-
- NHỮNG TỘI ÁC CỦA GIÁO HỘI LA
MÃ VÀ VIỆC CÁO THÚ TỘI ÁC
- CỦA GIÁO HOÀNG JOHN PAUL II VÀO
NGÀY 12-3-2000
Việt Án Anh Nguyễn Mạnh
Quang
- Kính dâng: hương hồn song thân,
anh linh các vị anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình hy sinh cho đất nước và
dân tộc Việt Nam.
- Kính tặng Cụ Đỗ Mậu, người
chiến sĩ tiền phong đứng lên phất cờ cho cuộc chiến chống lại chính
sách xâm thực của đế quốc thực dân xâm lược Vatican.
- Cho em, người bạn đời đã cương
quyết sống theo lẽ phải và lương tâm, cương quyết đặt quyền lợi của
tổ quốc Việt Nam thân thương lên trên hết, và cương quyết sát cánh
bên tôi khi biên soạn tập sách này.
- Cho các con tôi và tất cả học
trò của tôi ở trong nước cũng như ở hải ngoại.
NHẬP
Năm 1992, Giáo Hoàng John Paul II
chính thức nhìn nhận Giáo Hội đã thực sự sai lầm trong Vụ Án Galileo.
Cuối năm 1994, Ngài lại kêu gọi giáo dân phải dọn mình thống hối trước
khi bước sang thiên kỷ thứ 3. Rồi từ đó, đi đến đâu, nếu có dịp
thuận tiện là Ngài nhìn nhận với nhân dân thế giới là Giáo Hội đã
có những hành động tội ác với các dân tộc mà quyền lực của Giáo Hội
vươn tới. Cho đến đầu tháng 3-2000, Ngài đã xin lỗi nhân dân thế giới
có tới cả trăm lần. Sau đó, Giáo Hội còn chuẩn bị cho Ngài chính thức
cáo thu tội ác của Giáo Hội vào ngày 12-3-2000. Nhân dân thế giới vô
cùng phấn khởi và chờ đợi. Rồi ngày 12-3-2000 đã đến, hàng tỷ
con mắt hồi hộp hướng vào TV theo
dõi. Nhưng than ôi! tất cả những lời cáo thú tội ác của Ngài chỉ là
những lời nói bâng quơ trống rỗng với những lời cầu xin và nhận lỗi
với Chúa và lấp liếm cho xong việc, không có một lời nào nói thẳng với
các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội. Sau khi theo dõi buổi lễ long trong
cáo thú tội ác này, phản ứng của nhân dân thế giới chia làm hai phe
trái ngược nhau như nước với lửa. Một bên là tuyệt đại đa số nhân
dân thế giới đã học và đọc lịch sử thế giới và biết rõ những việc
làm tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua, thì cho rằng "Thà
không tổ chức ngày lễ chính thức cáo thú tội ác với nhân dân thế giới
còn hơn là cáo thú tội ác chuội như vậy." Một bên là những
tín đồ Gia-tô cuồng tín, vẫn còn u mê ngụp chìm trong đại dương ngu dốt,
thì lại tuyên bố xấc xược giống như là họ đang sống trong thời Trung
Cổ hay trong một chế độ đạo phiệt Gia–tô. Chúng ta hãy theo dõi tờ
Sàigòn Nhỏ ghi lại những lời tuyên bố rất là Gia-tô của những người
cuồng tín này:
"Tại nhà thờ St Elizabeth ở
Columbus, Ohio, anh Holum Lee, 30 tuổi, lại phát biểu rằng: "Tôi cho là
không cần phải xin lỗi gì hết". Cũng vậy, tại một nhà thờ khác
ở Orange County, một tín hữu gốc Á Châu cho rằng "tại sao phải xin lỗi,
chúng ta phải hiểu rằng khung cảnh lịch sử và hậu trường xã hội thời
đó khác với bây giờ, cho nên những việc xẩy trước đây có lẽ cũng là
việc đương nhiên và dân chúng thời đó coi là truyện dĩ nhiên bình thường
trong bối cảnh của nó. Không thể lấy hiện tại mà áp đặt giá trị
luân lý vào việc xẩy ra xưa kia được." (1)
Người viết tin rằng những người
Gia-tô cuồng tín tuyên bố những lời ngang ngược như trên có thể là
không biết Giáo Hội La Mã mà họ tưởng là thánh thiện của họ đã chủ
động dựa vào bạo lực để làm những việc chẳng thánh thiện chút nào
cả cho nên họ mới tuyên bố như vậy. Đại khối nhân dân thế giới, nhờ
sống trong chế độ dân chủ tự do, nhờ được tiếp nhận nền giáo dục
đại chúng và khai phóng cho nên mới biết đại khái
Giáo Hội La Mã là một tổ chức tội ác đã gây cho nhân loại không biết
bao nhiêu là thảm cảnh đau thương. Thực ra, nếu không mất nhiều năm tháng
tìm hiểu sâu rộng về những việc làm của Tòa Thánh Vatican thì dù là thần
đồng hay thiên tài đi nữa cũng không thể nào biết tường tận những ngọn
núi tội ác của Giáo Hội La Mã cao chất ngất đến mức nào. Hy vọng
bài viết này sẽ giúp cho độc giả nhìn thấy được một số trong những
việc làm tội ác có chủ ý của Tòa Thánh Vatican đã khiến cho Đức Giáo
Hoàng John Paul II mất cả gần mười năm ăn năn thống hối và chuẩn bị
cho ngày cáo thú tội ác của Giáo Hội La Mã vào ngày 12-3-2000 vừa qua.
MỘT CÁI NHÌN VỀ
GIÁO HỘI LA MÃ
Nói đến đạo Gia-tô hay Thiên
Chúa La Mã là người ta nghĩ ngay đến một ông thượng đế cực kỳ hung
ác, tâm địa xấu xa, đầy lòng ganh ghét, ưa thích trả thù một cách vô
cùng man rợ. Sự kiện này được sách Leviticus (Kinh Cựu Ước) ghi rõ như
sau:
26.1.- "You shall not make idols
for yourselve; neither a carved image nor sacred pillar you rear up for yourselves; nor
shall you set up on an engraved stone in your land, to bow down to it; for I am the LORD
your god."… [Các ngươi không được làm những hình tượng nào để sùng
bái cho chính các ngươi; các ngươi cũng không được khắc chạm một hình
ảnh nào hay dựng nên một cột trụ thiêng liêng nào để suy tôn các ngươi;
ở trong vùng cư ngụ, các ngươi cũng không được dựng nên một hòn đá
nào có khắc chạm để cúi đầu nghiêng mình trước nó; vì rằng Ta là THƯỢNG
ĐẾ của các ngươi.]
26.14.- "But if you do not obey Me,
and do not observe all these commandemrnt", [Nhưng nếu các ngươi không nghe lời
Ta, không tuân hành những lời răn dạy này,]
26.15.- "and if you despise my
statutes, or if your soul abhors My judgements, so that you do not perform all My
commandements, but break My covenant". [và nếu các ngươi khinh thường những
quy luật của Ta, hay nếu linh hồn của các ngươi khinh ghét những lời
phán xét của Ta, cho nên các ngươi không thực thi tất cả những lời răn
dạy của Ta, và không tuân hành quy ước của ta.]
26.16.- "I also will do this to you:
I will even appoint terror over you, wasting disease and fever which shall consume the
eyes and cause sorrow of heart. And you shall sow your seed in vain, for your enemies
ahall eat it". [Thì Ta sẽ đem lại cho các ngươi những gì khủng khiếp
nhất, những bệnh tật tàn phá các ngươi, dịch sốt rét sẽ hủy hoại
tròng mắt của các ngươi và nhiều cảnh đau buồn khác nữa. Những hạt
giống mà các người gieo xuống đất cũng sẽ uổng công vì rằng kẻ thù
của các nguơi sẽ ăn hết những hạt giống đó.]
26.17.- "I will set My face against
you, and you shall be defeated by your enemies. Those who hate you shall reign over you,
and you shall flee when no one pursues you." [Ta sẽ nhìn thẳng vào mặt các
ngươi, và các ngươi sẽ bị thảm bại trước kẻ thù. Những người nào
thù ghét các ngươi sẽ đè đầu cỡi cổ các ngươi, và các ngươi sẽ phải
chạy trốn cả những khi không có người nào đuổi bắt các ngươi.]
26.18.- "And after all this, if you
do not obey Me, they I will punish you seven times more for your sins". [Và nếu
các ngươi không nghe lời Ta, Ta sẽ trừng phạt các người gấp 7 lần tội
lỗi của các người.] (2)
Nghiền ngẫm những lời kinh trên
đây, chúng ta thấy rằng ông thần mà Giáo Hội La Mã suy tôn và vinh danh
lên thành ông Thượng Đế toàn năng toàn thiện thực sự chỉ là một
tên hung thần vô cùng độc ác, một thứ ác quỷ vượt lên trên tất cả
mọi thứ ác quỷ. Nếu so sánh với ông thần Hà Bá ngự trị ở khúc
sông Chương Thủy tại đất Nghiệp trong câu chuyện "Hà Bá Cưới Vợ"
thì ông Thượng Đế của Giáo Hội La Mã quả là một thứ siêu hung thần,
siêu ác quy với đủ mọi cá tính xấu xa, đê tiện, tham lam, ích kỷ, độc
ác, háo danh, hám lợi, đầy lòng ganh ghét, tị hiềm và ưá thích trả
thù một các vô cùng man rợ. Một ông thần độc ác và bạo ngược như vậy
thì bất kỳ một người nào còn chút lương tâm cũng phải lợm giọng và
không thể nào chấp nhận được, nói chi đến chuyện vinh danh lên hàng Thượng
Đế để mà thờ phượng và cầu xin. Chỉ có những hạng người không
có lý trí, có đầu không có óc mới làm như vậy. Có lẽ vì thế mà Tòa
Thánh Vatican phải chủ trương thiết lập các chế độ đạo phiệt
Gia-tô để dùng bạo lực khủng bố những người không
chịu tin theo, để dùng khai thác lòng tham lam, háo danh hám lợi
trong việc sử dụng những chức vụ cùng những lợi lộc của và trong
chính quyền làm những miếng mồi nhử những phường háo danh hám lợi, để
thi hành chính sách ngu dân và giáo dục với mục đích biến tín đồ
thành những hạng người có đầu mà không có óc hầu dễ bề thống trị
và sai khiến.
Ngoài ra, nói đến đạo Gia-tô hay
đạo Thiên Chúa La Mã, người ta cũng lại nhớ những chuyện loạn luân,
dâm loàn trong thánh kinh và những thành tích về loạn luân dâm loàn của
các ông Giáo Hoàng và các nhà tu hành của Giáo Hội La Mã. Một trong những
chuyện loạn luân dâm loàn này được ghi rõ trong Kinh Sáng Thế (Cựu Ước),
nguyên văn như sau:
" 30.- Lot ở Xoa thì sợ hãi,
nên cùng hai con gái mình bỏ đó mà lên núi, ở trong một hang đá kia. 31.-
Cô lớn nói cùng em mình rằng: Cha ta đã già mà không còn ai trên mặt đất
đến sánh duyên cùng ta theo như thế thường thiên hạ. 32.- Hè! Chúng ta
hãy phục rượu cho cha, và lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống
cha lại. 33.- Đêm đó, hai nàng phục rượu cho cha mình; nàng lớn đến nằm
cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết.
34.- Qua ngày mai chị nói cùng em rằng: Nầy, đêm hôm qua ta nằm cùng cha rồi;
hôm nay chúng ta hãy phục rượu cho cha nữa, rồi em hãy nằm cùng người,
để lưu truyền dòng giống cha lại. 35.- Đêm đó, hai nàng lại phục rượu
cho cha mình nữa, rồi nàng nhỏ thức dậy lại nằm cùng cha, nhưng người
chẳng hay lúc nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết. 36.- Vậy hai người con gái
của Lót do nơi cha mình mà thọ thai. 37.- Nàng lớn sinh được một con
trai. Đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ phụ của dân Mô-áp đến bây giờ.
38.- Người em cũng sanh đặng một con trai, đặt tên là Bên-Am-mi; ấy là tổ
phụ của dân Am-môn đến bây giờ." (3).
Không ai chối cãi được chuyện trên
đây là một chuyện loạn luân dâm loàn. Điều kỳ lạ nhất là chuyện loạn
luân dâm loàn xấu xa này lại được đem vào trong Kinh Thánh để dạy dỗ
tín đồ học hỏi. Tri hành hợp nhất. Học thì tất nhiên là phải biết,
biết thì phải hành. Thói thường, những chuyện gì càng dâm loàn xấu xa
thì lại càng dễ dàng phát triển và dễ dàng được người đời bắt
chước mà làm theo. Trong hệ thống tổ chức Giáo Hội La Mã, giáo hoàng,
các vị chức sắc cao cấp và các ông tu sĩ là những người thuộc Kinh Thánh
hơn ai hết, và nhớ thuộc lòng bài học loạn luân dâm loàn trên đây trước
hơn ai hết, và cũng là những người thực thi bài học loạn luân dâm
loàn này trước nhất để rồi còn phải nêu gương cho tín đồ noi theo. Sự
kiện này đã được Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục sinh ghi lại như sau:
"Giáo hoàng Tây Ban Nha dòng
Borgia là Alexander VI (1492-1503) hiện nguyên hình là "con quỷ râu xanh",
loạn luân ba đời trực hệ đàn bà, con trai là Cesare và con gái là
Lucrezia lộng hành đến nỗi thay cha cai trị Giáo Hội, có lần Lucrezia ngồi
trên tòa Phêrô và các triều thần, các thầy dòng xúm vào hôn chân nàng…
Đây là chuyện "thất tình lục dục" của ngàn năm thứ hai…"
(4).
