>>>Tạp Chí

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .

 

Thư trả lời cô Xuân Nhi của tác giả Nguyễn Mạnh Quang:
Về hai sắc chỉ của Giáo Hội

 

Tacoma ngày 17 tháng 1 năm 2001

Thân gửi cô Xuân Nhi,

Thưa cô, tuần qua có một độc giả gọi viễn liên cho tôi hay thắc mắc của cô đăng trên báo Người Dân số 122 (tháng 10-2000) và số 124 (tháng 12-2000) về một điểm trong cuốn sách Việt Nam Đệ Nhật Cộng Hòa Tòan Thư 1954-1963. Tôi lục lại chỉ còn có tờ Người Dân Số 124 thôi, và bắt gặp những lời cô trách móc:

"õ. . .Thế nhưng cả một tháng sau, trong số tháng 11, không hề thấy động tĩnh gì cả. Cháu thật là ngạc nhiên. Vì trong tác phẩm, tác giả nói rất nhiều về sứ mạng người viết sử, tự coi mình là sử gia. Mà lại là sử gia bác bỏ, sửa sai, nếu không nói là lên án kết tội cá nhân, tập thể, thì khi bị nêu thắc mắc phải tức thời tra cứu, đúng thì xác định, sai thì phủ chính, chứ sao lại lời tít đi như thế?"

Đức Khổng Tử dạy rằng: "õTiên trách kỷ, hậu trách nhân"õ. Bởi thế, tôi cũng xin nhận lỗi trước là đã làm cho cô phải đợi mong đến nóng giận. Sự kỷ lưỡng về các sự kiện năm tháng và triều đại của cô thật ra rất đáng khuyến khích. Tôi xin chịu trách nhiệm về sự chờ đợi quá lâu này của cô. Tuy nhiên, có những điểm sau đây xin cô xét lại

  1. Nếu quả thực cô cần câu trả lời của tôi, thì đáng lẽ cô nên viết thư thẳng về địa chỉ của tôi, thay vì gửi qua mục thư tín của tờ Người Dân. Trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963, địa chỉ của tôi rõ ràng ở cuối sách (cả quyển đầu tiên và quyển tái bản) như sau: Thư từ & Tiền bạc, xin liên lạc với tôi qua địa chỉ:

    Phúc Nguyễn

    P.O. Box 7434

    Tacoma, WA 98407

  2. Sự kiện tôi là độc giả thường trực của tờ Người Dân thì cũng giống như là độc giả của hàng trăm các sách báo khác, và cũng là độc giả của chính độc giả tôi nữa. Tôi không phải là người trong ban biên tập của Người Dân, nên tôi không để ý tới mục thư tín, mà chỉ tìm những mục liên hệ đến đề tài tôi viết mà thôi.
  3. Cô lại gửi cho tờ Giao Điểm (có liên quan đến tôi, nên Giao Điểm đã chuyển đến tôi) những lời bực tức như sau:

". . .Nhưng cháu thực không thể nào hiểu nổi thái độ của tác giả Nguyễn Mạnh Quang. Hay là ông ta tự cho là vô danh tiểu tốt lại tự xuất bản và phát hành lấy nên không đếm xỉa đến độc giả mà lờ luôn?"

Thật ra, chẳng phải là tôi muốn lờ đi như cô đã trách tôi đâu. Thưa cô, ưu tiên của tôi dành cho độc giả cũng không kém ưu tiên đọc sách báo và tra cứu. Tôi dành ra gần một nửa thời giờ để trả lời thư của các độc giả trực tiếp gửi đến cho tôi.

Dù sao thì nay cũng đã đến lượt trả lời cho cô. Tôi xin trả lời thắc mắc của cô về hai sắc chỉ của Giáo hội La Mã trong hai nguồn tài liệu mà tôi tham khảo. Xin cô đọc kỹ lại các trang 429-431 (nếu là ấn bản năm 1998), và các trang 452-453 (nếu là ấn bản năm 2000) để biết rõ nội dung của hai sắc chỉ này và xuất xứ nguồn tài liệu mà tôi sử dụng.

a. Về Sắc Chỉ 1449, tôi trích dẫn nguyên văn từ sách Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Viêt Nam của Tiến-sĩ Cao Huy Thuần (Los Angeles, CA, Hương Quê, 1988, trang 7). Đây là bản dịch từ nguyên bản bằng tiếng Pháp Christianisme Et Colonialisme Au Vietnam của cùng tác giả Cao Huy Thuần (Paris, 1968, trang 7). Xin đính kèm theo đây bản chụp của trang sách này.

b. Về Sắc Chỉ 1452, tôi trích dẫn nguyên văn từ cuốn Lịch Sử Thế Giới của học giả Nguyễn Hiến Lê (Westiminster, CA, Văn Nghệ, 1994, tr 349). Bản chụp của trang sách này cũng được đính kèm theo đây.

