị lớn mạnh
trên thế giới không nề hà dùng tín ngưỡng làm khí giới để hạ địch
thủ nên quyền tự do tôn giáo được yểm trợ mạnh mẽ. Những kẻ đòi
quyền ấy nhiều nhất cũng là các giáo sĩ thờ thần dâm ác nào ta đã biết.
Họ đòi quyền ấy để đi diệt các tôn giáo khác vì lệnh của thần đó
là: Phải dứt khoát giết đi người thờ thần nào ngoài Giê-hô-va ra (Exodus
22:20). Lệnh này khiến họ cảm thấy là làm một sứ mệnh thiêng liêng
khi nhúng bàn tay vào máu để diệt kẻ không cùng đạo. Vụ người đạo
Giê-su tàn sát những người Hồi phái nam từ mười sáu tuổi trở lên ở
Bosnia năm 1995 chứng minh rằng họ trở thành khát máu như không (Trần
Quí, trang 136). Lời Rhodes khoe khoang ở trên còn biểu lộ một thủ đoạn
nữa giáo sĩ thường dùng, họ gọi là "ơn cứu rỗi".
Khi giáo sĩ dùng mê tín để xâm lăng
nước nào, họ bảo là họ mang "ơn cứu rỗi" đến cho nước ấy.
Họ tuyên truyền là họ có một sứ mệnh rất cao cả nên nhất định liều
thân đến làm ơn tuy không được mời, tuy bị đuổi đi.
Những người Việt sống trong thời
Pháp-thuộc được đồng thời hưởng hai ơn của Tây-phương, "ơn cứu
rỗi" của đế quốc giáo quyền, "ơn khai hóa" của đế quốc
thế quyền. Chính phủ thuộc địa quảng cáo rằng người Pháp đại lượng
hi sinh, đành bỏ cuộc sống sung sướng ở bên nước họ, lặn lội đi
khai hóa dân lạc hậu. Quân Pháp thua trận, rút đi, chịu thôi hiến "ơn
khai hóa" cho dân Việt. Giáo-sĩ Pháp hết được khí giới của thực
dân bảo vệ cũng cút theo, chịu ngừng sứ mệnh đi dâng "ơn cứu rỗi".
Người Pháp xét lại lịch sử đã
phải công nhận rằng mục đích của đế quốc, của thực dân chỉ là
bóc lột dân bị trị, đạo đức bề ngoài chẳng qua là thủ đoạn mà
thôi.
"Ơn khai hóa", bạn lòng của
"ơn cứu rỗi", đã chết, nữ ma-vương "ơn cứu rỗi"
đang cần tìm một hay nhiều tình nhân mới đủ sức mạnh che chở nàng,
biết xoay xở nuôi sống nàng, để gậm nhấm, nếu không nuốt trọng nổi,
những cá nhân, những xã hội, những quốc gia vô tình không biết bản chất
nàng.
Rhodes viết: "Phải ghi nhận
ở đây lòng quảng đại của một thanh niên là Âutinh, anh mới là Kitô hữu
được ba bốn tháng, về thân xác thì đau yếu gần như bệnh tật. Anh bị
bắt và tức khắc bị gò cánh khỉ rất đau đớn, để ở ngã ba đường
phố không sao cựa mình được, thế nhưng anh vẫn không ngưng tươi nét mặt,
mọi người đều khen lòng can đảm bất khuất của anh, anh đã toàn thắng
tất cả những sự dã man người ta bắt anh chịu. Lương dân lại càng
thêm đe dọa các Kitô hữu, nạt nộ họ, người thì đem chôn sống, kẻ
thì dọa bắt đóng đinh trên cây Thánh giá mà các Kitô hữu đã thành tâm
cho dựng trong xóm, nhưng tất cả các đe dọa không làm cho họ bỏ điều
họ cho là của cải lớn nhất của họ" (trang 14).
Một người ông gọi là André tự
nộp mình cho chánh phủ Đàng Trong,"lớn tiếng nói mình sẵn sàng chịu
mọi hình khổ vì đạo".
"Thiên chúa muốn thưởng cho thày
danh dự tử đạo". Quan tòa nói: "nếu y xưng là y nghèo khó và y
đến phục dịch ông cha (giáo sĩ) để có của nuôi thân, thì tôi đã
tha cho y, nhưng y bất khuất và táo bạo xưng mình là Kitô hữu và sẵn
sàng chết vì đạo, y không sợ cực hình; như thế y tỏ ra ngoan cố và
điên dại, y chết là phải. Đó là lời lẽ quan tòa ngoại đạo gọi sự
khôn ngoan của Đức Thánh Linh là điên cuồng" (trang 32).
André bị hành hình. Rhodes kể rằng
bọn giáo-sĩ Tây-phương ở Ma-cao hết sức mừng rỡ khi đón xác một người
Việt thiệt mạng vì trúng mẹo ẩy bụi rậm của họ: "Ngay khi
Gaspar d’Amaral, viện trưởng học viện Macao, cũng là phó giám tỉnh Nhật
bản được tin về phẩm vật cao quí tôi gửi từ xứ Đàng Trong tới thì
cha vô cùng hớn hở, chính cha cũng đã lâu năm được phái tới giảng
Phúc âm trong nước này. Thế là quyết định đưa tin vui về thi hài thánh
cho cả học viện và thành phố biết" (trang 37). Rhodes nói nữa về
nỗi hân hoan của bọn giáo sĩ ấy, đoạn trên chỉ là một phần thôi.
Rhodes viết một cuốn sách bằng chữ
quốc ngữ Việt-nam đối chiếu với tiếng La-tinh, tựa là "Phép giảng
tám ngày cho kể muấn chịu phép rứa tọi, ma beꦣ224;o đạo thánh đức Chúa
blời [cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh đức Chúa trời],
Tủ Sách Đại Kết, Sài-gòn, in lại năm 1993, gọi tắt là Phép Giảng Tám
Ngày.
Ngày thứ nhất Rhodes giảng về
linh hồn và chúa trời đạo Giê-su. Ông nói khơi khơi chúa trời khiến ta
tưởng dân vùng Địa-trung-hải thời đó chỉ thờ có một thiên-chúa
thôi. Thực ra họ thời Giê-su như dân Việt thời nay, sùng bái nhiều đạo,
nhiều thần. Mỗi đạo của họ thờ một thiên chúa riêng, hoặc nam hoặc
nữ, như nữ thiên chúa Cybèle, nam thiên chúa Zeus, Mithra.
Ngày thứ hai đả kích quan niệm về
Ngọc-hoàng của đạo Lão, nói nữa về chúa trời, nói về các thiên thần,
về ân sủng.
Ngày thứ ba nói về quyền năng chúa
trời, tạo thiên lập địa dựa theo Cựu-ước, cũng nói về "thằng
ngụy Lucifer", về A-đam và E-và. Phải có mặt trời, trái đất phải
xoay quanh mặt trời mới có ngày đêm, vậy mà Rhodes kể Thiên chúa
Giê-hô-va làm việc khác trong ba ngày rồi ngày thứ tư mới tạo ra mặt trời,
Giê-hô-va dốt ơi là dốt về kiến thức phổ thông nên để lòi cái đuôi
giả mạo nhận tạo ra vũ trụ như vậy. Cây cối ra đời ngày thứ ba, trước
cả mặt trời nữa chớ! Thật hết đường nói!
Cái lưỡi không xương mới quảng
cáo rằng chúa trời của đạo Giê-su lòng lành vô cùng trong bài giảng
ngày thứ hai thì sang ngày thứ ba lại kể rằng chúa ấy sai thiên thần đánh
"thằng" (quân) Assirio, một đêm đánh chết một vạn tám muôn năm
nghìn (trang 62). Con số cũng vô nghĩa, có lẽ người Việt nào đó gà tiếng
Việt cho Rhodes quên không kiểm soát; vạn là muôn, một vạn tám muôn nghĩa
là làm sao?
Ngày thứ bốn nói nữa về Cựu-ước,
đả kích tam giáo, mạt sát Phật Thích-ca, tuyên truyền nữa về chúa trời
đạo Giê-su.
