-
-
- Mấy ghi nhận sau khi đọc
"Linh Mục Trần Lục – Thực Chất Con Người & Sự Nghiệp"
của Bùi Kha và Trần Chung Ngọc
- Nguyễn Văn Hóa
Ghi nhận một: đối thoại
là cuộc chạy đua về lý luận
Theo các từ điển Hán Việt đã xuất
bản, từ "đối" trong đối thoại có một định nghĩa chung là sự
đáp lại, trả lại, một cặp, một đôi; "thoại" là lời nói,
nói chuyện. Trong ngôn ngữ Anh Mỹ, danh từ dialogue (đối thoại) ý nghĩa
được mở rộng ra là một cuộc trao đổi hay tranh luận giữa những người
có ý kiến khác nhau.
Nếu đang là một cuộc tranh luận,
đối thoại chưa hẳn sẽ đi tới kết luận chung cuộc là ai đúng, ai sai;
nhưng ít ra nó cũng trình bày cho những người tham dự hay chiếu cố tới
cuộc đối thoại những sự kiện, lý lẽ, chứng minh một lập luận để
tìm ra chân lý (sự thật). Tuỳ theo tính chất của các cuộc đối thoại,
lập luận ở mỗi phía sẽ tạo ra những tiền đề và tổng hợp đề khác
nhau; nhưng tổng hợp đề này vẫn nằm trong phạm trù tư duy, lý luận. Sử
học không dừng lại ở phạm trù tư tưởng, bởi mỗi một biến cố lịch
sử là tác động do con người tạo nên. Tác động ấy là kết quả từ tư
tưởng, và cũng có thể là nguyên nhân cấu tạo tư tưởng. Nghiên cứu lịch
sử còn là sự khảo sát các biến cố ấy: nguyên nhân, sự kiện và hậu
quả của nó.
Đọc trong Kinh Thánh Cựu Ước có
đoạn : "Chúa trời là người đàn ông của chiến tranh. Gia Vê là tên
của ông ta. Bàn tay phải của Người, ôi Gia Vê, xé tan từng mãnh quân
thù" (Moses, Exodus 15: 3,6-7). Nếu chỉ nghiên cứu về tư duy tôn giáo
thuần tuý, đoạn Kinh Thánh này vẫn còn thuộc phạm trù lý luận; nhưng nếu
nghiên cứu sự hình thành và phát triển của đạo GiaTô La Mã (lịch sử
tôn giáo), buộc lòng người nghiên cứu phải liên hệ các biến cố lịch
sử đẫm máu của đạo này tạo nên, có quy luật biện chứng nào không
giữa tư duy (Kinh thánh) và các biến cố cụ thể (lịch sử). Do đó
nghiên cứu sử học trước hết là truy tầm về sự thật của quá khứ.
Vậy thì những người viết sử mà
không tôn trọng sự thật, không biết hoặc là cố tình không dùng đến các
phương pháp, phương tiện để khảo sát sư kiện, không có bằng cớ, chứng
tích của sự thật thì không thể gọi là những nhà sử học. Tệ hơn
nũa, có người viết sử lại bóp méo sự thật, dùng một phần của sự
thật để xuyên tạc, biện minh cho sự bất chính của quá khứ, mong cầu
cho một tương lai vô minh, người ta đã nôm na gọi họ là những nhà nguỵ
sử.
Sử học không thể là "một môn
học lý giải và tiên liệu mọi biến chuyển của xã hội, từ quá khứ
qua hiện tại, suốt đến tương lai" (Đỗ Thái Nhiên, "Người trí
thức", Nhân Văn tháng 8/1991, tr.16). Nếu sử học là một môn học lý
giải các biến cố, sự kiện do con người tác động, người ta có thể
lý giải các biến cố, sự kiện ấy từ xấu thành tốt, từ bất chính
thành chính nghĩa, từ phản dân hại nước thành những kẻ có công với
đất nước.
"Cụ Sáu" Trần Lục là một
nhân vật xuất thân từ Phát Diệm miền Bắc Việt Nam, một linh mục Gia
Tô giáo, kẻ đã hộp tác với thực dân Pháp, với Giáo hội Mẹ (Vatican)
để chống lại những người yêu nước bằng các hành động cụ thể (mà
hầu như một học sinh trung học hay đại học Việt Nam có học đến sử
Việt, đều biết đến ít nhiều) – giờ đây được tuyên dương là một
vĩ nhân của dân tộc là một việc làm phản lại sử học. Cuốn sách
"Trần Lục" (một tuyển tập của 22 nhà trí thức GiaTô, từ khoa
bảng cho đến các chức tôn giáo, xuất bản năm 1996 ở hải ngoại) đã
làm công việc phản sử học này.