Sách Gia Tô Thực Dân Sử Liệu
dành hẳn 67 trong số 83 trang của Chương III để nói về chuyện loạn
luân và dâm loàn của các ông Giáo Hoàng và nhà tu hành áo đỏ (hồng y),
áo tía (giám mục), và áo đen (linh mục). Chúng tôi xin kể ra đây một
vài đoạn:
"Giáo Hoàng John XII (955-963)
đã từng loạn luân với mấy người em gái của ông ta (… he commited
incest with his sister (Friedrich Gontard: The Chair of Peter, 1964, trang 204).
"Giáo Hoàng John XXIII (1410-1415)
trong thời Ly Giáo, [ khác với Giáo Hoàng John XXIII (1958-1953)] xuất hiện trước
Công Đồng với một bản cáo trạng về việc làm của ông ta. Ông đã bị
tố cáo bởi 37 nhân chứng, trong số đó phần lớn là các vị giám mục
và linh mục đều xác nhận ông ta đã phạm tội thông dâm với gái chưa
chồng, gian dâm, loạn luân, đồng tình luyến ái, mại thánh, trộm cắp
và giết người! Điều đó cũng được một số đông nhân chứng xác nhận
rằng: Ông ta đã dụ dỗ, cưỡng dâm 300 nữ tu. Viên thư ký riêng của
Giáo Hoàng John (XXIII) tên là Niem nói rằng Giáo Hoàng đã giữ một khuê
phòng tại Boulogne ở đó có khoảng 200 cô gái đã là nạn nhân của tính
dâm dục của ông ta." (Pope John XXIII, having appeared before the Council to
give an account of his conduct, he was proved by thirty-seven witnesses, the great part of
whom were bishops and priests of having been guilty of fornication, adultery, incest,
sodomy, simony, theft, and murder. It was proved also by a legion of witnesses, that he
had seduced and violated 300 nuns. His own secretary, Niem, said that he had at Boulogne,
kept a harem, where not less than 200 girls had been the victims of his lubricity."
"Sixtus là vị Giáo Hoàng đầu
tiên cấp phép mở nhà chứa ở La Mã; hàng năm các nhà chứa này đã mang
lại cho nguồn lợi tức 30 ngàn đồng ducat [tiền vàng]. Ông cũng thu được
khá nhiều tiền thuế đánh vào các ông tu sĩ đuợc giữ người tình. Nguồn
lợi tức nữa là thuế công nhận những đặc ân dành cho nhà giầu được
phép giao du và an ủi những bà có chồng vắng nhà." [Sixtus was the first
pope to license the brothels of Rome, they brought him thirty thousand ducats a year. He
also gained considerably from a tax imposed on priests who kept a mistress. Another source
of income was granting privileges to rich men to enable them to solace certain matrons in
the absence of their husbands [Peter De Rosa: Vicars of Christ, 1988, trang 101.] (5)
Những chuyện quái đản trên đây
đã làm cho một số khá nhiều tín đồ Gia-tô phải cảm thấy ngượng ngùng
khi nói đến tôn giáo của họ. Chúng ta không hiểu tại sao Giáo Hội La
Mã lại thờ phượng ông Thượng Đế tàn ngược, bất nhân và có tâm địa
xấu xa như vậy. Chúng ta cũng không hiểu tại sao đã tự phong là "Hội
thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền" mà
Giáo Hội lại có những chuyện loạn luân dâm loàn như vậy ở trong Thánh
Kinh của họ? Sự kiện này chứng tỏ rằng ngay cái danh xưng của Giáo Hội
thường rêu rao đã nói lên cái tính cách khoa trương, huênh hoang khoác lác
và đại bịp của Giáo Hội La Mã. Đừng tin vào cái danh xưng của một tổ
chức mà hãy nhìn vào thực chất và những hành động của tổ chức đó.
Danh xưng hay bề ngoài càng được đánh bóng thì thực chất và hành động
càng tồi tệ xấu xa.
Đồng thời, sự kiện này cũng giúp
cho chúng ta nhìn thấy có sự giống nhau giữa một bên là bản chất siêu
độc ác, tâm địa xấu xa, đầy lòng ganh ghét và ưa thích trả thù một
cách vô cùng dã man của ông thần mà Giáo Hội suy tôn và vinh danh lên làm
Thượng Đề và cưỡng bách người đời phải thờ phượng và một bên
là bản chất của Giáo Hội La Mã đã thể hiện qua những việc làm) từ
xưa cho đến nay. Người ta thường nói: "đồng thanh tương ứng, đồng
khí tương cầu". Viêc các ông giáo hoàng trên đây cũng loạn luân
dâm loàn giống như những chuyện loạn luân dâm loàn trong Thánh Kinh"
và bản chất của Giáo Hội cũng bất nhân và bạo ngược cho nên mới chọn
một ông thượng đế bất nhân và bạo ngược như vậy để thờ là vì vậy.
Có thể vì các bản chất xấu xa này mà các nhà lãnh đạo Vatican mới
đưa ra chủ trương "thần quyền (tôn giáo) chỉ đạo thế quyền",
và tự phong là "một tổ chức tôn giáo duy nhất thay quyền Thượng
Đế ở trên trái đất này", rồi đòi phải thiết lập các chế
độ độc tài chuyên chính để vinh danh ông thượng đế quái đản như vậy?
Có như thế thì Giáo Hội mới tồn tại được. Chính vì chủ trương dùng
bạo lực để cưỡng ép người đời phải thờ phượng ông thượng đế
vô cùng quái đản này cho nên Giáo Hội mới phải luôn luôn bám chặt lấy
những triết lý hành động:
1.- Dựa vào chính quyền
chuyên chính để sử dụng bạo lực cưỡng bách dân chúng phải thờ
phượng ông Thượng Đế bạo ngược ác độc này và cưỡng bách người
đời phải tin theo những tín điều vô cùng phí lý và phản khoa học của
Giáo Hội.
2.- Thi hành sách lược bóp
méo sự thật bằng cách làm sai lạc tin tức cũng như loan tin thất
thiệt và cho thiết lập một cơ quan đặc trách về việc làm bất chính
này. Cơ quan này có danh xưng là "Văn Phòng Làm Sai Lạc Tin Tức Và
Tuyên Truyền" (Disinformation and Propaganda).
3.- Thi hành sách lược hàm huyết
phún bằng cách bới móc đới tư và vu khống, bịa đặt những chuyện
xấu xa để bêu riếu, bôi lọ và làm nhục tất cả những tổ chức hay
thành phần nào bị Giáo Hội coi như là kẻ thù của Giáo Hội. Những nạn
nhân này là các tôn giáo phi Gia-tô và những thành phần mà Giáo Hội cho rằng
không thể lôi cuốn vào trong quỹ đạo của Giáo Hội, trong đó có các
nhà viết sử chân chính. Sách lược này được hỗ trợ bằng hai sách lươc
"Cả vú lấp miệng em" và "Tăng Sâm giết người".
Sách lược "cả vú lấp miệng em" được thi hành bằng cách
cố gắng nắm giữ các phương tiện truyền thông càng nhiều càng tốt để
phổ biến sâu rộng những ấn phẩm của sách lược "hàm huyết
phún nhân" đưa ra. Sách lược "Tăng Sâm giết người"
được tiến hành bằng cách sử dụng các phương tiện truyền thông cho nhắc
đi nhắc lại hoài (nhồi sọ) những luận điệu và những điều ngụy tạo
trong các ấn phẩm của sách lược "hàm huyết phún nhân" khiến
cho người đời nghe thét rồi tưởng là sự thật đã xẩy ra đúng là những
gì mà Giáo Hội đã cho phổ biến.
4.- Thi hành chính sách ngu dân
và giáo dục nhồi so để biến tín đồ
thành những người cuồng tín, thành những người không còn lý trí, những
người có đầu mà không có óc tức là làm cho họ ngu đi khiến cho họ không
còn đủ lý trí để nhìn ra tính cách phi lý và phản khoa học trong các
tín điều và những việc làm bất chính, bất nhân và bất nghĩa của Giáo
Hội đã làm từ xưa cho đến nay.
NGUYÊN NHÂN ĐƯA
ĐẾN TỘI ÁC
Quan niệm về tôn giáo của Giáo Hội
La Mã hoàn toàn khác hẳn với quan niệm về tôn giáo của các nhà hiền
triết Đông Phương. Từ ngàn xưa, các nhà hiền triết Đông Phương đều
cho rằng cứu cánh của tôn giáo là cứu nhân độ thế. Mục tiêu của
tôn giáo như thế nào phải được minh thị cho người đời nhìn thấy
rõ. Mục tiêu của tôn giáo phải là những gì cao đẹp nhằm chỉ dạy cho
người đời hướng thiện bằng cách tự giác để tự tạo cho chính mình
những đức tính cao đẹp như: vị tha, vô tư, công bằng, bác ái, nhân từ,
đại lượng và khoan dung. Muốn làm được như vậy, con người phải quay
về với chính mình (hướng nội = tự lực, tự cường, trông cậy vào
chính mình) để tu tâm dưỡng tính, sửa mình sao cho lòng luôn luôn ngay thẳng,
lúc nào cũng thành thực với chính mình và thành thực với mọi người
chung quanh. Có như vậy thì mới hy vọng tiến tới mục đích cao cả như
đã nói ở trên. Khi đã đạt được những mục đích cao cả trên đây
thì tâm trí không còn vướng mắc vào những dục vọng thấp hèn có tính
cách giai đoạn (nhất thời). Khi đã không còn vướng mắc và những dục
vọng thấp hèn thì tâm hồn sẽ lâng lâng thanh thản, lương tâm thoải
mái, và dù là ở vào bất kỳ hoàn cảnh nào, người ta cũng vẫn có thể
ứng xử bằng một thái độ ung dung tự tại. Ở vào trạng thái này, đạo
Khổng gọi là đã đạt đến bậc chính nhân quân tử, và đạo Phật gọi
là đã thành Phật. Phật tại tâm là vậy. Một khi đã đạt đến trạng
thái như vậy, tất nhiên là không cần phải dâng cúng lễ vật như một
thứ đồ hối lộ cho bất kỳ vị thần linh nào để xin được cứu giúp
hay cứu rỗi. Lý do dễ hiểu là đã đạt đến mức như vậy thì làm gì
có dau khổ hay khốn cùng để mà xin được cứu giúp, và có tội ác gì
đâu mà cần phải xin được tha thứ hay cứu rỗi.
Nói cho rõ hơn, các nhà hiền triết
Đông Phương cho rằng tôn giáo phải có một hệ thống tư tưởng cao đẹp
như một thứ hương thơm ngào ngạt của một loài hoa quý. Tôn giáo chỉ
biết nói những điều phải, những điều thuận tai khiến cho người nói
nói ra không ngượng miệng, người nghe nghe không nghịch nhĩ. (Kỷ sở bất
dục, vật thi ư nhân). Tôn giáo không dạy người đời ăn gian nói dối,
không lừa bịp người đời và cũng không bao giờ nghĩ đến việc dựa vào
các chính quyền chuyên chế để sử dụng bạo lực cưỡng bách người đời
phải tin theo và dùng những chức vụ cùng những lợi lộc trong chính quyền
để câu nhử những phường háo danh hám lợi. Đây cũng là chủ trương của
thuyết chính danh và đạo nhân trong chính Nho. Hữu xạ tự nhiên hương. Những
tư tưởng cao đẹp này tự nó sẽ tỏa ra những hào quang muôn mầu muôn sắc
lôi cuốn người đời từ muôn phương đua nhau tìm hiểu. Tìm hiểu là đủ
rồi, còn tin theo hay không là tùy ý nguời ta. Nếu thấy hay, thấy thích,
thấy hợp lý, hợp ý, hợp tình thì người ta sẽ tự động tin theo và cổ
võ những người khác tìm hiểu. Đạo Phật, đạo Khổng và đa念o Lão đều như thế cả. Chính vì vậy mà các tôn giáo
Đông Phương không cần phải dựa vào bạo lực của chính quyền độc tài
chuyên chế để cưỡng bách người đời phải tin theo, không hề có những
chuyện hoang đường, phi nhân bản, phản khoa học để lường gạt người
đời, và cũng không cần phải thiết lập "Office Of Disinformation and
Propaganda" làm những việc bất chính bằng những sách lược "hàm
huyết phún nhân", "cả vú lấp miệng em" và
"Tăng Sâm giết người" để lôi cuốn người vào đạo. Chính
vì vậy mà các tôn giáo Đông phương không cần phải "nhập nhằng
đời với đạo" và chưa hề liên lụy vào những việc làm bất
chính, bất nhân và bất nghĩa.
Trái lại, đạo Thiên Chúa La Mã (đạo
Gia-tô) hoàn toàn khác hẳn. Trong khi đạo Phật, đạo Khổng và đạo Lão
chủ trương dạy đời "hướng nội", nghĩa là phải quay về
với chính mình, trông cậy vào chính mình để tu tâm dưỡng tính, kiềm chế
hay dứt bỏ lòng tham, sân, si để thoát khỏi những dục vọng thấp hèn
nhất thời cho lòng mình thanh thản, thì Gia-tô giáo lại chủ trương dạy
đời "hướng ngoại", nghĩa là trông cậy vào ngoại lực để
nhờ vả, để cầu xin, phải co ro khúm núm (sợ hãi vì mặc cảm tội ác)
dâng lễ vật lên Thượng Đế (đút lót đồ hối lộ và lạy lục để cầu
xin bằng những lời tâng bấc nịnh bợ để van xin được cứu giúp, được
ban ân phước, được hưởng những đặc quyền đặc lợi, được tha thứ
và được cưú rỗi. Thực trạng này cho chúng thấy có sự khêu gợi và
khích lệ lòng tham lam, ích kỷ của con người (van xin được hưởng đặc
ân, đặc quyền, đặc lợi đặc biệt hơn những người khác) và có
khuynh hướng tạo cho con người trông mong vào sự giúp đỡ của người
ngoài (trông mong vào ngoại lực). Làm như vậy để làm gì, chúng tôi sẽ
bàn tới sau này.