Ngày thứ năm nói về bà Maria là
gái rất ngoan, có chồng nhưng không ngủ với chồng vẫn chửa đẻ ra Giê-su.
Thomas Paine dí dỏm bài bác nỗi mê tín. Ông bảo rằng ví dụ bây giờ có
cô gái không chồng mà chửa đổ cho thần linh ngủ với mình, chắc chắn
không ai thèm tin, thế mà biết bao kẻ đi tin truyện y như thế được bịa
ra cả ngàn năm xưa (Trần Quí, trang 343).
Ngày thứ sáu kể sự tích Giê-su,
Rhodes thuật rằng ông lễ phép nói với mẹ: "Lạy đức Mẹ, mà sao đức
Mẹ có tìm Con làm vậy?" (Rhodes, trang 175).
Ngày thứ bảy kể tiếp sự tích
Giê-su.
Ngày thứ tám tuyên truyền về đạo
Giê-su, đả kích đạo Phật, nói về các lệnh của chúa trời đạo Giê-su,
về ba ngôi thiên-chúa đạo ấy.
Thiên chúa Giê-hô-va cũng như Giê-su
thường nói mày tao, thằng này, thằng nọ trong sách Phép Giảng Tám Ngày,
phản ảnh đúng tư cách những vai ấy trong Thánh Kinh đạo Ki-tô.
Giê-hô-va tự nhận tên mình là Ganh-ghét (Exodus 34:14), lại có lúc dọa
"trát cứt" lên mặt người ta (Malachi 2:3). Trong các tôn giáo trên
thế-gian chưa từng có thần nào dâm ác hơn, tục tĩu hơn.
Tân-ước kể Giê-su hỗn hào mắng
mẹ như sau: "Này người đàn bà kia, ta với ngươi có liên hệ gì đây?"
(John 2:4). Trong suốt sách ấy, Giê-su chỉ gọi Maria bằng "người đàn
bà kia", chớ có bao giờ gọi bằng mẹ đâu! Biết phong tục Việt-nam
lấy chữ hiếu làm đầu, Rhodes đã đặt vào mồm người thợ mộc ấy những
lời người ấy không biết dùng: "Lạy Đức Mẹ, mà sao đức Mẹ có
tìm Con làm vậy?" Giê-su là dân Do-thái, một phụ nữ không phải dân
Do-thái đến nhờ chữa bệnh cho con, Giê-su ruồng rãy: "Cho chó ăn còn
hơn cho người ngoài đạo Do-thái ăn"(Mark 7:27). Thật là đã chẳng
có tí lòng thương nào đối với người mẹ đang lo lắng lại nói vừa hỗn
vừa liều. Gọi người ta thế nào, người ta gọi mình làm vậy thì tính
sao đây?
Rhodes đã đánh bóng tư cách Giê-su
lại gian dối dịch sai lời Thánh-kinh, vậy tại sao Giê-hô-va, Giê-su mày
tao lắm vậy trong sách ông? Có lẽ Rhodes đã tránh né giới sĩ phu hoặc họ
đã cố xa lánh kẻ bịp bợm nên Rhodes chỉ được học tiếng Việt với
những người thấp kém, rồi đã vô tình để Giê-hô-va cùng Giê-su nói năng
hạ cấp.
Phần 3
Pháp hướng về Viễn-đông
Chuẩn bị lên đường
Rhodes bị đẩy sang Ba-tư, ba người
ông nhắm nhấc lên thành giám mục Đông-phương lủi thủi quay về nơi ở
cũ. Năm 1655, sau khi giáo-hoàng Innocent X chết, giáo hoàng Alexandre VII lên
thay, hội Tuyên-truyền lại ngỏ ý muốn đem vấn đề Viễn-đông ra xét.
Người Pháp tức thời vồn vã đáp ứng. Vincent de Paul báo tin rằng nhiều
người ở Paris sẵn sàng bỏ tiền ra giúp chương-trình bành trướng đạo
Ca-tô sang vùng Tây Thái-bình-dương. Hội-đồng Giáo-phẩm Pháp nhượng bộ,
bằng lòng đặt tiền quĩ dưới quyền quản lý của tòa thánh. Hội
Tuyên-truyền chùn bước, lờ đi lần nữa.
Người Pháp quyết nắm chặt món
quà Viễn-đông Rhodes đã dâng. Giữa năm 1657, Francois Pallu cùng một nhóm
người Pháp sang Roma vận động. Họ cả quyết với giáo hoàng rằng họ
chẳng những đặt tiền quĩ dưới quyền trực tiếp của ông, còn chẳng
để tòa thánh mất xu teng nào. Cuối năm ấy, một cha đạo là Pierre
Lambert de la Motte, người miền Normandie, sang Roma nhập vào nhóm Pallu. Ông ta
giàu có, tự nguyện đem của riêng ra ứng trước để nuôi các giám-mục
tương lai bên đất chúa Trịnh, chúa Nguyễn. Thế là một ủy-ban gồm bốn
hồng-y quyết định tuyển ba giám mục để gửi đi hoạt động dưới quyền
điều động của hội Tuyên-truyền.
Dự định của Vatican mới đầu bằng
con ễnh ương đã phồng bằng con bò, họ cử giám mục cai quản chẳng những
đất Việt-nam mà cả cõi Viễn-đông bao la. Tháng 9-1658, họ đã
ngông-nghênh nâng Pallu thành giám mục Heliopolis, cai quản Đàng Ngoài, Lào,
các tỉnh Quảng-tây, Quí-châu, Vân-nam, Tứ-xuyên; cử Lambert làm giám mục
Béryte, cai quản Đàng Trong, đảo Hải-nam, các tỉnh Quảng-đông, Phúc-kiến,
Giang-tây, Triết-giang. Tháng 9-1660 họ nhấc Ignace Cotolendi, một cha đạo
ở Aix-en-Provence, lên chức giám mục Metellopolis, cai quản Nam-kinh, Bắc-kinh,
Sơn-đông, Sơn-tây, Thiểm-tây, cả các nước Triều-tiên, Mông-cổ nữa.
Bồ-đào-nha ấm ức vì thế là
Pháp đã giẵm lên vùng đất họ đang thao túng. Dòng Tên ngả về phe Bồ.
Đức thánh cha rất hiểu bụng dân Ca-tô đối với nhau, đã cảnh cáo
Pallu chớ ăn cánh với dòng Tên nếu không muốn hỏng việc (Chap- poulie,
tome I, trang 120). Các giám mục được lệnh rằng trên đường sang Viễn-đông
phải hết sức bí mật, mai danh, ẩn tích, chớ để phe Bồ biết gì hết;
không được đi qua đất người Ca-tô cầm quyền; phải đi đường bộ
qua đất đạo nào tương đối dễ chịu hơn, nghĩa là qua đất Hồi-giáo,
tức vùng Lưỡng-hà, xứ Ba-tư, ở Ấn-độ thì qua xứ Mogol; nếu đi đường
biển, phải tìm tàu nào chạy thẳng một mạch tới nơi, chớ có ghé đâu.
Tháng 9 năm 1660 giám mục Lambert
cùng hai cha đạo Jacques de Bourges, Francois Dey- dier xuống tàu ở Marseille đi
Syrie để theo đường bộ sang Đông-phương.
Pallu từ Roma trở về Pháp làm những
việc ông chưa hề hé miệng nói cho hội Tuyên-truyền biết. Ông cần tính
việc với hội, tên đúng là công-ti (compagnie), Saint Sacrement trước khi đi
Viễn-đông. Hai bên ý hợp tâm đầu, ông định lập một đoàn thể đi
ngoại quốc tuyên truyền thì hội cũng đang lo lập. Hội cử bốn cha đạo
cùng mười hai thường dân trông coi công việc tổ chức. Một dịp may đến
đương khi họ cần tìm trụ sở. Giám mục Jean Duval có mấy tòa nhà ở
đường Bac, Paris, định dùng làm nơi sinh hoạt cho những người sang Ba-tư
tuyên truyền, việc không thành nên nhà để trống. Hai bên mặc cả, Duval
thấy được lợi bèn giao nhà cho họ.