Cho nên khi đọc "Linh mục Trần
Lục..." của hai tác giả Bùi Kha và Trần Chung Ngọc, tôi không cho đó
là một cuộc đối thoại giữa sự khác biệt về tư duy và chính kiến,
mà là một vạch trần xuyên tạc sự thật lịch sử.
Ghi nhận hai: một phương pháp
không mới, nhưng rất khoa học trong vấn đề viết sử
Sau khi đi sâu vào nội dung của
"LM Trần Lục: Thực chất...", tôi rút ra được một số phương
pháp mà hai tác giả của cuốn sách này đã áp dụng như sau:
+ Sử dụng nguồn tài
liệu có giá trị
Thế nào là một tài liệu sử có
giá trị ? Theo tôi, tài liệu đó phải xuất phát từ nhiều liên hệ tới
biến cố lịch sử trong thời điểm xảy ra. Tựu trung có ba lập trường
chính: một, của phe liên hệ (trong trường hợp này tài liệu xuất phát từ
Gia Tô giáo); hai, phe đối nghịch (là tài liệu sử của Cộng Sản, của
triều Nguyễn và các phong trào Văn Thân, Cần Vương, của Phật Giáo [thật
ra Phật Giáo không có tinh thần đối nghịch với Gia Tô, trái lại Gia Tô
coi Phật Giáo như kẻ thù, nên tạm xếp vào đây], của những phong trào
kháng chiến nhưng không có màu sắc Cộng Sản); phe khách quan (không có lập
trường chính kiến, nhưng tôn trọng sự thật lịch sử). Giá trị còn
được chứng thực không chỉ riêng ở các công trình nghiên cứu được
thử nghiệm qua thời gian, mà còn ở tiểu sử, công trình nghiên cứu và sự
nghiệp của chính tác giả.
+ Yếu tố thời điểm
lịch sử và bối cảnh xã hội
Thời điểm mang tính thống nhất
trong biến cố lịch sử, vì cùng một biến cố không thể có hai sự kiện
khác nhau. Nếu thời điểm là mô hình, xương sống của các sử gia, thì bối
cảnh xã hội chung quanh thời điểm đó là những cơ phận để tạo nên
nhân dáng hoàn chỉnh, trung thực.
+ Phương pháp đối chiếu
và tổng hợp
Đối chiếu là sử dụng mọi nguồn
tài liệu dẩn chứng để so sánh sự kiện (biến cố), tính chất (phong
trào quần chúng, cách mạng), vấn đề (tôn giáo, hiện tượng xã hội).
Thẩm định sự đối chiếu có giá trị hay không tuỳ thuộc vào yếu tố
sử dụng nguồn tài liệu có giá trị hay không. Từ đó, qua đối chiếu sự
tổng hợp sẽ đưa tới một kết luận chân xác.
Tác giả Bùi Kha sau khi đưa ra sáu
nguồn sử liệu để so sánh và phân tích về nhân vật Trần Lục đã
đưa tới kết luận bảy tội của Trần Lục đối với dân tộc Việt
Nam. Trần Chung Ngọc đã đưa ra năm tội. Tựu trung, tính chất của các tội
này mang những tính chất rất giống nhau, mặc dầu hai tác giả đã làm việc
trong hoàn cảnh riêng lẻ. Điều đó chứng minh có một điểm chung (common
ground) khi người ta đứng trên lập trường dân tộc để nhìn vào lịch sử.
+ Phương pháp loại suy
Ba yếu tố nói trên sẽ là trụ chống
cho phương pháp loại suy. Tác giả trần Chung Ngọc đã sử dụng phương pháp
này một cách chặt chẻ, khúc chiết: Nếu bạn đọc đã đọc xong cuốn sách
"Trần Lục" (của 22 tác giả Gia Tô), thấy còn lấn cấn về các
suy nghĩ như: Trần Lục thưcự là một vĩ nhân ? Thế nào là một vĩ nhân
? Vĩ nhân nhờ vào thành quả: công trình kiến trúc xây nhà thờ Phát Diệm,
một linh mục nhưng được triều đình nhà Nguyễn phong đến bốn tước vị;
người đã đóng góp tích cực vào việc truyền đạo, mở mang nước Chúa
ở miền bắc Việt Nam, thì hai tác giả Bùi Kha và Trần Chung Ngọc (trong
"LM Trần Lục: thực chất con người & sự nghiệp" đã chứng
minh cho thấy các yếu tố TL là một vĩ nhân, yêu nước, đạo đức đã bị
loại trừ (exclusive); để chỉ còn phơi bày thực chất Trần Lục là tu sĩ
phản quốc, kẻ gây đại họa cho dân tộc.