Như đã trình bày ở trên, ông Thượng
Đế của Giáo Hội La Mã là một ác thần vô cùng hung bạo, đầy lòng
ích kỷ, nặng lòng ganh ghét, lại ưa thích trả thù một cách vô cùng man
rợ. Thánh Kinh và tín lý của Giáo Hội lại có quá nhiều chuyện loạn
luân dâm loàn, nhiều chuyện hoang đường phi lý, phi nhân bản, và phản
khoa học. Với tình trạng như vậy, những người còn có lương tri không
thể chấp nhận được. Vì thế cho nên không mấy ai muốn tin theo đạo
Gia-tô, trừ phi ở vào tình trạng bị cưỡng bách hay bị dồn vào thế kẹt
với cái bả "tình, tiền, quyền thế và danh vọng". Đây cũng
là nguyên nhân khiến cho Giáo Hội La Mã phải to hong (bất chính) là một
"tổ chức duy nhất đại diện của Thượng Đế" (duy
ngã độc tôn) cùng với thuyết lý "Thần
Quyền Chỉ Đạo Thế Quyền" (chuyên chính) rồi theo đuổi "Chính
Sách Bất Khoan Dung" (Policy of Intolerance) (bạo lực) đối với các
tôn giáo khác để củng cố địa vị, duy trì quyền lực và mở rộng ảnh
hưởng. Những sự kiện này chứng tỏ rằng Giáo Hội La Mã đã tự coi như
là một thứ siêu chính quyền chuyên chế độc tài tôn giáo. Nói khác đi,
Giáo Hội La Mã là một thứ siêu đạo phiệt mà cơ quan đầu não là Tòa
Thánh Vatican. Như vậy có nghĩa là Giáo Hội đã tự tách rời ra khỏi đại
khối quần chúng bị trị và đứng hẳn về phía giai cấp thống trị độc
tài chuyên chế. Vì lẽ này, Giáo Hội không thể nào hiểu thấu được thảm
cảnh đau thương của đại khối quần chúng do chính sách bạo ngược và
luật pháp bất công của các chính quyền độc tài chuyên chế gây ra. Vì
là những thành phần thượng đẳng trong giai cấp thống trị của một chế
độ đạo phiệt, Giáo Hội chỉ biết đến quyền lực, va chỉ biết đòi
hỏi đại khối nhân dân bị trị phải tuân hành lệnh truyền của Giáo Hội,
phải làm theo ý muốn của Giáo Hội mà không cần biết đến nỗi thống
khổ, không cần biêt đến lòng căm thù và uất hận của lê dân. Cũng vì
lẽ đó mà Giáo Hội chủ trương phải thiết lập chính quyền chuyên chế
để làm phương tiện cần thiết (không có không được) để củng cố và
mở rộng ảnh hưởng của Giáo Hội. Danh xưng tôn giáo chỉ là một chiêu
bài giống như một bức bình phong để trang trí cho chính quyền và che đậy
những việc làm chuyên đoán và bất chính của chính quyền chuên chế mà
Giáo Hội chủ trương, đồng thời, nó cũng là một công cụ bảo vệ
chính quyền của Giáo Hội. Như vậy, đối với Giáo Hội, chính quyền là
tôn giáo. Nói ngược lại, tôn giáo là chính quyền, và là chính quyên độc
tài chuyên chế mà chúng tội gọi là đạo phiệt. Danh xưng "Hội thánh
duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền" cho chúng ta
thây rõ cái bản chất vừa chuyên chế (duy nhất, công giáo), vừa huênh
hoang khoác lác và bịp bợm (thánh, công giáo và tông truyền). Hơn nữa,
Giáo Hội còn luôn luôn có thái độ trịch thượng và ngang ngược, khinh
thị gán cho tất cả các tôn giáo khác là "tà giáo" cần phải
khử diệt bằng mọi giá vào bất kỳ thời điểm nào có thể làm được.
Chủ trương cần phải khử diệt các tôn giác khác đã trở thành mục
tiêu chính trong chính sách đối ngoại của Tòa Thánh Vatican và được mệnh
danh là "Chính Sách Bất Khoan Dung" (Policy of Intolerance).
Ngay khi vừa nhẩy lên sân khấu
chính trị, Giáo Hội lập tức sử dụng danh xưng Giáo Hội La Mã (the Roman
Church) và đưa ra chủ thuyết "Thần Quyền Chỉ Đạo Thế Quyền"
với chủ trương thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô để theo đuổi "Chính Sách Bất Khoan Dung". Gần
hai ngàn năm lịch sử, Giáo Hội luôn luôn bám chắt lấy "Chính
Sách bất Khoan Dung" qua bàn tay của các chế độ đạo phiệt bằng
cách sử dụng củ cà rốt là những miếng mồi chức vụ
và lợi lo䣠trong chính quyền để câu nhử
những phường háo danh hám lợi và cái gậy là bạo lực
để cưỡng bách người đời phải tin theo Giáo Hội. Cũng vì theo đuổi
chính sách này, Giáo Hội đã cho phát động gần mười cuộc chiến thập
ác (thánh chiến) để chinh phục đất đai và hủy diệt những người
thuộc các tôn giáo khác, đã cho thiết lập các Tòa Án Dị Gia to để
xử thiêu và tàn sát những người dân hoài nghi hay không tin theo cái lối
thờ phượng quái đản của Giáo Hội. Song song với những việc làm đại
gian đại ác trên đây, Giáo Hội còn cho thiết lập "Cơ Quan Làm Sai
Lạc Tin Tức (Bóp Méo Sự Thật) và Tuyên Truyền" (Office of
Disinformation and Propaganda) được tàng hình bằng danh xưng là các "Hội
Truyền Giáo" và các "Dòng Tu" với hai nhiệm vụ rõ rệt:
Thứ nhất, l bóp méo những sự thật lịch sử, có nghĩa là bưng
bít và làm sai lạc tất cả mọi sự kiện lịch sử bất lợi cho Giáo Hội.
Thứ hai, vu khống và hạ nhục tất cả các tôn giáo khác và
những thành phần bị coi như là thù địch, trong đó có các nhà viết sử
chân chính và những người thuộc các tôn giáo khác mà bị coi như là
không thể lùa vào tròng được. Viêc làm này đã được Giáo Hội cho tiến
hành bằng sách lược "hàm huyết phún nhân" song hành với
hai sách lược "cả vú lấp miệng em" và "Tăng Sâm giết
người". Qua những việc làm bạo ngược trên đây, chúng ta thấy mức
độ thâm độc và gian ác của Giáo Hội vượt lên trên mức độ thâm độc
và gian ác của bất kỳ chế độ chuyên chính bạo ngược nào khác trong lịch
sử loài người. Thâm độc hơn nữa là việc Giáo Hội chủ trương đem thế
quyền lồng vào thần quyền, mượn danh nghĩa thần thánh để dễ bề lường
gạt và lừa bịp người đời, dễ bề đưa nạn nhân vào tròng làm nô lệ
cho Giáo Hội. Làm như vậy, Giáo Hội đã đơn phương thủ diễn tất cả
các vai: "cuờng hào ác bá" (thế quyền hay chính quyền),
"ông thần Hà Ba ruot; (thần quyền),
"ba coi đồng" và "thày
cúng" (trung gian giữa thần quyền và thế quyền và cũng là tôn
giáo) trong vở tuồng Hà Bá Cưới Vợ ở Đất Nghiệp vào thời Tiền Tần
trong lịch sử Trung Hoa.
Xét về tội ác của Giáo Hội,
chúng ta thấy rằng có những thứ tội ác do chính Giáo Hội gây ra và có
những tội ác do tín đồ gây ra. Tội ác do Giáo Hội gây ra là do chủ
tâm của Giáo Hội. Tội ác do tín đồ gây ra có thể hoặc là do lòng cuồng
tín quá hóa thành ngu xuẩn khiến cho họ lao vào hố sâu của tội ác mà
không ý thức được những việc đó là những việc tội ác, hoặc là do
tình trạng quen sống trong môi sinh tội ác của Giáo Hội cho nên lương tâm
của họ đã gần như trở thành chai đá, không còn là con người bình thường
mà chúng ta thường quan niệm là "nhân chi sơ, tính bản thiện".
Đối với họ, thiện hay ác là tùy ở nơi Giáo Hội chỉ dạy. Giáo Hội
bảo điều đó là điều thiện thì họ tin điều đó là điều thiện, Giáo
Hội bảo điều đó là điều ác thì họ tin điều đó là diều ác. Họ đã trở thành những con người máy, không
còn có lương tâm, không biết phân biệt phải trái. Lương tâm và lẽ phải
của họ là Giáo Hội. Giáo Hội là cái gương cho họ noi theo. Giáo Hội bảo
sao thì họ tin như vậy. Họ đã bị điều kiện hóa và không còn lý trí
nữa. Họ chỉ còn biết phát ngôn và hành động theo lệnh truyền của Gíáo
Hội. Tình trạng bị điều kiện hóa như vậy đưa đến một sự thật
đau lòng là Giáo Hội lao đầu vào hố sâu vực thẳm của tội ác, họ cũng
chạy theo cùng với Giáo Hội lao đầu vào hố sâu vực thẳm của tội
ác. Những hành tội ác do Giáo Hội chủ xướng đã trở thành những hành
động tội ác dây chuyền và được truyền (vừa là tự động vừa là
theo lệnh truyền) theo một hệ thống theo mô thức của một hình tam giác
mà đỉnh của nó là Tòa Thánh Vatican. Từ năm 325 đến nay, Giáo Hội đã
làm không biết bao nhiêu là viêc làm bất chính, bất nhân và bất nghĩa, tín
đồ của Giáo Hội cũng nhắm mắt theo guơng Giáo Hội để làm những việc
bất chính, bất nhân và bất nghĩa, giống y hệt như Giáo Hội đã làm. Duới
đây là những bằng chứng:
1.- Giáo Hội dạy bảo tín đồ rằng
chỉ có Giáo Hoàng mới là vị lãnh đạo tối cao của họ, rằng họ không
cần phải tuân hành luật lệ của các chính quyền địa phương do những
người phi Gia-tô lãnh đạo, thế là họ răm rắp cúi đầu tuân lệnh
Giáo Hoàng và không tuân hành luật lệ của chính quyền địa phương do những
người phi Gia-tô lãnh đạo. (6)
2.- Giáo Hội gọi những người khác
tôn giáo là "tà giáo", rồi phát động các cuộc "chiến
tranh thập ác", thiết lập các "tòa án dị giáo" để
tàn sát họ, cướp đoạt tài sản của họ thì tín đồ của Giáo Hội cũng
hè nhau gọi những người khác tôn giáo là "tà giáo", hè
nhau thành lập những đạo quân thập ác (như lá thư đề ngày 25-2-1955 của
tín đồ Gia-tô Nguyễn Văn Chức gửi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cũng là
một bằng chứng) để tàn sát họ và cướp đoạt tài sản của họ.
3.- Năm 1431, Giáo Hội bảo rằng
bà Jeanne d’Arc là tà giáo, là phù thủy rồi trói bà vào cọc và đốt
cho cho chết cháy trong ngọn lửa bạo tàn của Giáo Hội,. thì giáo dân cũng
hùa theo cho rằng bà Jeanne d’Arc là tà giáo, là phù thủy và đáng phải
đem thiêu sống cho đến chết. Tới năm 1920, Giáo Hội cho rằng bà là nữ
anh hùng của nước Pháp và phong thánh cho bà thì giáo dân cũng hùa theo cho
rằng bà Jeanne d’ Arc là nữ anh hùng của nước Pháp và là thánh của họ.
4.- Trong thập niên 1860, Giáo Hội bảo
rằng ăn những thức ăn đã dâng cúng theo nghi thức của các tôn giáo
khác là có tội thì họ không dám ăn những thức ăn đó nữa. Thế rồi,
tới thập niên 1960, Giáo Hội bảo Okay, ăn những thức ăn đã dâng cúng
theo nghi thức của các tôn giáo khác là không có tội, thì họ mừng quá
và hồ hởi nghe theo. Kể từ đó, nếu có dịp là họ ăn lia lịa.
5.- Gần cuối thập niên 1960, Giáo
Hội bảo tên Ngụy Diên tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm là "chí
sĩ yêu nước" và là "anh hùng dân tộc" đã hy sinh
vì nước Vatican thế là tín đồ của Giáo Hội răm rắp nghe theo hè nhau
thành lập cái gọi là "Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần (Việt gian) Ngô
Đình Diệm", rồi viết sách, viết báo suy tôn tên Ngụy Diên tam đại
Việt gian họ Ngô này lên hàng "anh hùng dân tộc" và cho lộn
xòng in chung với những bài viết nói về những anh hùng dân tộc thực sự
của đất nước. Đó là cuốn sách "Anh Hùng Nước Tôi"
(California, 1986).
6.- Ngày 19-6-1988, Giáo Hội quyết
định phong thánh cho 117 tên tội đồ cướp nước và Việt gian phản quốc
đã bị hành hình từ thời vua Tự Đức trở về trước thì tín đồ của
Giáo Hội cũng tin rằng những tên giặc cướp ác ôn côn đồ này là những
ông thánh của họ và gọi là vcác ông thánh tử đạo của họ. Thì ra mấy
ông thánh của họ là như vậy.