Tháng bảy, năm 1663, vua Louis XIV chuẩn
y sự hình thành hội đó với tên là "đoàn thể đi đổi đạo cho những
người chưa theo ở ngoại quốc" (séminaire pour la conversion des infidèles
dans les pays étrangers). Các Bạn Tốt cầm đầu hội. Tháng 6 năm 1664, họ bầu
một người trong nhóm họ, Vincent de Meur, kẻ có công môi giới cho Pallu gặp
giáo hoàng, làm chủ tịch. Nhiều giáo sĩ trong nhóm nhận làm đại diện
(procureur) để bênh vực quyền lợi cho đoàn khi cần thiết. Sau này đoàn
trở thành Missions Étrangères de Paris (Hội Paris Truyền-giáo Quốc-ngoại),
công cụ lợi hại nhất của thực dân Pháp tại Việt-nam.
Công-ti Saint Sacrement muốn buôn bán
trong khi tuyên truyền đạo nên tính lập một công ti thương mại. Họ mong
giáo sĩ, thương nhân cùng vượt trùng dương bằng tàu Pháp, dựa lẫn vào
nhau trên đường làm ăn. Thương thuyền thì họ nhờ Fermanel de Favery, một
nhà hàng hải, lo liệu. Ông này đang có một con làm linh mục đại diện
cho Lambert. Ông sang Hoà-lan sắm sửa một chiếc tàu, tên đặt là Saint
Louis, cho công-ti. Năm 1664, ông trở nên một trong những cột trụ của thượng
thư Colbert trong cuộc thành lập công-ti Đông Ấn-độ (compagnie des Indes
Orien- tales) của Pháp.
Không có Rhodes chỉ lối, ắt
Công-ti Saint Sa- crement của giáo-hội Ca-tô mù tịt chẳng biết đường
sang Viễn-đông làm ăn, không dựng nên Hội Paris Truyền-giáo Quốc-ngoại,
Công-ti Đông Ấn-độ được thành lập ngay sau đó cũng thiếu kẻ dẫn lối.
Con người thích phiêu-lưu, mạo hiểm và bất hạnh ấy đã chỉ đường
cho giáo-hội Ca-tô và nước Pháp đi sang miền Tây Thái-bình-dương khuân về
những món lợi lớn lao. Giáo-hội Ca-tô không nhớ ơn, Pháp không thổi phồng
Rhodes sao được!
Giám-mục Pallu mộng làm ăn lớn.
Ông tính cộng tác với Công-ti Đông-phương và Madaga- scar của Pháp để
đóng hoặc mua một tàu to, một thuyền to, một thuyền nhỏ, tuyển mộ một
hoa tiêu, 50 sĩ quan, 55 thủy thủ và 2 bác sĩ giải phẫu; tàu chuyển hàng
từ Âu-châu tới tận Đàng Ngoài. Về tiền nong, ông tính các giám mục
hùn vốn một nửa, nửa kia công ti chịu. Ông tính đòi được quyền mang
theo 20 người riêng của mình (Chappoulie, tome I, trang 125).
Tiếng đồn về các hoạt động của
Pallu làm hội Tuyên-truyền ở Roma giật mình. Sự chào đời của tàu Saint
Louis làm người Hòa-lan sợ Pháp cướp mất chỗ buôn bán mặc dù tháng chạp
năm 1660, tàu ấy bị bão phá tan. Nghe thấy Pallu không tàu Pháp để đi
theo dự định, tính dựa vào phương tiện của Tây-ban-nha đạo Ca-tô,
Lesley bên hội Tuyên-truyền ở Roma vội can gián, khuyên nên đi tàu Anh đạo
Tin Lành an toàn hơn. Tháng giêng năm 1662, Pallu cùng hai cha đạo Louis Laneau,
Pierre Brindeau và mấy người nữa xuống tàu ở Marseille. Khi ấy bọn
Lambert đang ở giữa đường đi Xiêm.
Lambert ở Xiêm
Bọn Lambert tới Syrie, đi đường bộ
qua vùng Lưỡng-hà đến Ba-tư. Tháng 10 năm 1661 tới hải-cảng Gomeron trên
xứ ấy, bên bờ eo biển Ormuz, họ thấy người Anh, người Hòa-lan đã chiếm
hết cơ-sở của Bồ-đào-nha, một nước đang lâm cảnh suy vi. Gặp lúc
Anh đang hòa-thuận với Pháp, người Anh giúp họ xuống tàu Hồi đi nước
Mogol. Lên bến Surate, xa về phía Bắc Bombay, họ nghe nói hải cảng Gao của
Bồ, rất xa về phía Nam, đang tàn tạ nên tiếng đồn rằng nhà cầm quyền
Gao được lệnh tìm bắt họ không làm họ ngại ngùng. Họ ngồi trên ba
xe bò, đi bốn mươi mốt ngày, băng ngang bán đảo Ấn-độ sang hải cảng
Masulipatam, nước Golcon -de, bên bờ biển Coromandel trông ra vịnh Ben- gale. Họ
lại nghe thấy Bồ bất hòa với nước Golconde nên cơ sở Bồ ở Meliapour
xa về phía Nam Madras chắc cũng chẳng bao lâu nữa bị nước ấy chiếm mất.
Họ đáp tàu Hồi tới Tenas- serim ở miền Tây bán đảo Mã-lai, nằm trong
địa phận nước Xiêm. Gặp Jean Cardoso, một cha đạo người Bồ dòng
Tên, Lambert khoe khoang địa-vị giám mục, quên khuấy lời dặn dò của hội
Tuyên-truyền ở Roma.
Bọn Lambert đặt chân lên Tenasserim
khi nước Xiêm, tức Thái-lan, đang thanh bình thịnh vượng, vua Xiêm đang dễ
dãi với đạo Giê-su. Họ ngồi thuyền, đi bộ rồi lại ngồi thuyền, tháng
8 năm 1662 tới kinh đô Xiêm là Ayouthia. Thành thị này cũng nằm trên bờ
sông Menam Chao Phraya như Bangkok ngày nay nhưng nhích lên phía Bắc mấy chục
cây số. Thuyền bè từ Âu-châu, Ấn-độ, Phi-luật-tân, Nhật-bản ghé tới.
Anh, Hòa-lan, Bồ-đào-nha đều có cửa hàng buôn bán. Chùa năm trăm ngôi,
ngôi nào ngôi nấy nhiều tượng nạm vàng.
Năm 1622, vua Phra-chao Song-tham chiều
các thương-gia Bồ đang làm ăn trong nước đã dục dã giám-mục Gonvalve da
Silva ở Malacca gửi cha đạo sang sống với họ. Hai năm sau, Jules Cé- sar
Margico được phái đến. Ông khéo léo, vừa ý vua, được lòng các đại
thần, nhưng chẳng bao lâu ông bị một người Ca-tô đầu độc đưa về
chầu thiên chúa Giê-hô-va. Mãi năm 1655 mới có một giáo-sĩ dòng Tên
khác, người đảo Sicile, từ Macao tới. Việc chính ông Thomas Valguarnera
này nhằm vào là sinh hoạt với nhóm người Ca-tô đã trốn khỏi Đàng
Trong, Nhật-bản để tránh đàn áp.
Hầu hết dân Xiêm theo một đạo
duy nhất là Phật-giáo, khác dân Việt, dân Nhật. Một cá nhân thuộc các
dân tộc này có thể đồng thời theo nhiều đạo, thờ nhiều thần mà chẳng
gặp trở ngại gì, vì thế họ đón nhận thần Giê-hô-va không mảy may
nghĩ tới cái nguy hại về sau. Họ không ngờ rằng thần dâm ác ấy đã
ra lệnh: "Phải dứt khoát giết đi người lễ thần nào khác ngoài
Giê-hô-va ra" (Exodus 22:20) và những kẻ thờ Giê-hô-va đã thực hiện
lời đó dọc theo lịch sử nhân loại. Dân Xiêm nghe giáo sĩ tuyên truyền
cứ như không, vẫn một lòng tuân lời Phật. Trước Lambert gần một thế
kỷ, các giáo sĩ dòng Đa-minh đã bỏ công Dã-tràng ra dụ họ. Nhưng
Lambert vẫn hi-vọng.