Xét về Trần Lục như một "anh
tài" văn học: Tài văn học của Trần Lục được các tác giả Gia Tô
dựa trên "ba tác phẩm lớn": Hiếu Tự Ca (1085 câu), Nữ Tắc Thường
Lễ (1016 câu), Nịch Ái Vong Ân (440 câu). Nội dung ba tác phẩm lớn này là
những bài vè làm theo thể lục bát. Vì là những bài vè dông dài như vậy,
cho nên tôi chỉ nêu ra một số câu tiêu biểu mà tôi cho là hay nhất trong
số vài ngàn câu trên:
- "Phần hồn thì Chúa sinh ra
- Xác này Chúa phó mẹ cha sinh thành..."
Để răn dạy phụ nữ Gia Tô:
- "Đường kim mũi chỉ đàn bà
- Nhiều khi đã thấy như là đỉa ngôi
- Thôi thì học lấy cho rồi
- Khéo người làm thợ, vậy tôi vá quần..."
thật là khó cho tôi không biết phải
diễn tả thế nào cho phải về "anh tài văn học" của ông Trần Lục
qua ba tác phẩm nói trên. Vậy xin nhờ nhà lý luận văn học Nguyễn Hưng
Quốc, hiện ở nước Úc, kẻ từng gây "chấn động" giới văn học
hải ngoại và trong nước qua tài biến bài thơ "Con Cóc" thành bài
thơ hay, may ra tài văn học của Trần Lục sẽ được thể hiện.
Tóm lại, với phương pháp loại suy
trong tác phẩm LMTL, đã đặt yếu tố con người thành hai vế đối nghịch
và người đọc đã có thể dễ dàng chọn lựa câu trả lời chân xác
(có yếu tố này thì không thể có yếu tố kia)
- Hèn mọn/ Vĩ nhân
- Tiểu tốt/ Anh tài
- Phản quốc/ Yêu nước
- Sát nhân/ Đạo đức
- Giảo hoạt/ Chân thật
- Kẻ cuồng tín ngu muội/ Yêu Chúa sáng suốt.
Ghi nhận ba: trí thức Gia Tô
và "vết lăn trầm"
Mặc cảm là một khái niệm của
phân tâm học. Freud đã khai triển khái niệm này và phân chia thành hai loại:
Mặc cảm Oeudipe và mặc cảm Electra. Mặc cảm của con người là khởi động
xuất phát từ một "ẩn ức sinh lý", mặc cảm Oeudipe là mặc cảm
của con trai yêu mẹ ghét cha được Freud triển khai trong vở kịch Hamlet của
Shakespeare; hay mặc cảm Electra là mặc cảm của con gái yêu cha ghét mẹ.
Theo khái niệm mặc cảm phổ quát, các nhà tâm lý học phân chia mặc cảm
có hai cực: tự tôn (superior complex) và tự ti (inferiority complex). Mặc cảm
tự tôn và tự ti là hai trạng thái tâm lý rất khó phân biệt, dễ lẩn lộn,
nên có nhiều "thức giả" đã sử dụng nó để gán ghép cho người
khác nhiều khi không đứng đắn và chính xác. Thí dụ sau khi chế độ miền
Nam sụp đổ, người ta đã cho rằng các cán binh, dân chúng miền Bắc do mặc
cảm tự ti vì sự quê mùa, nghèo nàn và lạc hậu qua cách ăn bận, cử chỉ,
vóc dáng... của họ nên đâm ra thù ghét dân chúng miền Nam... Mặt khác,
các thành phần lãnh đạo ở miền Bắc vì tự tôn qua chiến thắng, nên
trong các bài tham luận diễn văn, lúc nào cũng dùng danh từ đao to búa lớn:
đánh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào v.v... Người nghèo có mặc cảm tự ti về sự
thua kém kinh tế. Người giàu có tự tôn về sự giàu sang...