7.- Giáo Hoàng Gregory XVI (1831-1846)
thù ghét tự do ngôn luận, thu ghét tự do tư tưởng và gọi "báo
chí là thứ tự do tai hại nhứt, đáng ghét nhứt, khinh tởm nhứt…."
thì tín đồ của Giáo Hội cũng thù ghét tự do ngôn luận, thù ghét tự
do tư tưởng rồi tụ tập thành những băng đảng hung hăng giống như bọn
côn đồ đi khủng bố và phá thối buổi ra mắt sách "Đối Thoại
Với Giáo Hoàng Goan Phaolồ II" của nhóm Giao Điểm được tổ chức
vào ngày 20-8-1994 tại Westminster, Califorfornia, phá thối cuộc Hội Thảo Văn
Hóa của anh em văn nghệ sĩ người Việt tại Bắc Mỹ do các ông Doãn Quốc
Sỹ và Vũ Ngự Chiêu tổ chức vào ngày 20-12-1997 tại Seattle, Washington.
Một sự thật đau lòng nữa, người
viết xin viết ra đây để độc giả xem có đúng hay không. Tiếp xúc với
những người Gia-tô, chúng ta thấy họ luôn luôn có thái độ trịch thượng,
xấc xược và ngược ngạo trong ngôn ngữ và
hành động của họ. Về ngôn ngữ thì họ luôn luôn có thái độ ngạo
man khi sử dụng những từ như là "công giáo", "dân
Chúa", " Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông
truyền" để nói về tín đồ Giá-tô và cái đạo Gia-tô của họ.
Trong khi đó thì họ thường dùng những từ ngữ "tà đạo",
"dị giáo", "tà ma ngoại đạo", "đạo Bụt
thần", "ngoại đạo", "không có đạo",
"vô đạo" và "tà ma ngoại đạo" để nói về
các tôn giáo khác và những người thuộc các tôn giáo khác mà không cần
biết làm như vậy là làm phật lòng nguời ta. Về hành động thì họ lại
còn tệ hơn nữa. Thứ nhất, ở trong những nơi ăn uống đông người
ngay cả khi tín đồ Gia-tô chỉ là thiểu số có một vài người trong số
đông những người thuộc các tôn giáo khác, nếu có cơ hội, khi bắt đầu
vào tiệc, họ tự động yêu cầu mọi người im lặng đọc kinh cầu theo
họ trước khi bắt đầu ăn uống mà không cần biết làm như vậy là xấc
xược và làm buồn lòng những người khác tôn giáo với họ. Thứ hai,
khi con cái họ và một người khác tôn giáo tiến đến chuyện lập gia đình
với nhau, thì họ đòi cho bằng được người hôn phu hay hôn thê của con
cái họ phải từ bỏ tín ngưỡng cũ để theo học giáo lý Gia-tô và làm
lễ rửa tội theo đạo Gia-tô rồi mới nói đến chuyện làm lễ thành
hôn cho cặp trai gái này. Biết làm như vậy là xấc xược, ngược ngạo và
trịch thượng, làm cho bên gia đình sui gia của ho phải dau lòng, nhưng họ
cũng không cần quan tâm đến, và cũng không cần nghĩ tới chuyện nếu gia
đình bên sui gia cũng đòi hỏi con cái họ phải từ bỏ đạo Gia-tô để
theo tôn giáo mới của người phối ngãu thì họ sẽ nghĩ như thế nào? Sự
kiện này không những nói lên thái độ trịch thượng của họ, mà nó
còn cho chúng ta thấy cái tính cách bất nhân (không có lòng độ lượng và
cũng là hành động vi phạm nhân quyền có chủ ý của người tín đồ
Gia-tô.
Tiếp xúc với cô gái giang hồ,
chúng ta thấy rằng họ còn ý thức được việc làm của họ là xấu xa,
và không muốn cho con cái của họ làm đĩ làm điếm giống như họ.
Tương tự như vậy, những tên lưu manh chuyên sống bằng nghề cướp đường
cướp chợ vẫn còn ý thức được việc làm của chúng là xấu xa đê tiện,
và không muốn con cái của chúng sẽ làm nghề cướp đường cướp chợ
giống như cuộc đời ăn cướp của chúng. Trái lại, những người Gia tô
cuồng tín biết rõ Giáo Hội La Mã là một tổ chức tội ác, biết rõ
Giáo Hội đã làm không biết bao nhiêu việc làm bất chính, bất nhân, và
bất nghĩa, biết rõ tội ác của Giáo Hội nhiều hơn cả sao trời và cao
hơn cả núi Thái Sơn, ấy thế mà họ vẫn một lòng tuân lệnh Giáo Hội
làm những việc làm tội ác giống như Giáo Hội đã Làm. Tệ hơn nữa, họ
lại còn mong muốn con cháu của họ cũng phải cuồng tín như họ, cũng phải
tuyệt đối nghe theo lệnh của Giáo Hội để làm những việc làm tội ác
như họ đã làm. Điều này chứng tỏ rằng
những người Gia-tô cuồng tín còn thua cả những cô gái giang hồ, tệ hơn
cả những tên lưu manh cướp đường cướp
chợ, cướp biển, cướp rừng. Ít ra, những cô gái giang hồ và những
quân lưu manh cướp đường cướp chợ còn có lương tâm, còn có ý định
và cố gắng dạy con cái của họ phải biết hướng thiện. Trái lại, những
người Gia-tô cuồng tín, thì kể như là không còn lương tâm nữa, và họ
cũng không muốn con cháu họ hướng thiện để trở về với đường ngay
lẽ phải, trở về với quê hương và dân tộc. Còn nữa, khi những người
Gia-tô cuồng tín viết sách hay viết báo nhằm mục đích bào chữa, bênh vực
hay chạy tội cho Tòa Thánh Vatican và các chế độ đạo phiệt Gia-tô thì
họ trở thành những hạng người vừa vô liêm sỉ vừa ngu dốt mà lại
không ý thức được họ là những hạng người vô liêm sỉ và ngu dốt.
Đây là trường hợp của các ông bạn cũng tập tành viết sách hay viết
báo mà chúng tôi đã đề cập trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa
Toàn Thư 1954-1963 (Tacoma, 1998) và cuốn Thực Chất Của Giáo Hội La Mã
(Tacoma, 1999). Về điểm này, họ còn tệ hơn cả ngàn lần nếu so với
các cô gái giang hồ và những phương lưu manh cướp đường cướp chợ.
Thường thường thì các cô gái giang hồ và những phường lưu manh cướp
đường cứơp chợ rất là thành thực. "Tri chi vi tri chi, bất tri vi
bất tri", biết rằng không biết cái gì thì họ hiên ngang nói thẳng
là không biết. Trái lại, những nguời Gia-tô cuồng tín viết văn hay viết
báo có chủ ý bênh vực hay chạy tội cho Giáo Hội La Mã và các chế độ
đạo phiệt Gia-tô thì lại hoàn toàn khác hẳn. Họ không có được cái
liêm sỉ tối thiểu của hai giới người trên đây. Những người Gia-tô
cuồng tín viết văn này đã ngu dốt lại
không biết mình là người ngu dốt, mà lại còn lên mặt dạy đời nữa.
Độc giả có thể tìm thấy những trường hợp này qua các ấn phẩm
(sách hay báo) nhằm để gièm pha và phỉ báng các tôn giáo khác, chửi bới
và hạ nhục các tác giả như Đỗ Mậu, Trần Văn kha, Lê Trọng Văn, Vũ
Ngự Chiêu, Trần Chung Ngọc, Nguyễn Kha, Nguyễn Mạnh Quang, v. v… Vì mang
chứng bệnh cuồng tín, họ không còn lương tâm nữa, và cũng không còn
có một lý tưởng hay niềm tin nào khác ngoài niềm tin vào Giáo Hội, họ
chỉ còn biết phát thanh và hành động theo lệnh
truyền của Giáo Hội. Tất cả những tội ác này đều do Giáo Hội mà ra
cả. Vì giới hạn của bài viết này, chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến
phần tội ác do Giáo Hội chủ ý gây ra, mà không đề cập đến phần tội
ác do các tín đồ gây ra.
TỘI ÁC DO CHÍNH
GIÁO HỘI CỐ Ý GÂY RA
Tất cả những tội ác do Giáo Hội
gây ra đều là những tội ác do chính Giáo Hội chủ ý gây ra. Ta có thể
phân loại những tội ác của Giáo Hội như sau:
- 1.- Bịa đặt ra những chuyện hoang đường để
lường gạt và lừa bịp người đời
- 2.- Chủ trương thiết lập các chế độ đạo
phiệt Gia-tô
- 3.- Tạo nên những nghi thức và tác phong phong kiến
- 4.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dực nhồi
sọ, làm cho tín đồ ngu đi để dễ bề cai trị
- 5.- Thiết lập các tòa án di giáo
- 6.- Phát động các cuộc thánh chiến
- 7.- H ành động dã man đối với nạn nhân
- 8.- Tích lũy tiền bạc và đồ ăn cướp của các
dân tộc nạn nhân
- 9.- Thi hành sách lược "bóp méo sự thật
lịch sử", và "hàm huyết phún nhân"
- 10.- Theo đuổi chính sách đế quốc thực dân
xâm lược.
- 11.- Chủ trương hủy diệt các tôn giáo và các nền
văn hóa khác.
- 12.- Vi phạm nhân quyền
(Riêng về tội ác "bán
thánh và buôn bán các chức vụ trong giáo hội (sinmony), chúng tôi sẽ
bàn tới trong một tác phẩm khác.)
1.- Bịa đặt ra những chuyện hoang
đường.- Nói chung, tất cả 12 loại tội ác của Giáo Hội được nêu ra
trên đây đều bắt đầu xẩy ra từ năm 325 trở về sau. Tội ác bịa đặt
ra những chuyện hoang đường xẩy ra trước tất cả những tội ác khác.
Những chuyện hoang đường mà chúng tôi đề cập ở trong bài viết này
là những chuyện thiên đường, địa ngục, các phép bí tích, phép mầu,
phép lạ và những chuyện Đức Bà Maria hiện xuống. Chúng tôi hoàn toàn
không nói tới những chuyện hoang đường đã có sẵn trong Cựu Ước như
các chuyện Ông Adam và bà Eva là thủy tổ của loài người, chuyện tạo dựng
vũ trụ trong 7 ngày, chuyện Hồng Thủy, chuyện con tầu Noah, v.v… Trước
đây, trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-63, chúng tôi đã
nói đến Hội Nghị Nicaea được triệu tập vào năm 325 theo lệnh của Hoàng
Đế Constantine (280-337) để hình thành thuyết lý ba ngôi. Ngay tại hội nghị
này, khi đang thảo luận, bất kỳ người nào không tán đồng lý thuyết
Chúa Ba Ngôi đều bị chụp cho cái mũ "tà giáo" và bị đuổi ra
khỏi hội nghị. Những nạn nhân đầu tiên của sách lược chụp mũ này
là ông Giám-mục Arius (256-336) thuộc địa phận Alexandria (Ai Cập) và các
tu sĩ khác đồng quan điểm với ông (7). Giải quyết xong lý thuyết Chúa
Ba Ngôi, Giáo Hội cho ra đời thuyết lý Đức Mẹ Đồng Trinh để cho nó
có vẻ phù hợp với thuyết lý Chúa Ba Ngôi. Người ta bảo "Tội
ác đẻ ra tội ác" là vậy. Sau đó, các bản văn hồi ký ghi lại
những mẩu chuyện có liên hệ với Chúa Jesus của các ông Luke, John, Mark
và Mathiew được lệnh phải sửa lại bằng cách hoặc là thêm mắm thêm
muối để thần thánh hóa Chúa Jesus, hoặc là bắt bỏ hay bớt đi những gì bất lợi cho chủ trương
của Giáo Hội hay không hợp với ý muốn của Hoàng Đế Constantine. Kể từ
đó, những bản văn này cùng với những lá thư giao dịch giữa các tín đồ
Kitô Do Thái và ông Paul lúc sinh thời được gọi là Tân Ước Kinh. Năm
426, Giáo Hội lại cho ra đời một chuyện hoang đường vĩ đại khác nữa
là cuốn sách The City of God (Nước Trời) làm nền tảng cho lý thuyết thần
học của Giáo Hội (8).
Năm 451, Đế Quốc La Mã suy yếu trước
sức tấn công như vũ như bão của người hùng Hung Nô Attila từ Châu Á tiến
vào. Bạng duật tương trì, ngư ông thủ lợi. Nhân cơ hội này, Giáo Hội
nhẩy ra đóng vai trò làm kẻ trung gian và được Hoàng Đế Valentinian
(419-455) của Đế Quốc La Mã giao cho sứ mạng thương lượng. Thế là uy
tín của Giáo Hội bắt đầu vươn lên và thoát khỏi thân phận của một
Giáo Hội Quốc Doanh. Kể từ đó, Giáo Hội nhẩy lên sân khấu chính trị
nắm giữ vai trò chủ chốt trong chính quyền của Đế Quốc La Mã, và bắt
đầu thủ vai Chúa Trịnh, dồn Hoàng Đế của Đế Quốc La Mã vào cái thế
của Vua Lê. Việc Giáo Hoàng Leo I (440-461) tuyên bố thẳng thừng cho mọi
người biết rằng "Quyền hành của Giáo Hoàng phải bao trùm lên tất
cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục" (9) là bằng chứng
cho sự kiện này.