Dưới triều vua Narai, quan đại thần
Constance Phaulcon nước Xiêm theo đạo Tin Lành là người Lambert cần giao thiệp
nhất. Phaulcon nguyên tên là Gerachi, người vùng Vénétie, sinh trong một gia
đình thế tộc ở Custodia, đảo Céphalonie, có người nói ông gốc Hi-lạp.
Làm cho công-ti Ấn-độ của Anh, ông trôi dạt tới Xiêm, được tể-tướng
rồi được cả vua tin dùng. Khi tể tướng qua đời, Phaulcon trẻ măng,
được vua cử cầm quyền thay nhưng ông chẳng bao giờ chính thức tuyên bố
giữ chức ấy.
Bọn Lambert đang hòa điệu êm ái với
dân Tây-phương ở Xiêm thì người Bồ tại đó trở mặt. Người Bồ được
lệnh phó vương Goa là phải bắt đám giáo sĩ Pháp vì tội hành nghề cha
đạo lậu. Đang bối rối lo sợ, Lambert được dân Đàng Trong đến cứu
đem về cùng ở trong xóm cạnh sông. Hoàn cảnh đưa đẩy, ông tĩnh tọa,
lại kiêng ăn thịt. Ông hỏi han đám dân Đàng Trong, thấy mang tiếng đã
rửa tội mà ai cũng dốt nát, chẳng hiểu gì về tín lý. Thì ra ai muốn rửa
tội là giáo sĩ rửa liền hôm đó hay hôm sau cho có số đông chớ chẳng
huấn luyện gì. Lambert có lý do để quật lại phe Bồ. Tháng bảy năm
1663, ông viết thư mách giáo hoàng nhiều điều bê-bối của giáo-sĩ Bồ,
rồi mấy ngày sau, ông cùng Deydier xuống thuyền sang Trung-quốc. Thuyền bị
bão phá hỏng, dạt vào đất Cao-miên, cả bọn đành lội bộ quay lại
Xiêm.
Ignace Cotolendi khởi hành bên Pháp năm
1661 với Louis Chevreuil và Antoine Hainques, ông ngả bệnh rồi tháng 8 năm
1662 qua đời tại Masulipatam. Hai người còn lại gặp nhóm Pallu, nhập chung
với nhau. Họ cùng tới kinh đô Xiêm tháng giêng năm 1664. Người Xiêm
không chịu đổi đạo, bọn Lambert chẳng có việc mà làm, bây giờ có
thêm nhóm Pallu nữa. Đương lúc Đàng Trong, Đàng Ngoài đều đang cấm gắt
đạo Giê-su, họ muốn đưa giáo sĩ sang Việt-nam cũng không được. Tính
đi tính lại, thấy đất Xiêm yên ổn, tự do, là nơi nên xây dựng trụ sở
chính để từ đó đến các nước lân cận làm ăn, Pallu quyết định trở
về Âu-châu để xin chuẩn y các dự tính của mình, nhân thể cũng muốn
đòi thêm quyền hành. Tháng giêng năm 1665 ông xuống tàu.
Phạm vi Lambert được cử làm giám
mục không có đất Xiêm, đang thèm nắm quyền ở đấy ông mừng thấy cơ
hội đã đến. Xiêm thuộc địa phận giám mục Malacca. Khi bị Hòa-lan chiếm,
Malacca thiếu giám mục, chỉ có người quyền giám-mục (gouverneur) là cha
đạo già yếu Paul d’Acosta, ông này chạy trốn sang Cao-miên ẩn náu với
mấy gia đình Bồ. Lambert cho Louis Chevreuil đến bẻ ông về tội bỏ bê phận
sự và ngỏ ý rằng Lambert sẵn sàng gánh vác. Ông sợ hãi nhường quyền.
Tháng 5 năm 1666, Lambert đòi cấm
hành nghề một giáo sĩ Bồ đại diện tòa án đạo Goa là Fragoso, dòng
Đa-minh. Fragoso đòi ông trình giấy tờ để chứng minh thẩm quyền, ông
đưa thư của Acosta ra, Fragoso cho là vô giá trị, trục xuất ông khỏi đạo,
lại viết thư báo cho các tín đồ ở Xiêm biết và cấm họ giao dịch với
ông, người giáo sĩ Bồ còn cho niêm yết thư ở nhà thờ dòng Đa-minh, dòng
Tên tại khu vực dân Bồ sinh sống. Dẫu vậy, ông sống trong xóm dân Đàng
Trong, được họ che chở, chẳng sợ Fragoso tí nào.
Lambert viết thư về Paris vạch tội
giáo sĩ dòng Tên, lời lẽ phũ phàng nhưng nội dung vẫn là đã hốt của
làm giầu lại sống buông tuồng, không có gì mới hơn những thư ông đã
viết từ năm 1663.
Tiền cấp cho không đủ sống, các
giáo sĩ ở Viễn đông cần kiếm thêm. Họ không cày cấy, chỉ nhằm vào
buôn bán. Giáo-sĩ dòng Tên phụ trách địa-phận Nhật hàng năm mua lụa
ở Macao, nhờ thương gia Bồ đem sang Nhật bán, lời lãi chia nhau. Vì
Alexandre Valignano, trưởng dòng Tên, vận động, chính phủ Macao ban cho bọn
ấy đặc ân là hàng năm được hưởng lời lãi của 50 tạ lụa bán ra đầu
tiên. Valignano dò ý giáo-hoàng Gré- goire XIII, ông này cho Aquaviva trả lời
là ông chấp thuận, lại nói thẳng rằng đó là nhu cầu cần thiết. Năm
1611, Philip III, vua kiêm hai nước Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, cấp môn bài chấp-thuận
đặc quyền kể trên. Tháng chín năm 1666, chính phủ Macao công bố rằng
buôn bán là nhu cầu cần thiết của giáo sĩ dòng Tên địa phận Nhật, tòa
thánh và vua đều cho phép. Đế quốc thế quyền cấu kết với đế quốc
giáo quyền chặt chẽ như vậy.
Lambert vạch ra rằng chẳng tàu nào
nhổ neo ở Macao đi Xiêm, Cao-miên hay nhiều miền khác không có những khối
hàng lớn của dòng Tên. Tháng 10 năm 1667, ông cho dán lên cửa nhà thờ
xóm Đàng Trong ở kinh-đô Xiêm một thư tố cáo bằng tiếng La-tinh kèm với
bản dịch thành tiếng Bồ. Ông phàn nàn là giáo sĩ dòng Tên lầm-lỗi,
không biết liêm sỉ. Phe Bồ phản công. Valguarnera tố cáo với Vatican rằng
ông phạm nhiều lỗi, một lỗi là làm lễ khi chưa được Acosta ủy quyền.
Ông bẻ lại rằng dòng Tên đã cho phép con chiên cúng giỗ, còn đút lót
vua chúa để được sủng ái. Ông bèn bị bẻ là buôn vàng và gửi một
thuyền đầy hoa quả sang bán bên Quảng-đông.
Dòng Tên ở Xiêm vận động các
giáo sĩ đòi Lambert xuất trình giấy tờ. Tháng 8 năm 1669, họ ra lệnh bắt
ông trình nội trong ba ngày, nếu không sẽ bị trục xuất khỏi giáo hội,
lại bị phạt hai trăm đồng bạc kim loại. Ông nhượng bộ, trình sắc lệnh
giáo hoàng cùng các giấy tờ khác. Phe Bồ công nhận giấy tờ của ông
là thật cả, nhưng ông đã đi lén vua Bồ nên họ vẫn coi ông là kẻ
hành nghề cha đạo bất hợp pháp.
Một người Bồ quyền quí mới đến
Xiêm muốn hạch tội Lambert bèn cùng một đoàn hộ tống đi thuyền treo cờ
Bồ tới đòi ông trình giấy phép của vua Bồ. Sợ mấy người Pháp lâm
nguy, độ trên chục người Đàng Trong vội vàng cầm gươm dao chạy đến.
