>>>Tạp Chí

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .

 

 

"TỨ DỤC ĐẾ" CỦA HỒNG Y RATZINGER
Henry Tincq

 

Lời Người Dịch – Tháng Chín năm 2000, Hồng y Ratzinger công bố bản lập trường bốn điểm của Vatican về phương hướng phát triển "dân Chúa" trong thế kỷ thứ XXI. Bản lập trường nầy bị dư luận của giới trí thức Âu châu, trong cũng như ngoài Nhà Thờ, phản ứng dữ dội. Đặc biệt tại Pháp, nơi mà giáo hội được mệnh danh là Trưởng nữ (Fille ainée de l’Eglise), Hồng y Ratzinger càng bị chống đối kịch liệt hơn.

Tạp chí Le Monde Diplomatique số thứ Bảy ngày 16–9-2000, trong mục Horizons – Analyses, đã đăng bài Les Quatre Vérités du Docteur Ratzinger của Henri Tincq để từ tốn phân tích nhưng quyết liệt phản bác các luận điểm của Hồng y Ratzinger.

Phổ biến bài Việt dịch nầy, người dịch hy vọng bạn đọc sẽ có dịp biết rõ hơn về cơn khủng hoảng không cách gì cứu chữa của Vatican, cũng như để biết phản ứng sáng suốt và kịp thời của giới trí thức Công giáo Âu châu tuy rằng phản ứng đó chắc chắn cũng chẳng giúp ích gì được cho quá trình sụp đổ tất yếu của một tôn giáo đã lỗi thời. Người dịch cố tình để nguyên văn một số từ (in nghiêng) mà Henti Tincq sử dụng để bạn đọc nào quen tiếng Pháp biết được "khẩu khí" của tác giả.

Ngoài ra, người dịch cũng mong các bạn đọc Công giáo Việt nam nào còn có một chút lương thiện trí thức thì có dịp "mở mắt" ra và bình tĩnh nhìn cho kỹ để thấy cái Giáo hội Công giáo Việt Nam tội nghiệp của mình, chạy dài từ Phát Diệm đến Hố Nai, từ phố Bolsa đến quảng trường Thánh Phêrô, thì đã bị hóa thạch nên tụt hậu thê thảm biết bao trước sự thức tỉnh của người Công giáo Tây phương …!

Riêng với một số ít tu sĩ Phật giáo đã và đang manh tâm đi "hôn chân Đức Thánh Cha" để mong hòa hợp tôn giáo với Vatican trong "sứ mạng" làm tốt đầu cầm cờ chống Cọng cho họ thì xin quý Thầy nầy hãy đọc cho biết, đặng suy nghiệm trở lại, để rồi dẹp cờ quăng trống đi là vừa.

Trần Văn
Irvine, 10-2000

 

Chúng ta có thậm xưng không khi xác nhận rằng chủ nghĩa Vô thần đã là lực lượng thách thức trục đối với Công giáo trong thế kỷ thứ XX ? Còn trong thế kỷ thứ XXI thì thách thức mới có phải sẽ là xu hướng Đa nguyên Tôn giáo và Tâm linh trong một thế giới toàn cầu hóa chăng? Thách thức mới nầy quả thật đáng sợ hơn thách thức cũ nhiều. Tiêᮧ kêu báo động mà Hồng y Josef Ratzinger, người giữ cửa kiêu kỳ của thành trì chính thống cho Giáo hội La Mã, vừa gióng lên đã xác nhận điều đó. Nhưng khi tái xác định nguyên tắc tiên quyết rằng Công giáo thì độc quyền trong việc ban phát ơn cứu rỗi, và giáo hội Công giáo là giáo hội duy nhất nắm giữ "trọn vẹn" quyền thừa kế gia tài của Giê Su trong suốt hai ngàn năm qua, Hồng y Ratzinger đã tàn bạo (brutal) đạp vào cái thắng để chận lại mọi nỗ lực đối thoại và hòa hợp giữa các tôn giáo.

Hồng y Ratzinger năm nay 73 tuổi, trước đó ông vốn là một trong những nhà thần học cởi mở nhất của Cộng Đồng Vatican II ( 1962-1965). Nhưng những biến cố trong năm 1968 đã đẩy ông trở lại quê hương Đức, và tại đó, bị ám ảnh bởi sự vươn lên của các nguồn tư tưởng triết học "hư vô" và "tương đối" của thời kỳ nầy, ông (người chịu trách nhiệm về học thuật Công giáo) đã làm choáng váng những khuynh hướng muốn đối thoại bằng cách biểu tượng hóa chuyến hồi hương của mình với một sứ mạng "bất khoan nhượng" (intransigeance) và cổ xúy cho một khuynh hướng độc tôn hóa nền thần học Công giáo.