Năm 456 Attila bị sát hại. Thế lực
Hung Nô tan rã. Hai mươi năm sau, năm 476, người hùng mới là Odovacer từ Đức
nổi lên với quân hùng tướng mạnh tiến vào kinh thành Rome. Đế Quốc La
Mã hoàn toàn sụp đổ. Nhờ có thiên tài khôn ngoan biết lựa gió phất cờ,
Giáo Hội La Mã vẫn tồn tại, trơ như đá vững như đồng. Ít lâu sau,
chính bản thân người hùng Odovacer cũng bị sát hại. Âu Châu rơi vào
tình trạng hỗn loạn vô chính phủ. Sẵn có thiên tài chụp giật, không bỏ
lỡ cơ hội ngàn năm một thuở, Giáo Hội bèn tiến lên tóm thâu thêm một
mớ quyền hành chính trị và sáng tác ra 7 phép bí tích để làm Giáo Hội
có thêm vẻ nhiệm mầu và quyền phép. Chỉ tội cho lê dân lại phải è cổ
ra đóng thêm một khoản lễ phí nữa. Vào thời kỳ này, ngôi vị Giáo
Hoàng đã trở thành vô cùng béo bở, khiến cho các thế lực chính trị
trong vùng phải tranh giành chiếm giữ để củng cố địa vị cho mưu đồ
làm bá chủ trên sân khấu chính
trị Âu châu. Cũng từ đó thỉnh thoảng lại có chuyện hoang đường Đức
Bà Maria hiện xuống với những sản phẩm như Đức Mẹ Fatima, Đức Mẹ Lộ
Đức, Đức Mẹ La Vang, v. v …. Vì vậy mới có chuyện "Fatima là
trung tâm buôn thần bán thánh giống hệt như …"
2.- Chủ trương thiết lập các chế
độ đạo phiệt Gia-tô.- Nói đến chế độ đạo phiệt Gia-tô, người ta
cũng thường nghĩ đến một chế độ độc tài tôn giáo với tất cả những
tệ trạng tham nhũng, bất công, tàn ngược, dã man và bách hại những người
thuộc các tín ngưỡng khác bằng những phương cách man rợ ngoài sức tưởng
tượng của loài người. Qua gần hai ngàn năm lịch sử của đạo Gia-tô,
chúng ta thấy rằng hầu như tất cả thành phần tích cực bảo vệ chế
độ đạo phiệt Gia-tô bất kỳ ở địa phương nào vào bất kỳ thời
điểm nào cũng đều là những hạng người hung hãn, tàn bạo, bất nhân,
bất nghĩa, phi cầm, phi thú đúng như nhà báo Long Ân nhận xét:
"Con người đã nhân danh tôn
giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để
biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã
phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến tìm kiếm chính
mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn
gốc của con người súc sinh…" (10)
Chúng ta biết rằng bất kỳ chế
độ độc tài chuyên chính nào cũng đều cai trị bằng bạo lực, theo đuổi
chính sách thẳng tay tàn sát và hủy diệt tất cả những thành phần
chính trị đối lập. Tuy nhiên, nếu so với chế độ đạo phiệt Gia-tô
thì tất cả các chế độ độc tài chuyên chính khác đều phải ngả mũ
chào thua. Lý do dễ hiểu là tất cả chế độ độc tài chuyên chế khác
không có một mưu đồ nào khác hơn là mục đích duy trì quyền lực để
bảo vệ địa vị ăn trên ngồi trốc của giai cấp thống trị. Trong khi
đó thì các chế độ đạo phiệt Gia-tô, ngoài việc hủy diệt các thành
phần hay thế lực chính trị đối lập để duy trì quyền lực, còn theo
đuổi "Chính Sách Bất Khoan Dung" (Policy of Intolerance) đối với
tất cả các thành phần không phải là Gia-tô giáo. Chủ trương của chính
sách này là "diệt tận gốc, trốc tận rễ" tất cả các
tôn giáo và văn hóa phi Gia-tô". Biết rõ tình cách bạo ngược như vậy
là thất nhân tâm, Giáo Hội cũng tiên liệu được là sớm hay muộn thì
nhân dân dưới quyền cũng sẽ vùng lên chống lại. Vì vậy, Giáo Hội lại
tính một nước cờ bịp bợm khác bằng cách ra lệnh cho tên tu sĩ tay sai
Thomas Aquinas (1225-1274) đưa ra chủ thuyết nói rằng người dân không được
nổi loạn chống lại chính quyền đã được Giáo Hội chuẩn nhận. Bất
kỳ chính quyền nào đã được Giáo Hội chuẩn nhận, dù cho bạo ngược
đến đâu đi nữa thì nhân dân cũng chỉ đuợc phép cầu xin Thượng Đế
ban phép hay ra lệnh cho chính quyền bạo ngược đó sớm thức tỉnh mà
thay đổi chính sách, chứ không có quyền nổi loạn chống lại. Chúng ta
hãy nghe ông Dương Thành Lợi nói về chủ thuyết quái đản này:
"Aquinas chủ trương rằng nhà
vua được Thượng Đế chọn lựa cho nên nhân dân phải dùng các phương
tiện hợp pháp để trục xuất một ông vua gian ác; nhân dân không thể
làm cách mạng để giết vua và thay đổi cơ chế chính quyền. Theo Aquinas,
nhân dân thà có một ông vua gian ác còn hơn là phải đối đầu với hiểm
họa đất nước bị phân chia. Sự cai trị độc ác của lãnh tụ có thể
phản ảnh ý định trừng phạt người dân của Thượng Đế; và nếu các
phương tiện hợp pháp không thể truất xuất vị lãnh tụ gian ác đó, người
dân chỉ còn có một cách duy nhất là cầu nguyện Thượng Đế. Nếu Thuợng
Đế không đáp lời cầu nguyện để bắt buộc lãnh tụ quốc gia thoái vị
thì nhân dân phải chấp nhận vị lãnh tụ gian ác này bởi vì là ý của
Thượng Đế." (11)
Ai cũng biết rằng Thượng Đế đây
là Thượng Đế của Giáo Hội, và theo ý của Giáo Hội thì ông Thượng
Đế này chính là Giáo Hội. Giáo Hội bảo người dân bị trị cầu xin Thương
Đế có nghĩa là kêu nài với Thượng Đế. Kêu nài với Thượng Đế tức
là vác đơn đi kiện lên ông Thượng Đế, tức là kiện lên Giáo Hội. Như
vậy là Giáo Hội bảo với người dân bị trị dưới chính quyền đạo
phiệt tay sai của Giáo Hội, nếu có chuyện gì bất mãn thì cứ việc thưa
kiện lên chính quyền cao hơn tức là Giáo Hội để Giáo Hội xét xử những
tội ác mà chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội đã gieo tai giáng
họa cho họ. Chuyện đời phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Đi kiện như
vậy thì có khác nào là "con kiến đi kiện của khoai".
Vả lại, như đã nói ở phần
trên, ông Thượng Đế của Giáo Hội vốn dĩ là một ông thần bạo ngược
còn tệ hơn cả ông thần Hà Bá ở khúc sông Chương Thủy thuộc Đất
Nghiệp ở bên Trung Hoa trong thời Tiền Tần. Giáo Hội lại còn bạo ngược
hơn cả ông Thượng Đế mà Giáo Hội tôn thờ. Rồi đến nhà cầm quyền
đia phương do chính Giáo Hội chọn lựa để làm tay sai cho Giáo Hội lại
còn bạo ngược hơn cả Giáo Hội. Cả một hệ thống tổ chức từ ông
Thượng Đế cho đến Giáo Hội và chính quyền do Giáo Hội chuẩn nhận đều
bạo ngược cả. Rốt cuộc chỉ khốn nạn cho lê dân mà thôi. Vì cả một
hệ thống tổ chức của Giáo Hội đều chủ trương thi hành chính sách bạo
ngược như vậy, cho nên ở đâu có quyền lực của Giáo Hội vươn tới là
nhân dân ở đó phải gánh chịu những thảm họa đau thương cho tới mãi
ngàn sau cũng không quên được. Bằng chứng là những thảm cảnh tàn sát
người dân vô tội ở các nước Tây Ban Nha trong thời các bạo chúa
Ferdinand V (1452-1516), Isabella I (1451-1504) Philip II (1527-1598), nước Pháp trong
thời hai ông bạo chúa Clovis (465-511) và Louis XIV (1638-1715), nuớc Anh trong
thời nữ bạo Chúa Bloddy Mary (1516-1588), nước Croatia trong những năm
1939-1945 dưới chế độ đạo phiệt Gia-tô Ante Pavelich, Cuba trong những năm
1940-1959 trong thời bạo chúa Fulgencio Batista, oứ Rwanda (Phi Châu) trong những
năm 1993-1994 (cả nửa triệu người bị tàn sát bởi bàn tay ông Giám-mục
Augustin Misago), miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963 trong thời đạo
phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm. Rõ rệt hơn nữa là thảm trạng của các
dân tộc bản địa tại Quần Đảo Phi Luật Tân và tất cả các dân tộc
Da Đỏ tại Mỹ Châu La Tinh. Cũng nên biết là "Kế Hoạch Puginier"
nhằm hủy diệt các đạo Phật, đạo Lão và đạo Khổng và nền văn hóa
cổ렴ruyền của dân tộc Việt Nam đáng lẽ
đã được thi hành ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 giống như trước kia
họ đã làm ở Phi Luật Tân và ở Châu Mỹ La Tinh nếu những thành phần
tiến bộ thuộc Hội Tam Điểm trong chính quyền Pháp tại Paris và Đông Dương
không thắng thế trên sân khấu chính trị của nước Pháp lúc bấy giờ.
Kế hoạch này đã được Tiến-sĩ Cao Huy Thuần ghi khá đầy đủ trong cuốn
Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, Hương Quê,
1988, trang 397-414). Cũng may cho dân tộc Việt Nam ta. Nếu lúc đó, phe thực
dân thân Vatican nắm thế thượng phong trong chính quyền Pháp tại Paris và
tại Đông Đương thì số phận dân tộc Việt Nam đã không khác gì số phận
các dân tộc bản địa tại Phi Luật Tân và số phận các dân tộc Da Đỏ
ở Châu Mỹ La Tinh. Nếu chẳng may như vậy, chúng ta sẽ thấy những đường
xá, trường học, công viên và địa danh đều mang tên những tên quân giặc
ngoại xâm cùng những phường xú uế như Trần Lục, Huyện Sĩ, Ngô Đình
Khả, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Nguyễn Hữu Bài, Trần Bá Lộc, Hồ
Ngọc Cẩn, Nguyễn Bá Tòng, Hoàng Quỳnh, Đinh Xuân H., Mai Ngọc Khuê, Lê Hữu
Từ , Phạm Ngọc Chi, Tô Đình Sơn, v.v…, những kẻ đã từng gục mặt
cúi đầu đi trên bốn chân, cõng con rắn độc Vatican về cắn gà nhà Việt Nam.
3.- Tạo nên những nghi thức cực kỳ
phong kiến làm hèn hạ con người.- Nói đến nghi thức và tác phong phong kiến,
ta có thể nói rằng trong lịch sử nhân loại chưa hề có một hệ thống
tổ chức quyền lực nào lại có những nghi thức và tác phong phong kiến
làm cho con người hèn hạ đến cùng mức của hèn hạ như đạo Thiên
Chúa La Mã. Người viết chưa hề thấy một tổ chức hay một thế lực nào
lại đặt ra những nghi thức ban cho thuộc cấp cái vinh hạnh được hôn
bàn chân của nhà lãnh đạo như đạo Gia-tô. Không thể nào hiểu được
tại sao Tòa Thánh Vatican lại đặt ra cái nghi thức phong kiến vô cùng
quái đản để áp đặt vào trong nếp sống và sinh hoạt văn hóa trong cộng
đồng của những người Thiên Chúa La Mã. Sách sử ghi lại như sau:
"Tới thế kỷ thứ 11, quyền
uy của Giáo Hoàng và Giáo Hội La Mã còn lớn hơn cả quyền uy của Tần
Thủy Hoàng ở bên Trung Hoa trong thời Thượng Cổ. Gíáo Hoàng của Giáo Hội
từ thời Trung Cổ đã trở thành một ông vua của các ông vua trong vùng
Tây và Nam Âu. "Phú quý sinh lễ nghi" và "Quyền hành sinh hống
hách, cao ngạo và tội ác". Khi đã chễm chệ ngồi trên Ngai vàng trong
Tòa Thánh La Mã nắm quyền bá chủ trên sân khấu chính trị Âu Châu,,
Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) hứng chí đưa ra một loạt 27 nguyên tắc để
làm cho chức vị giáo hoàng của Giáo Hội vốn đã oai phong lại càng thêm
oai phong hơn nữa. Dưới đây là một số những nguyên tắc này:
1.- Chỉ có Giáo Hoàng mới được
sử dụng phù hiệu của đế quốc.
2.- Chỉ có Giáo Hoàng mới được
đưa bàn chân cho các ông hoàng hôn hít.
3.- Chỉ có Giáo Hoàng mới có quyền
truất phế các ông hoàng đế và các ông vua.
4.- Không ai có quyền phán xét hay
phê phán Giáo Hoàng.