Có người (phần nhiều là thành phần
trí thức Gia Tô) cho rằng Phật Giáo vì mặc cảm "thua kém" quyền
lực, giàu sang, địa vị xã hội, học vấn...(họ thí dụ như các tu sĩ
Phật Giáo "ít học", không biết chữ Tây, chữ La Tinh, toán học,
âm nhạc...[sic] như các tu sĩ Gia Tô) nên đố kỵ và thù ghét với đạo
Gia tô La mã. Dư luận này rất gần gủi với tinh thần của cựu giáo sư
khoa trưởng Lê Hữu Mục trong cách phân tích hạ nhục phong trào Văn Thân
và Cần Vương và đề cao ông "cụ Sáu" Trần Lục mà Trần Chung
ngọc đã vạch ra. Đây là đề tài chỉ sợ giới đồng bào bình dân lầm
lẫn thôi, cho nên cho phép tôi được nhắc lại rằng tinh thần Phật giáo
là tinh thần "vượt ngã", tự thắng lấy bản thân của mình. Những
lời Phật dạy chỉ là phương tiện để đạt tới chân lý. Và sự đánh
mất mặc cảm (tôn hoặc ti) chỉ là nổ lực nhỏ, bước đầu trong chiều
dài nổ lực để tự thắng lấy bản thân. Dĩ nhiên những người trí thức
Gia tô không chấp nhận con đường tự thắng như vậy, bởi họ không thể
đạt được nổ lực tự thắng bản thân nếu không có sự "hiệp
thông" qua ý muốn của Thiên chúa hay nhận được ân sủng ban phát của
mẹ Maria. Vậy nhìn qua phạm trù con-người-phổ-biến (trong đó bao gồm
trí thức Gia tô), không có năng động để tự thắng mình, ta có thể gọi
con người trí thức Gia tô là con người hội tụ của mặc cảm tự ti lẫn
tự tôn, như một bàn tay sấp ngữa, không có ranh giới phân định.
Tinh thần mặc cảm này được thể
hiện qua thực tính (nói theo ngôn ngữ triết học) và lý luận:
+ Mặc cảm tự ti về nguồn gốc
(nghèo khổ, bần cùng). Theo đạo có gạo mà ăn là một sự kiện lịch sử
chứ không phải là chuyện dèm pha, bôi bác.
+ Phản dân, hại nước: Theo đạo còn
là hình thức tôn sùng các linh mục truyền giáo (cha cố) nước ngoài như
thành phần lãnh đạo của mình (phần hồn lẫn phần xác), mà các linh mục
này với đội quân đi xâm chiếm đất đai chỉ là một, dù hai bên có
công tác và mục tiêu khác nhau; do đó sự hợp tác giữa thành phần theo
đạo bản xứ với đội quân xâm lược là điều không thể tránh khỏi.
Triều đình nhà Nguyễn chống lại quân xâm lược Pháp (là việc hiển
nhiên) và chống luôn cả đạo Gia tô (có lý lẽ lịch sử khác nữa) đã
làm cho hành động theo Pháp chống lại triều đình nhà Nguyễn và chống
luôn những người yên nước (như Văn Thân, Cần Vương, Kháng chiến...) của
người Gia tô là có "chính nghĩa" theo lý lẽ riêng của họ.
+ Đánh mất căn tính dân tộc: Đạo
Phật truyền bá đến Việt Nam từ bên ngoài. Tư tưởng Lão, Khổng cũng vậy.
Tuy vậy tính chất tôn giáo và căn nguyên lịch sử rất khác biệt với
Gia tô giáo. Điều quan trọng là tính chất của "Tam giáo" ấy là
căn tính của văn hóa dân tộc, gọi là dân tộc vì nó đã trở thành
"xương thịt" của con người Việt Nam. Như vậy tính chất dân tộc
không xác định từ yếu tố tôn giáo truyền bá từ ngoài hay không, nhưng
từ bản chất và nội dung của tôn giáo ấy. Tính chất thờ phượng, tôn
kính, giáo lý của đạo Gia tô làm cho họ (nhất là thành phần trí thức)
luôn luôn cảm thấy con người đích thực của chính mình bị đánh mất.
Con người thực của mình không còn, thì văn hóa dân tộc (Việt) trở
thành yếu tố ly tâm .