Người Bồ thấy họ hung hăng bèn rút lui. Sáng sau, dân Đàng Trong võ trang
ngồi trên hai chiến thuyền vua Xiêm ban cho từ trước, diễu đi diễu lại
qua xóm Bồ, chẳng ai dám phản ứng gì.
Vua Narai gửi mười thần dân đến
học khoa học với các giáo sĩ Pháp, cho phép những người này tự do đi
tuyên truyền, lại tặng đất cho họ xây nhà thờ. Bọn giáo sĩ không biết
điều, hí hửng lên chân quá trớn. Một ông hoàng bị bệnh, tay chân liệt
đã trên mười năm, chẳng thuốc men gì chữa khỏi, họ nhận chữa bằng
phép lạ. Họ cầu nguyện rồi họ nói bệnh đã bớt nhưng nếu muốn bệnh
khỏi hẳn, ông hoàng phải theo đạo Ca-tô. Vua Narai thông minh nhận ra sự
thật, vẫn nhã nhặn ban cho bọn họ nhiều đặc ân nhưng tuyệt đối không
để họ nói chuyện đạo Ca-tô trong chốn triều đình nữa. Lambert mở trường
đào tạo giáo sĩ. Năm 1668, ông phong cho một người Đàng Trong làm cha đạo
lấy tên là Joseph.
Bourges đi Âu-châu vận-động
Lambert tới kinh đô Xiêm tháng tám
1662, ông sớm thấy cần phải có quyền để kiềm chế giáo-sĩ phe Bồ.
Ông nóng lòng muốn nắm ưu-thế nên chăm gửi thư về Vatican, tháng mười
gửi một chuyến theo đường thủy, tháng chạp một chuyến theo đường bộ,
rồi tháng ba năm sau một chuyến theo cả hai đường. Nghi ngờ vẩn vơ rằng
thư có thể bị phe Bồ nẫng mất, ông quyết định gửi người về
Âu-châu liên lạc.
Người ra đi là Jacques de Bourges, trước
thuộc nhóm Bạn Tốt, ông xuống Tàu rời Xiêm tháng mười 1663. Tới
Malacca ông thấy sáu trăm dân Ca-tô bị chánh quyền Hòa-lan ngược đãi, chẳng
cho phép đến một cha đạo hành nghề. Tháng giêng 1664, đến Masulipatam,
ông được tin giám mục Cotolendi đã chết dọc đường đi nhận chức.
Ông xuống tàu Anh, đi qua Tích-lan, vượt mũi Hảo-vọng, ghé đảo Saint Hélène,
đảo Ascension, tháng bảy tới Anh, tháng tám đặt chân lên đất Roma. Đang
khi ấy, vua chúa các nước Ca-tô hục hặc với nhau vì nhiều vấn đề.
Vua Tây-ban-nha dựa vào quyền thừa hưởng cơ-nghiệp đã tới cai trị Bồ-đào-nha,
cho đến năm 1640 là khi dân Bồ nổi dậy giành lại tự-do độc-lập. Pháp
về phe với Bồ, viện trợ cho vua Bồ Alphonse VI nào người ngựa, nào tiền
của.
Quyền hành của Vatican một phần nằm
trong tay giáo hoàng, một phần nằm tản mát trong tay các hồng-y. Ý những
người này tùy thuộc vào cái gì lợi cho họ, cái gì không, tùy theo nước
nào thuộc phe họ, nước nào thuộc phe đối lập. Thời thế biến chuyển
không ngừng; món lợi, điều hại, khuynh hướng ngả phe của mỗi người
biến đổi theo.
Giáo-hoàng Alexandre VII lúng túng sợ
mất lòng Tây-ban-nha, dùng dằng lơ đi việc công nhận nền độc lập của
dân Bồ. Vatican dè dặt đối với cuộc tranh quyền giữa giáo sĩ Pháp với
giáo sĩ Bồ ở Viễn-đông tuy phe Pháp là gà nhà. Mặc dù Lambert sơ suất
không ủy quyền rõ ràng cho Bourges, một ủy ban gồm mấy hồng y vẫn họp
để xét các vấn đề được nêu ra. Tháng giêng 1665, ủy-ban chiều ý
Lambert, đặt Cao-miên và Chiêm-thành dưới quyền ông. Giáo hoàng cũng cho
ông cùng với Pallu quyền cử người thay Cotolendi, cho họ có quyền trong thời
hạn bảy năm cử người gốc Viễn-đông không biết chữ La-tinh làm cha đạo.
Hai điều ông bị thất bại là không được làm giám mục cai quản những
đất thuộc quyền Đỡ Đầu, không có quyền hành gì trên đất Xiêm, đất
Pégou (Miến-điện) trừ quyền trông coi người Đàng Trong ở Xiêm.
Lúc ấy, cha đạo dòng Tên là
Philippe Marini, người đã phải trốn khỏi Bắc-hà, cũng đang vận động
ở Roma. Marini là người chịu khó viết lách về Viễn-đông. Năm 1663 ông
cho xuất bản tại Roma một tác phẩm kể thành tích của dòng Tên trên đất
Việt. Ông cũng viết một bài luận về việc dùng tiếng Việt để làm
phép bí-tích; năm 1680, bài đó bị Vatican liệt vào sổ đen, nghĩa là dân
Ca-tô bị cấm đọc.
Marini được giáo-hoàng Alexandre VII
giao cho một thư bảo con chiên Đàng Ngoài rằng phải ngoan ngoãn tuân lời
cha đạo. Khi trở lại Viễn-đông, ông đem theo một toán giáo sĩ, phe Pháp
khó chịu lắm vì cả toán chẳng có ai là người Pháp cả.
Pháp phái giáo-sĩ tới Đàng
Trong
Các giáo sĩ ước lượng rằng năm
1645 Đàng Trong có độ năm vạn tín đồ. Tháng bảy năm ấy, hơn ba tuần
lễ sau khi Rhodes xuống thuyền đi Macao, Thượng-vương cấm đạo, phạt tử
hình một người dân trong nước, cắt một ngón tay bảy người. Cuối năm
sau, ba người nữa bị xử tử. Tuy vậy cứ nhận được quà quí như ngọc
trai, vàng ròng của giáo-sĩ là chúa mềm lòng, cho nên Saccano, Charles della
Rocca vẫn được ở lại hành nghề.
Hiền-vương lên ngôi năm 1648. Biên
giới phía Nam đang ở đèo Cả, chúa mở xuống Phan-rang; biên giới phía Bắc
đang ở Lũy Đồng-hới, chúa mở lên Nghệ-an. Chúa cần giáo sĩ dòng Tên
làm môi giới với người Bồ để mua đại bác nên chỉ cấm đạo nửa vời.
Hai giáo sĩ trên mang tiếng bị cấm ra khỏi Hội-an, bị cấm tuyên truyền,
vẫn dễ dàng lén ra ngoài hành nghề. Pierre Marquez cùng Francois Rivas sang
thay họ, được làm ăn khá dễ dãi. Nhiều thương thuyền Nhật đến buôn
bán đem cho chúa lợi tức to lớn. Chúa thấy cần duy trì mối giao hảo với
chính phủ tướng quân lại biết họ diệt đạo Ca-tô gắt gao nên Chúa gửi
sứ thần sang báo rằng chúa cũng đang trừ khử đạo ấy như họ.
Cần mua đại-bác, chúa Hiền nhờ
Marquez đem món tiền tương-đương với 10,000 đồng écu của Pháp [đồng
tiền bằng bạc hay vàng có giá trị lớn] đi trả trước cho người Bồ,
họ muốn quịt nên cứ lờ đi không giao hàng. Chúa nhờ ông sang Macao điều
đình, ông ra đi đúng lúc Dominique Fuciti đến. Năm 1658, một tàu Bồ từ
Xiêm đi Macao đã gặp bão còn bị tàu Hòa-lan rượt theo, bí quá phải ghé
vào Đàng Trong ẩn núp. Chúa tịch thu tàu, cầm giữ thủy thủ, hành
khách, dọa giết những người Bồ bị bắt. Marquez vô phúc có mặt trên
tàu ấy nhưng may mắn là có một tàu Trung-quốc tạt qua trên đường tới
Hải-nam. Ông lén nhờ chuyển hộ thư cho người Bồ. Người Bồ đành chịu
đem súng tới Hội-an trả cho chúa. Chúa vui mừng, cho phép giáo sĩ dựng một
nhà thờ mới ở đấy, cũng không quên gửi quà tặng đám Macao để làm
hòa. Năm 1661 chúa Trịnh thu lại Bố-chính, Nghệ-an và chúa Nguyễn ngược
đãi phe Ca-tô, hành hình bốn người.