5.- Giáo Hoàng có thể giải trừ
cho nhân dân khỏi phải làm bổn phận đới với các nhà cầm quyền bất
công. [Bất công theo quan niệm của Giáo Hội.]… (12)
Không cần phải suy nghĩ cho nhiều,
bất kỳ người nào có trình độ học vấn bậc tiểu học cũng nhìn thấy
rõ đây là một thứ "quái thai" được sản xuất ra bởi những
hạng người bất bình thường thuộc loại phi cầm phi thú. Theo định luật
sinh sinh hóa hóa, vạn vật trong thiên nhiên đều biến chuyển và sinh sản
theo thời gian. Cái nguyên tắc quái đản "Chỉ có các ông hoàng
(nhà cầm quyền) mới được cái ân sủng cúi rạp mình xuống sụp lạy
thì thụp hôn hít bàn chân của Giáo Hoàng" theo thời gian lại đẻ
ra truyền thống "tín đồ của Giáo Hội mới có vinh hạnh cúi gậﰠmình
xuống sụp lạy thì thụp và hôn hít giầy dép của các nhà truyền giáo
như là một ân sủng của Thượng Đế ban cho." Chuyện quái đản này
được Linh-mục Trần Tam Tỉnh kể lại trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi
Gươm như sau:
"Tại Bùi Chu, ngày lễ Thánh
Đa Minh, tất cả các linh mục người Việt, bất kể hạng tuổi nào, phải
tới sụp lạy các thừa sai, kể cả đối với mấy người còn trẻ măng,
hoặc chỉ là thầy phó tế thôi, và phải hôn kính giày của các thừa sai
đó, để giúp mình nhớ lại lời thánh Phaolồ: "Phúc đức thay bàn
chân các nhà truyền giáo!" (13)
Muốn được hưởng ân sủng quái
đản này, là tín đồ Gia-tô cũng chưa đủ, phải là tu sĩ cỡ từ linh mục
trở lên mới được. Còn các giáo dân thì lại được hưởng một thứ hồng
ân khác của Thiên Chúa. Hồng ân đó là được quỳ mọp xuống trước ghế
ngồi hay chỗ đứng của một ông giám mục để hôn hít chiếc cà rá của
ông ta một cách vô cùng kính cẩn. Một trong muôn ngàn chuyện hôn hít cà
rá như vậy được cụ Vương Hồng Sển kể lại cho chúng ta nghe qua đoạn
văn dưới đây:
"Lần thứ nhất tôi gặp quốc
lão (Giám-mục Ngô Đình Thục), là nhơn nhóm họp tại dinh ông Tổng Trưởng
Văn Hóa Trương Công Cừu để bàn về cách thức thành lập hội "Bác
Cổ Thần Kinh" do giám-mục chủ xướng, và hôm ấy là ngày 16-2-1963.
Khi quốc lão bước vào văn phòng, các ông có mặt đều quỳ xuống hôn
chiếc nhẫn, lần lượt hết người này đến người kia. Đến lượt tôi,
tôi quýnh quá, không làm như vậy được và đánh liều, tôi đứng ngay mình
và nắm tay quốc lão gục gặc, vì chưa quỳ hôn nhẫn. Tôi vẫn biết
mình làm như thế có thể bị sa thải, nhưng thà mất chén cơm còn hơn là
mất phẩm giá… Trong khi tôi bắt tay không quỳ, quốc lão ngừng lại day
mắt nhìn tôi chăm chăm. May thời lúc ấy ông Trương Công Cừu lẹ miệng
giới thiệu bằng một câu tiếng Pháp: "Mr. Sển conservateur du musé!
Quốc lão hừ một tiếng rồi tiếp tục đưa tay
cho người khác hôn." (14)
Đối với những người Gia-tô
ngoan đạo, nghi lễ quỳ mọp xuống để hôn bàn chân Giáo Hoàng, quỳ mọp
xuống sụp lạy thì thụp hôn hít giầy dép của các nhà truyền giáo, và
khúm núm quỳ xuống hôn kính chiếc nhẫn (chẳng biết thiêng liêng hay dơ
bẩn) của các ông giám mục là những ân huệ đặc biệt, một ân sủng
vô cùng thiêng liêng (không biết có phải là một thứ Hồng Ân Thiên Chúa
của đạo Gia-tô hay không), mà ho hằng ước ao khao khát. Không ước ao
khao khát làm sao được khi mà hàng ngày chính bản thân họ lúc nào vênh
vênh váo váo hãnh diện là tín đồ của Giáo Hội La Mã, tự phong cho họ
là "Dân Chúa", tự xưng là người "Công Giáo",
và ngang ngược đến độ khinh rẻ tất cả những người khác tôn giáo
là "tà đạo" là những quân "mọi rợ". Hãnh
diện là tín đồ của Giáo Hội thì tất nhiên họ cũng ước ao khao khát
được hưởng những ân sủng đặc biệt "quỳ mọp xuống sụp lạy
thì thụp hôn hít giầy dép của Giáo Hoàng, hôn hít giầy dép của các
nhà truyền giáo hay hôn hít chiếc cà rá đeo tay của các ông giám-mục."
Nhưng đâu có phải người Dân Chúa (Gia-tô) nào cũng được hưởng
tất cả những ân sủng quái đản trên đây. Chỉ có các ông hoàng hay những
người đã đuợc Giáo Hoàng chọn lựa như Ngô Đình Diệm mới được cho
phép vào bệ kiến quỳ mọp xuống sụp lạy thì thụp hôn hít bàn chân của
Giáo Hoàng. Chỉ những Dân Chúa có chức vụ linh-mục trở mới được
cái vinh dự vào bệ kiến quỳ mọp xuống sụp lạy thì thụp hôn hít giầy
dép của các nhà truyền giáo. Là tín hữu Gia-tô thuộc loại bạch đinh thì
chỉ còn có nước đứng ngoài nhìn các đấng bề trên của họ khúm núm
quỳ mọp xuống sụp lạy thì thụp làm cái công việc vĩ đại, cao cả và
thiêng liêng này mà thèm rỏ rãi ra bằng quả bòng. Cũng vì thế mà hầu hết
những người tín hữu Gia-tô ngoan đạo đều mơ ước muốn cho con trai của
họ theo học nghề làm linh mục để hy vọng mang lại cho gia đình và dòng
họ cái vinh dự cao cả này. Đối với những người tín hữu Gia-tô là như
vậy. Nhưng đối với truyền thống đạo lý Đông phương thì việc làm như
vậy là "một việc làm đê hèn đến cùng mức của đê hèn".
Những người có liêm sỉ không thể nào làm được như vậy. Cũng vì thế
mà cụ Vương Hồng Sển đã quyết định là "thà mất việc
làm, chứ nhất định không thèm quỳ mọp xuống để hôn chiếc nhẫn của
ông Giám-mục Ngô Đình Thục".
Cùng một việc làm như trên, đối
với những người được hấp thụ nền đạo lý cổ truyền của Đông Phương
thì là một việc làm vô liêm sỉ, làm mất phẩm giá con người, và là một việc làm đê hèn đến cùng
mức của đê hèn. Nhưng đối với những người tín hữu ngoan đạo của
Giáo Hôi La Mã thì lại là vinh dự vô cùng lớn lao, một việc làm vô
cùng vĩ đaiﬠvô cùng cao cả, và vô cùng thiêng liêng. Không biết làm thế
nào mà Giáo Hội La Mã đã nhồi sọ vào đầu óc tín đồ của Giáo Hội
những nghi thức và tác phong phong kiến làm hèn hạ con người đến như vậyאָ
khiến cho họ không còn biết đến phẩm giá và liêm sỉ là gì nữa. Viết
đến đây, chúng tôi nhớ lại một đoạn văn của Giáo Sư Nguyễn Văn
Trung nói về cái mức độ vô liêm sỉ những người Gia-tô ngoan đạo
trong cung cách đối xử với nhau trong cộng đồng của họ. Nguyên văn đoạn
văn này như sau:
"Trong cách đối xử (họ)
thường tỏ ra kỳ thị, ban phát ân huệ, coi thường bề dưới, ganh tị và
kèn cựa với các đồng liêu để lập công với Tòa Thánh. Những điểm nổi
bật nhất là tiền hậu bất nhất, việc làm không đi đôi với lời rao
giảng, trọng ngoại khinh nội, tham phú phụ bần, vô cùng sợ Tòa Thánh,
đến nỗi có những linh-mục nói rằng: "Tòa Thánh đánh rắm cũng
thơm." (15)
Không biết có phải vì cái nghi thức
quái đản này mà trong thời kỳ kháng chiến 1946-1954, ngôn ngữ Việt Nam
đã nẩy sinh ra cụm từ "liếm gót giầy" cho quân giặc (Liên
Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp-Vatican.)
4.- Thi hành chính sách ngu dân và
giáo dục nhồi sọ.- Biết rằng nếu không thi hành chính sách ngu dân và
giáo dục nhồi sọ để làm cho tín đồ trở thành cuồng tín thì họ sẽ
nhìn ra ông thượng đế bạo ngược, nhìn thấy những chuyện loạn luân
dâm loàn cùng những tính cách bất nhân, bất nghĩa, phi nhân bản, phản
khoa học trong những tín điều trong hệ thống lý thuết thần học mà
Giáo Hội mà đã cấy vào đầu óc họ. Một khi đã biết rõ như vậy, thì
rồi sớm hay muộn tín đồ cũng sẽ hoặc là chống lại Giáo Hội như các
nhà trí thức trong Thời Kỳ Phục Hưng và Phong trào Đòi Cải Cách"
[The Renaissance and Reformation (1350-1600)] rồi bùng nổ thành Cách Mạng 1789
và trở thành kẻ tử thù quyết không đội trời chung cùng Giáo Hội, hoặc
là ầm thầm ra đi mà ca bài ca "giã biệt" để rồi nhìn
Giáo Hội mà "kính nhi viễn chi" khiến cho Giáo Hội ra lệnh
cho bọ nhạc nô viết bài ca trách móc "Sao ra đi mà chẳng nói năng
gì?" (sao lâu nay không thấy đi nha thờ?). Mục đích của chính
sách này là làm cho tín đồ (đúng hơn là nạn nhân) hoàn toàn bị điều
kiện hóa, giống như một người máy, mất hết lương tri, mất hết lý
trí, mất hết cá tính và cuối cùng mất luôn cả nhân tính, chỉ còn biết
phát ngôn và hành động theo lệnh truyền của Giáo Hội. Biến được họ
thành những tín đồ cuồng tín là Giáo Hội đã hoàn làm chủ họ, điều
khiển họ như điều khiển một cái máy, và họ sẽ trở thành những tên
lính cảm tử vô cùng hung ác trong các đạo quân thập ác được huy động
đi tàn sát những nhóm dân thuộc các tôn giáo khác. Trong các phần nói về
"Phát động các cuộc chiến thập ác", "Thiết lập các
tòa án dị giáo" và "Những hành động dã man", độc
giả sẽ thấy những người Gia-tô cuồng tín quả là những hạng người
phi cầm phi thú, tàn ác đến cùng độc của tàn ác, đến độ như không
còn "nhân tính". Sự kiện này đã khiến cho nhà báo
Long Ân gọi họ là những hạng người "cúi đầu đi trên bốn chân
để từ con người trở về nguồn gốc con
người súc sinh."
Thực ra, nếu không dựa chính quyền
đạo phiệt Gia-tô để vừa sử dụng bạo lực công an, mật vụ và cảnh
sát để khủng bố và cưỡng bách nạn nhân phải theo đạo, vừa sử dụng
những miếng mồi danh lợi và chức vụ trong chính quyền để dụ khị và
câu nhử những phường háo danh hám lợi thì không thể thi hành được chính
sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ, và nếu có thi hành được thì cũng khó
mà thành công. Vì vậy cho nên Giáo Hội cần phải nắm được chính quyền
và cảnh sát hóa chính quyền rồi mới cho thi hành chính sách ngu dân và
giáo dục nhồi sọ. "Miệng kẻ sang có gang có thép, một khi đã
có chính quyền chuyên chế trong tay rồi thì cái miệng của Giáo Hội sẽ
trở thành có gang có thép, và tha hồ mà nói ngang nói ngược. Lúc đó,
Giáo Hội mới cho thi hành chính sách ngu dân và phải tiến hành đúng theo
phương pháp giáo dục nhồi sọ mà việc đầu tiên là phải dạy cho tín
đồ học thuộc lòng cái quy luật "tuyệt đối vâng lời các đấng
bề trên" với câu châm ngôn do chính Giáo Hội đặt ra "Vâng
lời quý hơn của lễ" đúng ra là
quý hơn vàng ngọc). Sau đó, tín đồ sẽ được nhồi sọ các tín điều
nói về chuyện Đức Chúa Trời tạo nên trời đất, chuyện Chúa Ba Ngôi,
chuyện Đức Mẹ Đồng Trinh, chuyện các phép mầu và các phép bí tích. Biết
rằng những chuyện hoang đường phi lý và phản khoa học trên đây sẽ
không thể nào lọt được vào tai những người bình thường và những người
còn có lương tri, cho nên trong khi dạy những tín điều phi lý trên đây,
giảng viên luôn luôn nhắc nhở cho tín đồ phải ghi tâm khắc cốt lời dạy
"Phải tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên", "Phải
có niềm tin thì mới thấy sự linh nghiệm của các phép bí tích và phép mầu",
"Chỉ cần có một chút niềm tin bằng hạt cải thì người ta có thể
di chuyển được cả trái núi". Trong lúc dạy, cán bộ giảng dạy
được lệnh thỉnh thoảng lại chêm vào câu chữ Hán: "thuận thiên
giả tồn, nghịch thiên giả vong" với lời giải thích "Thiên
là Chúa Trời tức là Giáo Hội" để nhắc khéo cho tín đồ biết
rằng Giáo Hội là nhà nước đương quyền với những ông công an mật vụ
ở khắp mọi nơi. Ở vào tình trạng dưới sứ ép của chế độ đạo
phiệt với những màng lưới và công an mật vụ như vậy, dù có ngu bao
nhiêu đi nữa, người dân cũng hiểu được câu chữ Hán trên đây là
"thuận Gia-tô giả tồn, nghịch Gia-tô giả vong". Muốn không
vong mạng thì tốt hơn là phải ngoan ngoãn cắm đầu học thuộc lòng những
tín điều quái đản của Giáo Hội, và mưốn thăng quan tiến chức cho mau
cho lẹ thì phải biết khôn ngoan tỏ ra băng xng mong muốn có cái diễm
phúc được hân hoan sung sướng hưởng cái ân phước "khúm núm quỳ
mọp xuống sụp lạy thì thụp để hôn cà rá của các ông Giám Mục"
và "hôn hít giầy dép của các nhà truyền giáo".