+ Mặc cảm thua trận: Nếu tất cả
chúng ta đều đồng ý một cách dễ dãi rằng – chỉ có đạo Gia tô mới
chống Cộng [thật ra đây là một lầm lẫn từ hệ quả lịch sử] thì người
Gia tô Việt Nam chính là những kẻ thua trận. Mặc dầu đây là sự kiện
lịch sử bi hài hết sức, nhưng nó ẩn và động trong chiều sâu tiềm thức
của trí thức Gia tô (điều này không thể lầm lẫn: đa số các chức vụ
trọng trách trong hai chế độ chống Cộng miền Nam đều nằm trong tay các
tín đồ Gia tô: hành chánh, quân sự, chuyên môn). Thua Cộng sản có nghĩa
là mọi giá trị "tự tôn xưng" của họ bị sụp đổ trước một
giá trị mà họ cho là "ngu dốt, ma quỷ, tàn ác..." Chạy ra nước
ngoài, thế lực Gia tô càng thành công về mặt vật chất thì càng cay đắng
về mặt tinh thần. Ở đất người, Chúa ổ cận kề, sao vẫn thấy u uất,
đắng cay khao khát về một quê hương cho chính xương thịt và tâm hồn
mình (!). Có lẽ đây là niềm đau lớn nhất của chất xám Gia tô.
+ Mặc cảm tự tôn: Sự tự ti nếu
không bộc lộ ra bên ngoài, nó lại được che đậy qua ngôn từ, dưới dạng
ẩn dấu trong tiềm thức. Trái lại sự tự tôn như một trái banh xì hơi,
nó tuôn ra hết ở bên ngoài. Sự tự tôn của người Gia tô đến từ một
thực thể: từ nghèo hèn đã trở thành những kẻ giàu sang, từ thất học
(hoặc không thể học) đã trở thành những trí thức khoa bảng : tiến sĩ,
giáo sư, khoa trưởng, bộ trưởng, tổng thống...Phú quý sinh lễ nghĩa. Sự
tự tôn của trí thức Gia tô gia tăng, chồng chất theo trọng lượng vật
chất tích lũy. Chất xám Gia tô bỗng dưng tự cưu mang cho mình một trọng
trách về tinh thần: xóa bỏ triệt để hết nguồn gốc, dấu vết lịch sử
không đáng nhớ, cố mang thêm một bộ áo văn hóa dân tộc vào lớp da bọc
của mình. Nhìn thấy được hiện tượng này, chúng ta sẽ không còn thảng
thốt qua những câu văn như "chỉ tiếc một điều đạo Công giáo chưa
kịp ăn sâu vào lòng dân tộc như đạo Phật, cho nên các nhà văn chưa viết
được một cuốn "Hồn Bướm Mơ Tiên" thứ hai"... (1), hay bộc
lộ một mặc cảm lịch sử vô phương cứu chữa "Người dân Phát Diệm
nào cũng mang trong lòng dòng máu hai hình ảnh quê hương: một quê hương của
Lê Lợi, Quang Trung và một quê hương của Trần Lục, Lê Hữu Tù, Hoàng Quỳnh
và Nguyễn Minh Luân"... (2).
Trong tâm cảm "tìm về dân tộc",
hay khát khao một biểu tượng anh hùng dân tộc, người trí thức Gia tô
có thể vấp phải những cái mâu thuẫn, dấm dớ, đôi khi lố bịch... vì
Dân tộc, Anh hùng Dân tộc là những thứ họ thiếu hoặc không thể có. Tận
đáy lòng của một người Việt Nam, chúng ta sẵn sàng tha thứ, bởi có những
đau thương đẫm máu mà qua thời gian vẫn có thể xóa nhòa, độ lượng với
nhau, huống chi là những đoạn văn vụng về, những ý tưởng bơ vơ, lạc
loài. Nhưng chúng ta không thể chấp nhận sự vụng về, lố bịch ấy bỗng
một ngày biến thành một hệ thống tư tưởng nhằm sửa đổi lịch sử,
đổi trắng thay đen, biến tội ác trở nên lương thiện, biến phản quốc
trở thành yêu nước, biến một kẻ tầm thường, tiểu tốt trở thành vĩ
nhân của dân tộc !
- Nguyễn Văn Hóa
- 9/2000
Ghi chú
(1,2) Nguyễn Trọng, Phát Diệm là gì
? tr. 197, Kỷ Yếu Phát Diệm 1891- 1991, tuyển tập, Nguyệt san ĐMHCG phát
hành 1992, Hoa kỳ.