Lambert cử Chevreuil, người vùng
Rennes, đến Đàng Trong hoạt động. Tháng 6 năm 1664 ông này đem theo thư từ,
tiền nong từ Xiêm xuống thuyền ra đi với sứ mệnh là tỏ cho giáo-sĩ
thuộc quyền Bồ ở đất chúa Nguyễn biết phải phục tùng Lambert, kẻ đại-diện
Vatican.
Chevreuil cùng một người thông
ngôn Nhật lên bến Hội-an. Tuy cha đạo Bồ Marquez tiếp đón lịch sự,
ông vẫn sợ bị đồng nghiệp này tống đi. Ông bèn lén lên Huế, liên lạc
với Jean de la Croix, một vị quan triều chúa Nguyễn. Croix là người lai da
trắng, dường như sinh ở Phi-luật-tân, chuyên nghề đúc đại bác, Hiền
vương bắt được khi đánh chiếm Cao-miên. Croix trông coi xưởng đúc Thợ
Đúc; lương bổng hậu, xe võng xênh xang, chẳng vì theo đạo Ca-tô mà bị
vua hắt hủi. Croix đưa ông đến tá túc trong nhà giáo-sĩ Fuciti. Chevreuil lợi
dụng một buổi lễ, khi có đông tín đồ, công bố rằng mình là đại-diện
của Lambert, tức đại diện Vatican, ý nghĩa là ông vượt trên các giáo sĩ
Bồ và là người cai quản con chiên khắp nước Đàng Trong. Ông không báo
trước cho Croix hay Fuciti việc công bố ấy khiến Croix bất bình. Sinh ra e
ngại, ông vội thuê thuyền trốn vào Đà-nẵng, lúc nào cũng có người thông
ngôn Nhật đi kèm. Gặp Marquez, ông cùng đi về Hội-an. Ông trình giấy tờ
chứng tỏ mình là đại diện của Lambert ra cho Marquez và Baudet thấy. Hai
người, sau này cả Fuciti nữa, đều nhũn nhặn tỏ ra rằng lúc nào họ cũng
tuân lệnh Vatican nhưng họ phải chờ cấp chỉ huy của họ ở Macao cho phép.
Chúa Nguyễn truyền lệnh cấm đạo.
Bốn giáo sĩ Bồ, Pháp không được phép ra khỏi nhà. Tại Hội-an, nhà nước
bày một cây thập ác ở giữa đường, ai đi qua cũng phải giẵm lên, dù
là người ngoại quốc. Thương nhân Nhật sợ Giê-hô-va không nhiều bằng
tiếc nhà tan, của hết, đành lìa đạo. Một người Việt chịu chết, ba
đứa trẻ bắt chước người ấy. Quảng nghĩa có cả thảy độ bốn ngàn
con chiên, hầu hết vội bỏ rơi Giê-su. Tổng cộng trong năm 1665, 43 người
bị giết.
Các giáo-sĩ ở Đàng Trong bị trục-xuất.
Ba người phe Bồ xuống thuyền đi Macao. Tháng ba năm 1665, Chevreuil xuống
thuyền, mang theo một "di vật quí báu", đầu Lucie, cô gái bé độc
nhất trong ba thiếu niên bị giết. Tội nghiệp em bé Lucie tưởng người
ta cứ lớn là khôn, em không biết mê muội cuồng tín là gì, đã dại dột
bắt chước và chết với hoang tưởng hiến thân cho một thiên chúa thương
người, hoàn toàn không ngờ vực đã dâng mạng cho một thần dâm ác.
Tháng tám năm 1665, Chevreuil ở Xiêm
lại theo lệnh Lambert đáp thuyền sang ĐàngTrong, lần này đi với một cha
đạo Pháp trẻ tuổi là Antoine Hainques. Tới Phan-rí, Chevreuil bị sốt, mệt
mỏi rút lui. Một mình Hainques mặc trá hình là lái buôn, đi lần lần lên
Huế, vào nhà Croix tá túc mấy bữa. Năm 1666, giáo-sĩ phe Bồ là Rivas và
Barthélemy Acosta cặp bến Hội-an; Acosta lai Nhật như Marquez. Hai người được
Croix đón lên Huế nhưng mặc dù Croix quyền thế, ba tháng sau hai người vẫn
bị chúa Nguyễn đuổi đi. Hainques trở thành cha đạo Tây-phương độc nhất
hành nghề tại Đàng Trong cho tới năm 1668, khi Dominique Fuciti từ Macao quay
lại để làm đại-diện cho giáo-sĩ phe Bồ. Mures, người chỉ huy giáo-sĩ
phe Bồ ở Macao đã bắt Pierre Brindeau gửi đi Goa cho tòa án đạo xét xem
có phạm tội hành nghề cha đạo lậu không; Brindeau là người đã được
Lambert gửi tới Macao để điều đình về vấn đề phe Pháp đòi chỉ huy
phe Bồ. Tình thế khó khăn, Fuciti sớm bỏ Đàng Trong ra đi.
Hainques ở Đàng Trong gửi hai phụ-giáo-sĩ
Việt là Joseph Trang, Luc Ben, sang Xiêm học nghề cha đạo. Năm 1669 Ignace
Baudet, từ Ma-cao đến Đàng Trong, gặp Brindeau đang phụ việc cho Hainques,
thì ra tòa án đạo ở Goa đã tha bổng Brindeau. Năm 1670 Mar- quez cũng ghé
Đàng Trong. Cả Baudet lẫn Marquez đều gặp Joseph Trang, Luc Ben, bấy giờ đã
thành hai cha đạo. Trong một bức thư viết năm đó, Tissanier than rằng cả
hai đều dốt đặc (Chappoulie, tome I, trang 183).
Các giáo sĩ khoe mộ được hàng vạn
tín đồ ở Đàng Trong, thế mà khi tuyển có hai người để dẫn dắt con
chiên, họ cũng chỉ kiếm được kẻ ngu si. Nếu những người theo họ thuộc
giới khá giả, ắt có nhiều người thông minh lỗi lạc, học vấn uyên
thâm chớ đâu đến nỗi ấy. Sĩ phu thời đó nhận xét không sai khi nói rằng
giáo sĩ chỉ quyến dũ được những người khờ khạo, mê muội. Giới
trí thức La-mã cũng nhận thấy y như thế về phong trào đạo Giê-su trong
vài thế kỷ đầu dương lịch.
Hainques mắc bệnh sốt chết tháng
chạp năm 1670, một tháng sau Brindeau lâm cùng bệnh chết theo. Đàng Trong chẳng
còn giáo-sĩ Tây-phương nào cả.
Louis Chevreuil tới Phan-rí chùn bước
như nói trên. Lambert cử ông sang Cao-miên để gặp Paul d’Acosta. Ông thấy
Nam-vang có một xóm dân Bồ-đào-nha. Ông cũng thấy dân Đàng Trong sống
ở đó độ bốn năm trăm người, khoảng năm chục theo đạo Ca-tô; Udong,
kinh đô nước Cao-miên khi ấy, có độ năm sáu trăm người Đàng Trong, có
một giáo-sĩ dòng Tên là Charles della Costa sống với họ. Chevreuil chịu
thua người Miên trên đất Miên; họ cũng như người Thái, ông dụ cách
nào họ cũng vẫn chê Giê-hô-va, chê Giê-su. Ông cũng được chứng kiến cảnh
dòng Tên buôn bán. Một thuyền dòng đó từ Macao ghé bến kinh đô, gỡ xuống
toàn hàng Trung-hoa có giá, hàng ấy bán đi mua thành hàng Cao-miên nhiều
quá, một thuyền chứa không hết, phải dùng tới hai chiếc.