Như đã trình bày trước đây, mục
đích cho thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ là Giáo Hội muốniến
tín đồ thành những con người máy, chỉ biết tin theo và thi hành những lệnh
truyền của Giáo Hội mà không được thắc mắc hay lý luận. Có làm như
vậy thì tín đồ mới ngoan ngoãn tin theo và tuân phục Giáo Hội giống như
đàn cừu nghe theo người chủ chăn. Đây cũng là nguyên do mà Giáo Hội
dùng những từ ngữ "con chiên" và "người chủ
chăn". Cả hai chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ đều có
tác dụng là làm cho các tế bào thần kinh thuộc trung khu lý trí trong não
bộ của nạn nhân sẽ dân dần bị thui chột vì lâu ngày không được sử
dụng để lý luận và phân tách. Nếu tình trạng này kéo dài trong mấy năm,
nhất là ở vào thời kỳ trong tuổi vị thành niên, nạn nhân sẽ dễ
dàng trở thành những người mang chứng bệnh lười suy nghĩ. Khi đã ở
vào tình trạng này rồi, nếu muốn dùng lý trí để phân tách một vấn
đề gì phức tạp hay trừu tượng thì sẽ bị nhức đầu. Rốt cục, rồi
cũng phải bỏ cuộc. Lâu ngày hóa thành quen, họ chỉ còn biết phát thanh
và hành động theo lệnh truyền của các đấng bề trên (những người chủ
chăn).
Đồng tiền nào cũng có hai mặt.
Khi cho thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi so, dụng ý của Giáo Hội
La Mã là làm cho dân ngu dễ trị, dân dốt dễ sài. Giáo Hội lại không biết
hay không cần biết đến cái hậu quả phản tác dụng của nó. Muốn biết
hậu quả phản tác dụng của chính sách này, chúng ta hãy lấy hành động
của những người Gia-tô Việt Nam sáng lập ra cái gọi là "Phong
Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm" làm thí dụ. Bọn người
này là sản phẩm của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo
Hội La Mã. Phong trào quái đản này hăng say đánh bóng và suy tôn tên tam
đại Việt gian Ngô Đình Diệm lên thành một nhà "chí sĩ yêu nước"
và "anh hùng dân tộc" mà không cần biết đến những thành
tích của chính bản thân Ngô Đình Diệm cũng như cha và anh của hắn ta đã
làm cái việc mà người Việt Nam ta gọi là "cõng rắn cắn gà nhà".
Vì dốt về lịch sử và vì không có khả năng lý trí để lý luận, họ
không tiên liệu được làm như vậy là xô đẩy đại khối nhân dân yêu
nước vào cái thế "cây muốn lặng mà gió chẳng muốn đừng."
Vì vậy cho nên mới có chuyện xuất hiện những ấn phẩm nói về những
thành tích cướp của giết người của Tòa Thánh Vatican trong lịch sử
nhân loại, những ấn phẩm nói về vai trò của
Giáo Hội La Mã trong thời kỳ Việt Nam bị đánh chiếm và thống trị bởi
Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp-Vatican, đặc biệt là những ấn phẩm
nói về "Nguồn Gốc Cùng Bản Chất Của Chính Quyền Và Con Người
Ngô Đình Diệm". Thí dụ thứ hai là trường hợp của ông Linh–mục
Vũ Đình Hoạt khi cho ra đời cuốn sách có tựa đề là "Việt Nam
Tôn Giáo Chính Trị Quan". Mục đích của tác giả khi viết cuốn
sách này là để bào chữa tất cả những việc làm bất chính, bất nhân
và bất nghĩa của Giáo Hội La Mã và của bạo quyền Gia-tô Ngô Đình Diệm.
Trong cuốn sách này, tác giả dành ra tới hơn 5 trang và mượn đoạn văn của
cụ Trần Trọng Kim trong bộ sách VNSL để chứng minh rằng Vua Hùng Vương
của dân tộc Việt Nam là người Tàu và là chuyện hoang đường không đáng
tin. Chúng ta hãy theo dõi đoạn văn dưới đây của ông Linh-mục Hoạt:
"Có nên công nhận và coi
Hùng Vương là Tổ dân tộc Việt Nam không? Hùng Vương thuộc dòng dõi Tàu…
là chuyện hoang đường, không nên coi là đáng tin. Phải trừ bỏ cái lọạ
chuyện hoang đường ra khỏi trí não con cháu Việt Nam để chỉ nhận chân
giá trị lịch sử đích thật." (16)
Chuyện này đã được chúng tôi
nêu lên trong cuốn ViẹⴠNam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963, nơi
Chương 13, và đặt vấn đề với các ông Linh-mục Hoạt như thế này:
Các ông cho rằng Vua Hùng Vương là dòng dõi người Tàu và là chuyện hoang
đường, không đáng tin, phải trừ bỏ ra khỏi trí não con cháu Việt Nam
để chỉ nhận chân đích thực lịch sử, vậy thì xin hỏi các ông rằng:
A.- Bà Maria và Chúa Jesus là dòng dõi người Do Thái hay người Việt Nam?
B.- Những chuyện ông Adam và bà Evà là thủy tổ loài người, chuyện Chúa
tạo dựng nên vũ trụ trong 7 ngày, chuyện Hồng Thủy, chuyện con Tầu
Noah, chuyện Đức Mẹ Đồng Trinh (không ăn nằm với đàn ông mà vẫn có
bầu và sinh con), chuyện Chúa Ba Ngôi, chuyện 7 phép bí tích, chuyện các
phép lạ, chuyện Đức Mẹ hiện xuống ở Fatima, ở Lourde, ở La Vang, tất
cả có phải là chuyện hoang đường hay không? Và có cần phải trừ bỏ
những loại chuyện hoang đường này ra khỏi trí não con cháu Việt Nam để
chỉ nhận chân giá trị lịch sử đích thực hay không?
Quan sát rộng hơn nữa, chúng ta thấy
rằng những người Việt Gia-tô cuồng tín ở hải ngoại đều là những
người có đầu mà không có óc khi họ tổ chức và tích cực tham dự vào
tất cả các vụ tập họp để phá thối và chống đối "buổi họp
mặt ra mắt sách Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II"
do nhóm Giao Điểm tổ chức tại Wesminster (California) vào ngày 19-8-1995, vụ
phá thối và chống đối "buổi họp mặt anh em văn nghệ sĩ Bắc Mỹ"
do Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu và người viết tổ chức vào ngày 20-12-1997 tại
nhà hàng Caravan trong thành phố Seattle (Washington), và vụ bao vây Chùa Đức
Viên tại San José vào những ngày cuối tháng 5-1998 để khủng bố Đại Lão
Hòa Thượng Thích Trí Dũng từ Việt Nam qua Hoa Kỳ du ngoạn, v.v… Chuyện
bao vây Chùa Đức Viên được tờ Thời Báo số 333 tại Oakland, California
phát hành vào ngày 30-5-1998 ghi lại như sau:
"SAN JOSÉ (Tin Việt Bắc Cali
tổng hợp tin tức) – Chung quanh chuyến viếng thăm của Đại Lão Hòa Thượng
Thích Trí Dũng, vị cao tăng 93 tuổi (sinh năm 1906) đến từ Sàigòn, Việt
Nam sóng gió đã nổi lên trong mùa Phật Đản, PL 2542: trong khi khắp mọi
nơi của đất nước Hoa Kỳ từ Nam California với các thành phố Wesminster,
Pomona, Los Angeles, hay Bắc California với Hayward, Mountain View, San Francisco đến
Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, Washington State… Canada, Pháp v.v.. đã long trọng
đón rước người đã có quá trình 86 năm xuất gia theo Đức Phật thì
riêng tại San José, biểu tình đã xẩy ra, trong vòng chưa đầy một tuần
lễ, đã có bốn cuộc biểu tình đả đảo với lý do "nhà sư quốc
doanh, chùa của nhà sư trụ trì chưa súng AK trong dịp Tết Mậu Thân, nhà
sư sang Hoa Kỳ do CSVN gủi đi là tuyên vận (?)…."
"Hòa Thượng Thích Trí Dũng
sang viếng thăm Hoa Kỳ là theo tinh thần thơ mời đề ngày 2/2/1998 của tổ
chức "Cộng Đồng Phật Giáo Á Châu tại Hoa Kỳ" do Hòa Thượng
Thích Minh Thông ký tên, điện thoại (909) 670-7041. Tổ chức này gồm có:
1.- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất tại Hải Ngoại tại Hoa Kỳ do Hòa Thượng Thích Đức Niệm và Thượng
Tọa Thích Viên Lý lãnh đạo. 2.- Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy thuộc
phái Nam Tông do Hòa Thượng Thích Hộ Giác lãnh đạo. 3.- Giáo Hội Tăng Già
Khất Sĩ Thế Giới phái Nam Tông do Hòa Thượng Thích Giác Nhiên lãnh đạo.
4.- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới do Hòa Thượng Thích Tâm
Châu lãnh đạo. 5- Giáo Hội Phật Giáo Liên Tông do Hòa Thượng Thích Thanh
Cát lãnh đạo.
Thư mời Hòa Thượng Thích Trí Dũng
có nói rõ chương trình viếng thăm là:
a.- Cung thỉnh quang lâm tham dự chứng
minh chủ lễ Đại Lễ Phật Đản PL 2542 được tổ chức vào ngày Chủ Nhật,
10/5/1998 nhằm ngày rằm tháng 4 năm Mậu Dần.
b.- Thăm viếng một số danh lam thắng
cảnh tại một vài tiểu bang Hoa Kỳ trong 1 tháng.
Vé máy bay khứ hồi và ăn ở cũng
như các tiện nghi chi dụng của Hòa Thượng trong thời gian nói trên do Cộng
Đồng Phật Giáo Á Châu tại Hoa Kỳ đài thọ." (17)
Để biện minh cho những hành động
khủng bố và những việc làm bất chánh trên đây, theo đúng sách lược
"hàm huyết phún nhân", những người Việt Gia-tô cuồng tín
chụp cho Đại Lão Hòa Thương Thích Trí Dũng cái mũ "Nhà sư quốc
doanh, vân vân và vân vân…" Sự kiện này chứng tỏ cái mức độ
ngu xuẩn của họ đã lên đến tột cùng của ngu xuẩn. Tại sao? Xin thưa,
thứ nhất, cứ giả dụ như Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Dũng là
nhà sư quốc doanh, là thân cộng, hay là Cộng Sản chính tông bà lang trọc
đi nữa, thì ở xã hội Hoa Kỳ này họ có quyền tụ tập nhau lại đến
bao vây Chùa Đức Viên và khủng bố nhà sư trên đây hay không? Điều này
chúng tỏ vì họ đã bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của
Giáo Hội La Mã làm cho họ ngu đi cho nên họ không biết đến những quyền
tự do căn bản và quyền hạn của một người dân sống trong một chế độ
tự do dân chủ. Thứ hai, nói rằng Hòa Thượng Thích Trí Dũng là
nhà sư quốc doanh, là thân Cộng, v.v…, cho nên họ mới tụ tập bao vây
chùa Đức Viên và khủng bố nhà sư này như vậy, thì tại sao lại họ
không kép nhau đến tòa đại sứ Việt Nam hiện nay ở Washington D.C. hay Tòa
Lãnh Sự Việt Nam tại San Francisco, trong đó có cả một phái đoàn Cộng Sản
công khai làm việc trong đó để mà bao vây và chửi rủa? Sự việc này
cho chúng ta thấy tính cách vừa hèn hạ vừa lưu manh của những người chủ
xướng việc làm bất chánh này. Nó cũng cho chúng ta biết vì ngu quá cho
nên họ mới không nghĩ ra điều này. Thứ ba, "nhập gia tùy tục,
đáo giang tùy khúc", ở Hoa Kỳ, đảng Cộng Sản được công khai
hoạt động, có trụ sở công khai, có các tiệm bán sách tuyên truyền cho
chủ nghĩa Cộng Sản, trong các kỳ bầu cử dân biểu, thượng nghị sĩ và
tổng thống, đảng Cộng Sản đều có ứng cử viên ghi danh ứng cử và
trong danh sách ứng cử viên, ứng cử viên Cộng Sản chiếm một vị thế
ngang hàng với các ứng cử viên của các chính đảng Dân Chủ Cộng Hòa, v.v…Chính quyền Liên Bang, tiểu bang và địa
phương ở Hoa Kỳ không những không chống đối Cộng Sản, không khủng bố
các đảnhg viên và đảng Cộng Sản mà còn giúp đỡ các phương tiện cho
những người Cộng Sản hành sử những quyền tự do căn bản của họ.