Vào năm 1986, tuy Giáo hoàng Gioan-Phaolồ II đã làm một bước nhảy vọt bằng cách chấp nhận sự hiện hữu của tất cả các Đức tin Thiên Chúa và Phi - Thiên Chúa thông qua cuộc Hội thảo Assise với những vị lãnh đạo tôn giáo trên thế giới trong ước vọng sẽ có "hòa bình" giữa các tôn giáo, nhưng từ đó đến nay, cuộc Hội thảo đó đã bị rạch nát mặt (défigurevì sự chiến thắng của chính sách bất khoan dung và của khuynh hướng tập trung toàn trị trong Giáo hội Công giáo.

Tuy nhiên, bốn điểm tuyên bố của Hồng y Ratzinger là dịp để ta thấy rõ hơn bằng chứng về những bế tắc (impasses) và mơ hồ (ambiguités) của các cuộc gọi là "đối thoại tôn giáo" đang chẳng đi đến đâu cả. Tại vì ta phải tự hỏi là "đối thoại" để làm gì ? Công giáo đã trở thành thiểu số (minoritaire) tại châu Âu. Còn tại châu Á và châu Phi mà Công giáo đang tìm cách phát triển (bằng với hoặc nhiều khi mạnh hơn Hồi giáo) thì nó lại bị đối chọi trong hòa bình hay bằng bạo lực với những truyền thống tâm linh lâu đời và bền vững hơn như Ấn độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo, hay những tôn giáo truyền thống Á Phi chạy dài đến Nam Mỹ (Brésil, Cuba) vốn luôn luôn cảnh giác trước các ý đồ truyền giáo của Công giáo La Mã.

Như vậy, trong thế kỷ thứ XXI, một Công giáo mà tất cả nền thần học, tất cả lễ lạt nghi thức, tất cả quyền lực và tiền bạc đều có nguồn gốc từ Âu châu và đang tàn lụi (décline), thì tương lai của tôn giáo đó sẽ đi về đâu ? Từ ba mươi năm nay, các nhà thần học Á châu và Phi châu đã khắc khoải (angoisse) nêu lên vấn nạn nầy. Những nhà thần học nầy không được Vatican lắng nghe nhưng những luận đề của họ đã tạo ra tác động cách mạng không kém những luận đề của các nhà thần học Âu châu đã bị La Mã khống chế trong thập niên 50’ (Congar, Rahner, Teilhard de Chardin, le Dubac, v.v…) hay của các nhà thần học "giải phóng" châu Mỹ Latinh bị kiểm duyệt trong thập niên 80’ (Boff, Sobrino, Guttierez, v,v…). Cũng bánh xe cán đường (rouleau compresseur) đó, hôm nay, đang nghiến nát những nhà thần học châu Á (Panikkar, Amaladoss, Pieris) hay những cảm tình viên Tây phương bày tỏ sự đồng ý với các luận đề nầy (Jacques Dupuis).

Từ vùng Nam bán cầu, nơi mà Công giáo còn có cơ may phát triển hơn, những luận đề tiền phong nầy muốn xác định điều gì ? Chúng muốn nói lên rằng những mô thức "La Mã" hay Tây phương của Giáo hội Vatican không có hy vọng gì chống chỏi được với những tôn giáo đáng tôn kính (vénérables) như Ấn độ giáo và Phật giáo, hay đang bung mở (expansive) như Hồi giáo. Những luận đề nầy cũng xác nhận rõ thêm rằng tại châu Phi và châu Mỹ Latinh, nỗ lực truyền đạo đã và sẽ chấn thương cấu trúc xã hội, truyền thống tâm linh và tự ái chủng tộc của các vùng văn hóa nầy. Có cần phải nhắc lại rằng Rwanda, chiến trường tàn độc của cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vào năm 1994, là quốc gia "công giáo" nhất tính theo số họ Đạo và số con chiên tại châu Phi không?