Chevreuil bị người Bồ đòi phải
trình diện tòa án đạo. Năm 1670 ông bỏ Miên sang Macao rồi đến Goa ra tòa
nhưng cũng như Brindeau, ông được thả. Năm sau, Pallu qua đấy trên đường
trở lại Viễn-đông, đón ông đi luôn.
Pháp phái giáo-sĩ tới Đàng
Ngoài
Năm 1630, trước khi vĩnh viễn từ
giã Đàng Ngoài, Rhodes đem mọi việc dặn dò ba người Việt phụ-giáo-sĩ
là Francois, André, Ignace. Không kém các giáo-sĩ dòng Tên ở Cửu-châu bên
Nhật, ông khéo dạy tín đồ phải trung với giáo-hoàng. Ông kiếm được
để đem đến Roma một thư năm ngàn người tỏ lòng thành với Urbain VIII.
Ông đi rồi, một điều xảy ra, "đáng quí" (Chappoulie, tome I, trang
38) cho bọn giáo sĩ thờ thần Giê-hô-va dâm ác, là đất Bắc-hà đã có
người tử đạo đầu tiên. Nạn nhân khư khư với niềm tin là thiên chúa
Giê-hô-va quá tốt, bị chủ, một người hoàng tộc, chém chết.
Tháng ba năm 1631, ba giáo sĩ dòng
Tên từ Macao vào đất vua Lê, chúa Trịnh làm ăn, dẫn đầu là Gaspard d’Amaral,
một người Bồ trước đã có lần đưa Rhodes quay lại đó. Tuy cần kẻ
trung gian liên lạc với thương gia Bồ, chúa Trịnh Tráng vẫn chỉ cho hai
người ở lại thôi.
Các giáo sĩ nói là năm 1640 Đàng
Ngoài có độ mười vạn người theo đạo. Nhiều trường hợp con chiên
ngoan đạo quá, thi-hành đúng lệnh Giê-hô-va đã đập phá tượng đạo khác
(Chappoulie, tome I, trang 39). Majorica kể rằng chúa Trịnh bất bình vì hành
động của họ. Năm 1643, chúa ra lệnh cấm đạo, kể tội bọn giáo sĩ là
đã dạy dân điều sai lầm, lại còn gian dối.
Tháng hai năm 1646, bảy giáo sĩ từ
Macao xuống thuyền, ba người đi Hải-nam, bốn người đi Bắc-hà. Bốn người
này thạo tiếng Việt bậc nhất trong các giáo sĩ. Tàu đắm, quỉ sứ hay
Giê-hô-va bắt đi mất sáu người, trong có Gaspard d’Amaral; một người
thuộc nhóm đi Hải-nam sống sót.
Chúa Trịnh không gắt với đạo
Ca-tô, giáo sĩ Marini kể rằng các vụ ngược đãi đều nhỏ, chẳng qua chỉ
đáng coi là ruỗi muỗi quấy rầy. Nhiều người Ca-tô làm việc cho vua
chúa; bà nấu bếp cho chúa Trịnh Tráng là một. Những người Việt làm phụ-giáo-sĩ
đi lại tự do, họ có vài sách kinh bằng tiếng Việt do Majorica dịch từ
tiếng Âu-châu sang. Giáo sĩ giỏi tổ chức tình báo nên chúa Trịnh định
làm gì họ cũng biết trước.
Năm 1656, một tàu Bồ bị đắm ở
cửa Hồng-hà, quan khám phá ra là tàu đem chì, lưu-hoàng cung cấp cho chúa
Nguyễn Đàng Trong. Rangel, trưởng dòng Tên cãi rằng ông không buôn bán
nên chẳng biết gì, lại khéo vận động lén với mấy bà quyền thế
trong phủ chúa làm cho hai người bị bắt trên tàu được thả hết. Năm
1657, chúa Trịnh Tùng thọ 81 tuổi mọc thêm răng, phủ chúa ăn mừng;
Rangel đem lễ vật đến chúc thọ, được chúa thân ái há miệng cho xem.
Chúa qua đời mấy ngày sau, con lên thay.
Chúa Trịnh Tạc nhận thấy đạo
Ca-tô là một mối nguy cho đất nước, vấn đề đạo ấy ở Nhật, ở Đàng
Trong càng làm chúa Trịnh thấy mình lo là phải. Tháng sáu năm 1658, chúa
báo cho Onuphre Borgès, trưởng đoàn giáo sĩ, lệnh trục xuất cả bọn.
Borgès van nài, chúa cho ông và Tissanier ở lại. Sáu người là Francois
Rangel, Philippe Marini, Joseph Agnese, Charles della Rocca, Barnabé d’Oliveira, Pierre
kéo nhau xuống thuyền về Macao. Hai người ở lại cố mua chuộc lòng
chúa. Tháng hai năm 1660, nhân ngày Nguyên-đán, họ đến phủ chúc tết, lạy
chúa bốn vái, lạy mẹ chúa bốn vái. Bị cấm không được ra khỏi thành
Hà-nội, họ đành hành nghề vụng trộm qua trung gian của những người Việt
phụ-giáo-sĩ, một người Việt gốc Đàng Trong là Raphael Rhodes và một thương
gia Nhật giàu có là Paul de Vada. Giáo sĩ Pierre Albier ở Macao sang được chúa
cho phép ở lại hành nghề.
Năm 1663, chúa cấm đạo, đuổi giáo
sĩ. Vua chúa, sĩ phu phiền muộn vì thấy họ đem những điều nực cười,
vô căn cứ ra dụ dỗ khiến các kẻ thô lỗ, ngu dốt và đàn bà, con gái,
mù quáng cắm đầu cắm cổ tin theo (Chappoulie, tome I, trang 211). Bấy giờ
Macao bị thời cuộc Trung-quốc đảy vào cảnh gian nan, các giáo-sĩ bị đuổi
ấy không muốn quay lại đó nên tính kiếm chỗ khác nương tựa. Tissanier,
Albier chạy đi Xiêm ở với Valguarneira, Borgès đáp tàu Hòa-lan sang Batavia.
Năm 1644, quân Mãn châu đánh bại
nhà Minh, lập nên nhà Thanh. Năm 1660, Trịnh Thành Công trung thành với nhà
Minh, giựt đảo Đài-loan của Hòa-lan dùng làm căn cứ chống lại triều
đình mới. Quân Mãn-châu áp dụng chiến thuật vườn không nhà trống để
quân Đài-loan không trà trộn được với dân trên lục-địa. Vua Khang-hi bắt
dân dọc duyên hải bỏ ruộng vườn, di cư hết vào sâu trong đất liền;
đất Macao trông ra biển nên dân Tàu ở đó phải chịu cùng số phận.
Tháng 5 năm 1662, 22 chiến thuyền Mãn Thanh đến vây quanh Macao, bắt dân
Tàu thi hành lệnh. Năm 1663, hai giáo sĩ dòng Tên là Jacques Le Faure, người
Pháp và Jean Adam Schall von Bell, người Đức, dâng cống vật xin nhà Thanh đặc
biệt miễn cho dân Tàu ở Macao khỏi phải dọn đi; Adam Schall quen lớn
trong Thanh triều vì ông từng là quan dạy Khang-hi khi vua còn nhỏ. Nhà Thanh
nhẹ tay một thời rồi đến năm 1666 đốt tàu Bồ, ngăn trở việc hàng hải,
khiến cho Macao xuống dốc, chính phủ phải bán đồ bằng bạc trong nhà thờ
đi mà tiêu.