Ấy thế mà, những người Việt Gia-tô cuồng tín mới được Hoa Kỳ cho vào
nhập cư, đã không biết cái thân phân phận của chính mình là cái gì,
mà lại còn nhẩy ra choi choi hành động giống như là một chính quyền đạo
phiệt Gia-tô đối với những người Việt tỵ nạn (khác tôn giáo với họ)
hay từ Việt Nam sang Hoa Kỳ du ngoạn. Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ họ
ngu xuẩn hon tất cả những người bị xếp hạng là ngu xuẩn. Đay là chứng
bệnh ngu xuân dây truyền và di truyền. Thứ tư, nói rằng Hòa Thượng
Thích Dũng phải là người của Cộng Sản thì chính quyền Cộng Sản mới
cấp giấy thông hành sang Hoa Kỳ , vậy xin hỏi cũng trong thời gian này có
khá nhiều tu sĩ Gia-tô cũng được chính quyền Việt Nam cấp giấy thông
hành sang Hoa Kỳ thì họ cũng là Cộng Sản hay sao? Cũng trong thòi gian này,
các ông ông Tổng Giám Mục Phạm Minh Mẫn Tổng Giáo Phận Sàigòn, Linh-mục
Hồ Bắc Xái (xin xem phần phụ bản) và rất nhiều tu sĩ Gia-tô khác cũng
sang Hoa Kỳ để xin tiền) thì những người Việt Gia-tô ở Bắc Mỹ này
ngậm miệng câm như hến, không nói năng gì cả. Sự kiện này cho chúng ta
thấy rõ tâm địa hèn hạ và tính cách lưu manh của bọn người "thà
mất nước, chứ không thà mất Chúa" khi họ hăng say tổ chức và
tham gia vào những việc làm vi phạm các quyền tự do căn bản của những
người khác tôn giáo với họ. Thực ra, tất cả những hành động xấu xa
bỉ ổi trong các cuộc tập họp để bao vây và khủng bố Chùa Đức Viên
trên đây là do tác dụng của lời kinh dạy họ đã được ghi rõ ràng:
"Trong sách Kinh Nhựt Khóa của
Tổng Giáo Phận Sàigòn in vào năm 1971 do Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình
duyệt y ngày 19-3-1971, nơi trang 784-791, Kinh cầu ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e
có những câu mang nặng tính chất kích động tiêu diệt đạo Phật và
các tôn giáo khác như: "Ông Thánh Phan-xi-co Xa-vi-e phá tan đạo Bụt Thần"
và "Ông Thánh P.X là lệnh rao truyền tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho
những dân mọi rợ." (18)
Được nhồi sọ những tư tưởng
bất nhân trên đây, những người Việt theo đạo Gia-tô đều coi những
người thuộc các tôn giáo khác như là những "quân mọi rợ"
theo đạo "But thần mọi rợ" và cần phải đánh tan bọn
"Bụt thần mọi rợ" để "làm sáng danh Chúa".
Vì muốn "tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên", tuyêt
đối tin theo lời kinh dạy trên đây, họ tập họp thành những băng đảng
đi khủng bố và phá thối buổi ra mắt sách của anh em trong nhóm Giáo Điểm,
khủng bố và phá thối buổi hội thảo Văn Hóa của anh em văn nghệ tại
Seattle, đi biểu tình, bao vây chùa Đức Viên ở San Jose để khủng bố vị
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Dũng và Phật tử tại đây. Đây là "thành
quả" của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội
La Mã và là "cái di lụy khốn nạn nhất cho dân tộc Việt Nam".
Thật là tội nghiệp cho những người "có đầu mà không có óc"
này! Vì không có khả năng lý luận, cho nên họ không biết rằng khi hành
động như vậy là họ đã vi phạm các quyền tự do căn bản của những
người khác. Họ cũng không biết rằng những quyền tự do căn bản này đã
được hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ triệt để bảo vệ. Vì ngu dốt
quá, họ không biết rằng làm như vậy là họ đã mâu thuẫn với chính họ:
"Chính bản thân họ đãhải tìm đủ mọi cách để chạy trốn quê
hương Việt Nam ra đi sống đời lưu vong dở câm dở ngọng ở nơi xứ lạ
quê người cũng chỉ vì họ muốn được sống trong một quốc gia có luật
pháp bảo vệ cho mọi người cùng được hưởng những quyền tự do căn bản
này. Ấy thế mà khi vừa mới được an thân sống trong một chế độ tự
do dân chủ thì họ lại đi kết bè kết đảng với những người đồng
đạo thành băng đảng để khủng bố những người khác tôn giáo dù là
đồng cảnh ngộ với họ. Âu cũng là hậu quả của chính sách ngu dân và
giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã đã làm cho họ ngu dốt quá hóa
cho nên không nhìn ra điều nghịch lý này. Sự kiện này cho chúng ta thấy
rằng, những hạng nguời này không thể thích nghi được với lối sống
trong các quốc gia theo chế độ tự do dân chủ như ở Bắc Mỹ và Tây
Âu.
(Tờ phụ bản ông Linh-mục Hồ Bặc
Xái sang Mỹ xin tiền)
5.- Thiết lập các Tòa Án Dị
Giáo.- Giáo Hội La Mã cho thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ
là có mục đích làm cho tín đồ ngu đi, không còn có khả năng thông minh
để nhìn ra ý đồ bất chính của Giáo Hội khi bịa đặt ra những chuyện
thiên đường, địa ngục, lò luyện tội, các phép bí tích, phép lạ và
phép mầu. Ấy thế mà vẫn còn có nhiều người không bị làm cho ngu đi.
Những người "không ngu" này đã nhìn thấy rõ dã tâm thâm
độc của Giáo Hội khi đặt ra những chuyện hoàng đường phí lý và láo
khoét này. Họ cũng đã nhìn thấy một bộ mặt thật cùi hủi vô cùng
ghê tởm của Giáo Hội:
1.- Trong khi lên mặt đạo đức dạy
dỗ tín đồ rằng "phải sống đời trinh bạch, sống nghèo và tuyệt
đối vâng lời các đấng bề trên" thì các ông giáo hoàng, các
ông tu sĩ của Giáo Hội lớn cũng như nhỏ thi nhau sống đời phóng đãng,
làm những chuyện thương luân bại lý, loạn luân dâm loàn còn tệ hơn cả
loài sức sinh (xin coi phần nói về loạn luân dâm lọan trước đây).
2.- Trong khi Giáo Hội lên mặt
thánh thiện dạy dỗ tín đồ "phải sống nghèo thanh bạch"
với những lời những dạy láo khoét "Phúc thay cho những kẻ sống
nghèo" thì Giáo Hoàng của Giáo Hội lại "mặc áo long bào
hoàng đế, đội vương miện ba tầng, cầm gậy vàng, ngồi kiệu 16 người
khiêng, lọng hoa tán tía rợp trời, đi giữa rừng gươm giáo sáng ngời,
giữa rừng mâu thuẫn lóa mắt, leo lên hàng tột đỉnh vua trên hết các
vua, chúa trên hết các chúa" (19).
3.- Trong khi Giáo Hội lên mặt kẻ
cả của một nhà đaọ đức khiêm nhường và nhân từ dạy bảo giáo dân
"phải thương nhau như anh em một nhà và tuyệt đối vâng lời các
đấng bề trên" thì các nhà lãnh đạo của Giáo Hội từ ngôi vị
chóp bu là Giáo Hoàng xuống đến hàng tu sĩ cấp thấp nhất là linh mục
trông coi một xóm đạo đã không từ nan một thủ đoạn thâm độc, gian
ác và đê tiện nào để hạ thủ và thanh toán lẫn nhau trong việc giành
giật ngôi vị và quyền hành trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội. Sự
kiện này đã đưa đến tình trang Đại Ly Giáo (Great Schism) kéo dài từ năm
1378 cho đến năm 1417. Trong thời gian này, Giáo Hội đấm đá và xâu xé
nhau để tranh giành địa vị và quyền lực mà hậu quả là Giáo Hội đã
phân hóa ra làm 3 phe đảng. Mỗi phe đưa một tên đầu đảng lên làm
giáo hoàng, rồi ra công chửi bới, hạ nhục lẫn nhau trong cuộc chiến
giành giật ngôi vị giáo hoàng giống như ba con chó gầm ghè với nhau khi
cùng chợt thấy một cục xương do một người nào đó vừa liệng ra. Cả
3 phe đều tự xưng là chính thống và gọi hai phe kia là ngụy khiến cho
giáo dân hoang mang chẳng biết ông giáo hoàng nào là chính thống và ông
giáo hoàng nào là ngụy hay là giặc. Chúng ta hãy theo dõi một đoạn văn sử
do Giáo-sĩ Malachi Martin ghi lại chuyện các phe phái trong Giáo Hội đấm đá
nhau trong thời kỳ này:
"Tại Đại Học Boligna, Cossa
và mọi người khác đều nhìn thấy những gì đã xẩy ra. Giáo Hoàng Urban
IV và các ông hồng y của phe ông ta thù ghét phe cánh Giáo Hoàng Clement VII.
Và ngược lại. Giáo Hoàng Urban sống ở La Mã. Giáo Hoàng Clement sống ở
Pháp. Giáo Hoàng Urban được các ông hoàng đế của các nước Đức,
Na-Uy, Thụy Điển, Dan Mạch, Anh Cát Lợi, Ái Nhĩ Lan, Hung Gia Lợi và Ba Lan
ủng hộ. Giáo Hoàng Clement được các ông hoàng của các xứ Naples, Savoy,
Tô Cách Lan, Tây Ban Nha, Pháp và Đại Học Paris ủng hộ. Giáo Hoàng Urban
ra lệnh rút phép thông công Giáo Hoàng Clement và tất cả những người thuộc
phe cánh của ông giáo hoàng này. Đối lại, Giáo Hoàng Clement cũng ra lệnh
rút phép thông công Giáo Hoàng Urban và tất cả những người theo phe Giáo
Hoàng Urban. Mỗi ông giáo hoàng thăng chức cho một số chân tay lên chức hồng
y, thiết lập giáo triều riêng, liên kết với các phe phái khác làm vây
cánh, ban hành sắc lệnh riêng và bán giấy xá tội riêng để kiếm tiền
(sold his own indulgences). Cả hai phe đều sử dụng gián điệp, sát thủ,
lính đánh thuê, du côn, để lừa bịp lẫn nhau, sát hại lẫn nhau, đút
lót hối lộ và phản phé lẫn nhau. Sự thù nghịch của họ đã tạo nên
cuộc chiến khiến cho nhiều quốc gia Âu châu liên lụy và hàng ngàn lương
dân bị tàn sát, bị thiêu sống và bị hành hạ. Phe nào cũng bảo phe kia
là ngụy và tuyên bố sẽ rút lui nếu phe kia rút lui trước… Cả Âu châu
bị rơi vào tình trạng chia rẽ theo phe với họ. Phe nào cũng nắm được
một số người tốt, một số người xấu và đại khối lê dân khốn khổ
nằm dưới ách thống trị của họ…" (20)
Không nói đâu xa, ngay cả trong thời
hiện đại ngày nay, bộ mặt thật ghê tởm của các ông tu sĩ trong hàng
chức sắc tại các địa phương được nhà văn Gia-tô J. Ngọc mô tả qua
nhân vật Cha Y trong bộ sách "Cõi Phúc và Giây Oan" (Houston,
TX, Văn Hóa, 1996). Rõ ràng nhất là bài viết "Một Số Tình Hình Đặc
Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam" của Giáo-sư Nguyễn Văn
Trung đã phơi bày bộ mặt thật trong cung cách đối vử với nhau và đối
với giáo dân của các ông tu sĩ từ hàng cao cấp (áo hồng, áo tía) cho đến
những người nắm giữ chức vụ bé nhỏ nhất trong hệ thống quyền llực
của Giáo Hội tại Việt Nam. Chúng ta hãy theo dõi đoạn văn mở đầu cho
bài viết này:
"Điểm lại tình hình của
Giáo Hội Việt Nam, có những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Thực vậy,
chuyện giáo dân bị coi như cỏ rác là chuyện thường ngày ở huyện. Chuyện
đau lòng hơn cả là chuyện các chủ chăn chơi nhau thay vì chơi với
nhau ngày càng phơi trần ra. Sự sa đọa trong Giáo Hội ngày càng tăng thêm.
Trong Giáo Hội, người giáo dân ở địa vị thấp nhất, nữ giáo dân
luôn luôn nằm dưới. Thật là nghịch lý trong khi Đức Mẹ lại được các
cha, nhất là các cha Dòng Cứu Thế "ga lăng" hết cỡ. Người giáo
dân chỉ có quyền vâng lời, đóng góp và hầu hạ các Đấng, các bậc
trong Hội Thánh. Ai vâng lời dưới 100% có thể bị coi là "rối đạo"
và bị loại trừ bằng dưới mọi hình thức, nhất là không vâng lời về
chuyện chính trị và tiền bạc thì xem như lúa đời, phạm tội cực trọng,
đáng sa hỏa ngục đời chẳng cùng Amen…" (21).
Tình trạng này đã khiến cho nhân
miền Nam Việt Nam trong thời 1954-1975 phải lợm giọng mà tỏ thái độ vô
cùng khinh bỉ dối với bọn tu sĩ Gia-tô đến
cùng mức của khinh bỉ bằng một cầu vè đi vào trong ngôn ngữ Việt Nam
là "Nhất đĩ, nhì cha" và nhớ nằm lòng rằng "Đừng
tin những gì Giáo Hội nói, mà hãy nhìn những gì Giáo Hội làm."
Đây là tình trạng bọn tu sĩ Gia-tô tại Việt Nam từ xưa cho đến nay. Ngày
nay, ánh sáng khoa học đã chiếu rọi vào bức màn đen tối cho mọi người
nhìn thấy rõ những thủ đoạn lường gạt người đời bằng những chuyện
hoang đường trong hệ thống thần học và tín lý bịp bợm của Giáo Hội,
đã biết rõ những món hàng rao bán của các ông là "đồ giả",
đã tặng cho các ông cái hỗn danh "bọn quạ đen" (les
corbeaux noirs), và nhiều khi còn gọi là "bọn lưu manh buốn thần bán
thánh độ lốt thày tu" mà các ông còn bất cần vẫn tìm cách để
"chơi nhau" thay vì "chơi với nhau",. Hơn thế thữa,
các ông còn lộng hành "coi giáo dân như cỏ rác", coi những
người khác tôn giáo như những "phương mọi rợ". Huống chi
là vào thời tiền Cách Mạng Pháp 1789. Thời đó, chắc chắn là "bọn
qụa đen" (les corbeaux noirs) này đã coi
giáo dân còn tệ hơn cả cỏ rác! Thực hư như thế nào, xin độc gỉa cứ
tìm đọc cuốn Cách Mạng Và Hành Động (Nghiêm Xuân Hồng, Saigon, Quan Điểm,
1964) thì sẽ thấy rõ. Chính vì vậy mà nhân dân Âu châu hồi đó lúc nào
cũng bừn