Trong những lục địa nầy, nhất là tại châu Á (với 60% tổng số nhân loại) Công giáo vẫn là tôn giáo của người nước ngoài và của những tên thực dân xâm lược cấu kết với các nhà truyền giáo Tây phương. Các nhà thần học bản địa mong muốn Vatican xét lại các tín điều, các giáo luật và hệ thống tổ chức tăng lữ, vốn hoàn toàn bất tương ứng (incompatibles) với các nền văn hóa châu Phi và châu Á. Công giáo được biểu hiện thông qua những sinh hoạt, ngôn từ, và biểu tượng vốn không có một ý nghĩa gì ngoài những sinh hoạt, ngôn từ và biểu tượng hoàn toàn Tây phương.

Từ Cộng đồng II Vatican, tuy quá trễ tràng nhưng La Mã cũng đã cẩn thận từng bước khuyến khích phát triển khuynh hướng "xâm nhập văn hóa" ("l’inculturation") của dòng tu Jésuite (Matteo Ricci, Francois Xavier) khi dòng tu nầy giảng đạo tại châu Á từ bốn thế kỷ trước. Trong thập niên 70’, giáo hội khẩn cấp nhắc đi nhắc lại lời kêu gọi "châu Phi hóa Công giáo" của Giáo hoàng Phaolồ VI và Hồng y Malula (người Zaire)…Tuy nhiên, cuối cùng, những nỗ lực đó cũng đã bị cán mỏng (laminés).

Ngày nay, những nhà thần học châu Á đang bị Hồng y Ratzinger điểm mặt lên án lại đẩy cuộc thảo luận vào tận trung tâm tín lý Công giáo với vấn đề Cứu rỗi con Người. Những nhà thần học nầy xác định rằng người Công giáo châu Á có quyền thực hành những truyền thống tâm linh Á châu (như Thiền định), và để được lắng nghe cũng như để được kính trọng tại phương Đông, tín lý Công giáo không thể cứ khăng khăng cho rằng Giêsu là "đấng trung gian duy nhất" ("le seul médiateur") giữa Chúa Trời và con người, là con đường cứu rỗi duy nhất, là sự thanh tẩy và thiêng liêng duy nhất.

Một vấn nạn khác mà Vatican không chịu đựng nô(insupportable) là nền Thần Học Giải phóng. Lẽ dĩ nhiên Hồng y Ratzinger không thể tuyên bố như các vị tiền nhiệm của Tòa thánh rằng "ngoài giáo hội, thì không có sự cứu rỗi" ("hors de l’Eglise, il n’y a point de salut"), nhưng ông cũng đã vạch ra giới hạn cho các cuộc đối thoại giữa Công giáo và các tôn giáo khác. Ông tuyên bố rõ rằng Giáo hội có thể ký các bản Đồng thuận với các giáo hội khác, có thể gia tăng các cuộc tiếp xúc, các buổi hội thảo, các sinh hoạt chung, ngay cả các "hòa ước" ("baisers de paix"), nhưng tất cả những ai muốn đối thoại đều phải tiên quyết công nhận rằng chỉ Giáo hội Công giáo La Mã là nắm giữ trọn vẹn Sự Thật và Con đường Cứu rỗi.

Giới hạn nầy đã ném mọi người vào sự mâu thuẫn giữa một bên là lời mời gọi đối thoại với các tôn giáo khác vì Vatican cho rằng những tôn giáo nầy cũng "có mang phần nào ánh sáng của Sự thật đến cho con người" (ngôn ngữ của Cộng đô஧ Vatican II) và môbên là Phúc Âm đặt nền tảng trên tín xác rằng Giêsu là đấng trung gian duy nhất với Chúa Trời, và Giáo hội Công giáo La Mã là định chế thừa kế duy nhất của Giêsu.

Cho đến hôm nay, những Giáo hội Thiên Chúa giáo khác (như Chính Thống giáo, Anh giáo, Tin Lành, …) đều thấy rõ con thuyền của thánh Phêrô đang lạc hướng (va à la dérive) chẳng khác gì những khuynh hướng mâu thuẫn nhau đang tác động đối nghịch trên một vị Giáo hoàng già nua. Bị ám ảnh bởi độ lớn của các thách thức trong buổi bình minh của thế kỷ mới, bị kiểm soát bởi một tầng lớp chức sắc lộng quyền, Giáo hội La Mã càng lúc càng ngập ngừng không biết phải định hướng như thế nào.

Henri Tincq

  home.gif (583 bytes) top.gif (471 bytes)


© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa63@hotmail.com
. ..........