Tháng sáu năm 1666, Francois Deydier đại
diện Lambert từ Xiêm đáp thuyền buồm Tàu sang Bắc-hà tiến hành chương
trình tranh quyền điều khiển con chiên đang nằm trong tay phe Bồ. Pallu luôn
luôn nhắc nhở giáo sĩ nói cho dân Việt biết rằng nước Pháp ở xa trên
bốn ngàn dặm, lại không sở hữu đến một tấc đất ở Ấn-độ, chẳng
có gì đáng làm họ e ngại. Tới cửa sông Hồng, Deydier liên lạc với
Raphael Rhodes. Người này báo cho ông rằng có một giáo sĩ dòng Franciscain
(Phan-xi-cô) từ Phi-luật-tân đến, lấy tư cách là đại diện Vatican để
điều khiển con chiên nhưng vừa bị chúa Trịnh đuổi đi. Deydier xuống tàu
ở Hà-nội, đến nhà Raphael trong khu xóm Hòa-lan tá túc rồi nhờ một người
Việt phụ-giáo-sĩ đưa đến gặp Paul de Vada. Ông đưa giấy tờ ra chứng
minh, cố thuyết phục Vada công nhận mình có quyền chỉ huy giáo-sĩ phe Bồ
nhưng Vada thấy ông không được dòng Tên giới thiệu nên một mực hững
hờ.
Deydier bỏ tiền ra cho Raphael vay mua
một chiếc tàu, vừa cho mấy người học nghề giáo sĩ đánh cá làm kế
sinh nhai, vừa làm nơi cho ông ẩn trốn. Ông mặc trá hình là công nhân.
Tuy phần nhiều những người học làm giáo sĩ ngày trước đã bỏ cả,
ông vẫn kiếm được tám người phụ-giáo-sĩ họp mặt một buổi trong
thuyền của ông vào tháng mười, xúi họ rồi được họ nghe theo ký tên
vào một thư gửi cho Lambert tỏ lòng quí mến ông.
Tháng hai năm 1688, Deydier gửi Benoit
Hiên và Jean Huê sang Xiêm học nghề cầu lễ. Hai tháng sau, Lambert phong họ
làm cha đạo. Nhiều con chiên đã bỏ đạo, Deydier cho là tại Borgès ngày
trước cẩu thả, mới hướng dẫn qua loa vài ngày người muốn nhập đạo
đã đem họ ra rửa tội. Năm 1667, chúa Trịnh xuất quân đánh Mạc Kính Vũ
ở Cao-bằng, quan quân tuần phòng cẩn mật, Deydier sợ bị bắt, ít dám
đi lại. Tháng sáu năm 1668, hai tàu Hòa-lan đến, ông nhận được thư từ
Xiêm gửi cho sau hai năm xa cách. Hai cha đạo Việt về nước hành nghề;
Benoit Hiền dốt nát, không thuộc lòng nổi đôi điều căn bản.
Lambert vào Việt-nam
Tháng sáu năm 1669 một tàu Macao cặp
bến Phố Hiến, trên có ba giáo sĩ phe Bồ, người đứng đầu là Dominique
Fuciti, hai người kia là Balthasar de Rocha, người Bồ và Philippe Fieschi, người
Gênois. Sau sáu năm vắng mặt ở Bắc-hà, bây giờ phe Ca-tô Macao mới trở
lại. Fuciti vừa xuống bờ đã được con chiên bí mật đưa ngay lên Hà-nội
sống lén lút. Đúng lúc đất Bắc đang mở một đợt cấm ngặt đạo Giê-su,
quan lại khám xét gắt gao, hai người kia thấy không yên, vội lẩn trốn.
Dân chúng ai thờ Giê-su bị đòn năm mươi roi. Raphael Rhodes biết phòng bị,
quan-lại khám nhà chẳng tìm được tang vật gì. Deydier đóng vai thợ như
đã nói, bỏ Hà-nội xuống phố Hiến là nơi dễ trà trộn với thường dân
Da Trắng.
Tháng bảy cùng năm ấy, một giám
mục Pháp bước vào sân khâu Bắc-hà chơi trò hề như các giáo-sĩ đã tới
trước, vừa trổ ngón dành giựt quyền lợi với cha đạo Bồ vừa giảng
lẽ yêu thương. Một tàu buôn nhổ neo ở Xiêm đem ông với hai cha đạo nữa
là Jacques de Bourges, Gabriel Bouchard đến Đàng Ngoài. Đây là con tàu Pháp đầu
tiên xuất hiện ở Bắc-hà. Tàu lướt trên sông Hồng treo cờ rất lạ đối
với dân địa phương, thuyền trưởng cho người dùng tiếng Bồ đi liên lạc
với quan phụ trách ngoại thương. Cha đạo Deydier dối trá đã quen dặn
viên thuyền trưởng Bourguignon Junet rằng phải khai gian về số giáo-sĩ,
Junet bèn nói dối là tàu chỉ có mỗi một cha đạo thôi để theo tập quán
Pháp phục vụ thủy thủ. Trên tàu, một mình giám mục Lambert mặc áo
giáo-sĩ, hai cha đạo kia mặc trá hình làm lái buôn.
Junet trình bày cho quan ta rằng
công-ti Đông Ấn-độ của Pháp mới ra đời năm 1664, phái ông đi tìm thương
cảng để buôn bán. Tuy nhóm Hòa-lan đã tung tin ra là Pháp đem cha đạo lậu
vào trong nước, chúa Trịnh vẫn lờ đi. Chúa thỏa thuận cho Pháp mở
thương điếm ở phố Hiến, lại còn ngỏ ý mong mỏi họ đem súng đại bác
sang bán cho.
Fuciti tự nhận là người cầm đầu
giáo-hội Ca-tô ở Bắc-hà, ông có hẳn hoi giấy chứng nhận cấp bởi
Michel de Angeli, giáo sĩ dòng Augustin, tòa giám mục Macao. Theo ông biết thì
tháng 11 năm 1664 hội Tuyên-truyền ở Roma đã quyết-định cho trưởng dòng
Tên toàn quyền bổ nhiệm các giáo sĩ thuộc quyền dòng. Ông cũng được
Piccolomini, trưởng dòng Tên, giảng rằng chiếu theo quyết-định ấy, giáo
sĩ dòng Tên không phải phục tòng những kẻ khác dù những kẻ này đại
diện hội Tuyên-truyền. Ông bảo con chiên Bắc-hà phải tuân theo ông, chớ
có nghe lời phe Pháp.
Deydier muốn bắt con chiên công nhận
giám mục Lambert là kẻ có quyền cao nhất trong đám người Ca-tô ở Bắc-hà,
bèn mời Fuciti họp với vài phụ giáo-sĩ cùng vài con chiên hạng khá. Ông
đưa ra sắc lệnh cử Lambert làm đại diện Vatican. Fuciti vẫn không chịu,
viện cớ rằng miền Viễn-đông thuộc quyền Đỡ Đầu của Bồ, Lambert
chưa được vua Bồ chấp nhận tức là vẫn chưa có chức vị hợp pháp.
Bắc-hà đã có hai cha đạo người
Việt, Lambert phong chức ấy cho bảy người nữa. Tháng hai năm 1670, ba cha
đạo Pháp họp với chín cha đạo Việt trong một cuộc hội-nghị (synode)
để bàn về việc tổ chức giáo-hội Bắc-hà và nhất là để tôn Lambert
lên làm chủ giáo hội ấy. Lambert cùng Bouchard lên tàu Pháp quay về Xiêm
để Bourges ở lại giúp Deydier. Hai cha đạo này giả làm thợ đêm đêm tiếp
tục lẩn đi giảng cho người ta nên ăn ở thẳng thắng đường hoàng như
mình, hiền lành như Giê-hô-va.
Lambert mang danh là giám-mục Đàng
Trong mà chưa bao giờ tới đấy nên các giáo-sĩ Pháp muốn ông đi một
chuyến, mặt nữa hai cha đạo Việt là Joseph Trang và Luc Ben tự thấy
không đủ sức lèo lái tín đồ trong nước nên cần người ngoại quốc
đến cầm quyền, ông bèn quyết định đến đất chúa Nguyễn. Tháng bảy
năm 1671, ông cùng hai cha đạo Việt ấy và hai cha đạo Pháp là Bénigne
Vachet, Guillaume Mahot, kín đáo xuống tàu dời Xiêm. Tàu nhỏ, bốn thủy thủ
đều là người Đàng Trong, ban đêm năm người đổ bộ lên một chỗ ở
Bình thuận giáp giới Chiêm-thành.