Đúng như cô nói, hai năm 1449 và 1452 thuộc về triều đại của Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Giáo Hoàng Martin V lên ngôi vào năm 1417, qua đời vào năm 1431, và Giáo Hoàng Calixte III (Calistus III) kế vị Giáo Hoàng Nicholas V, lên ngôi vào năm 1455 và qua đời năm 1458. Tiến-sĩ Cao Huy Thuần nói sắc lệnh được Giáo Hội La Mã ban hành vào năm 1449 thuộc về triều đại Giáo Hoàng Martin V. Còn học giả Nguyễn Hiến Lê nói sắc lệnh được Giáo Hội ban hành vào năm 1452 là thuộc về triều đại Giáo Hoàng Calixte III. Như vậy cả hai ông đều có một sự sai lầm về niên biểu hoặc giáo triều.

Mặc dù Tiến-sĩ Cao Huy Thuần và học giả Nguyễn Hiến Lê có thể có sơ xuất về niên biểu và giáo triều, nhưng nội dung của hai sắc chỉ trên thì không sai, vì những lý do sau đây.

Ngoài sắc chỉ "õInter Caetera" (mà cô đã đề cập trong thư) được Giáo Hội La Mã ban hành vào ngày 4-5-1493 trong thời Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503), lại còn có một sắc chỉ khác được ban hành vào ngày 26-9-1493. Qua sắc chỉ này, Giáo hội ban cấp rất nhiều đặc quyền và đặc lợi cho Tây Ban Nha, và tước đoạt gần như toàn bộ những đặc quyền đặc lợi đã ban cho Bồ Đào Nha trước kia bởi hai sắc chỉ 1452 và 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V.

Các sắc chỉ về sự chiếm đoạt đất đai và cưỡng bách các dân tộc làm nô lệ cho Giáo-hội La Mã cũng có thể tìm thấy đầy dẫy trong các mạng lưới. Đoạn văn trích dẫn từ URL:

"õhttp://www.indegenouspeople.org/natlit/uctp/ papalbull.htm"õ dưới đây là thí dụ điển hình.

"õIt is generally believed that, with his famous message on his discoveries, Columbus dispatched to the Spanish Kings, who were at Barcelona, a report on the difficulties raised by the Portuguese King, but it is questioned whether this was sent from Lisbon by land or from Palos after having reached the latter port, March 14, 1493. King Ferdinand and Queen Isabella of Spain reported the great news at once to Pope Alexander VI. It is again doubtful whether this was done by a special messenger or by a courier sent to Cardinal Bernardin de Carvajal and to Ruiz de Madina, then Spanish ambassadors at the Holy See, and whether this was done in consequence of the Portuguese claims or according to general custom of the period. Pope Alexander VI, himself a Spaniard, granted the request to confer the lately discovered lands on the Crown of Spain by three Bulls issued on May 3 and May 4, 1493 (all much in favor of Spain, and depriving Portugal of nearly all privileges bestowed upon it by the Bulls of 1452 and 1454, issued by Nicholas V, and by that of 1481 of Sixtus IV (1471-1484) and of 1484 of Innocentius VIII (1484-1492). Some months later, on September 26, 1493, a fourth Bull was issued granting to Spain almost unlimited rights&"õ

Xuyên qua nội dung của các sắc chỉ này, chúng ta thấy Giáo Hội:

1. Tự phong cho Giáo Hội là chủ nhân ông của toàn thể trái đất này (ngang ngược),

2. Độc đoán rằng những người không phải là tín đồ của Giáo Hội thì không có quyền chiếm hữu hay làm chủ bất kỳ một tài sản gì ở trên trái đất (ngược ngạo).

3. Độc đoán rằng nguời đại diện Chúa Kitô tức là tín đồ của Giáo Hội có quyền tước đoạt (bằng cách xử dụng bạo lực để ăn cướp) tất cả những gì do những người phi Gia-tô chiếm hữu (bạo ngược và bất chính).

4. Ban cấp cho Bồ Đào Nha tất cả những đất đai mà họ tìm ra được từ Phi Châu trở về phia Đông bao gồm luôn cả Ấn Độ, và có quyền bắt các dân tộc bị chinh phục làm nô lệ, và phải theo đạo Gia tô (ngang ngược và bất chính).

Những sự kiện này được thể hiện qua sự hiện diện của các nhà truyền giáo của Giáo Hội La Mã trong các đoàn quân viễn chính Tây Ban Nha và Pháp đánh chiếm Châu Mỹ La Tinh và Đông Dương. Họ là những người cung cấp các tin tức tình báo chiến lược, chỉ đường dẫn lối, và móc nối với các tín đồ Gia-tô bản địa để thành lập đạo quân thứ 5 tiếp tay cho các đoàn quân xâm lăng này.

Dưới đây là những việc Giáo hội đã làm trong quá khứ:

  1. Phát động gần 10 thập ác chiến (crusades) tàn sát không biết bao nhiêu triệu sinh linh vô tội.
  2. Thiết lập các Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions) giết hại trên 68 triệu lương dân bị Giáo Hội gán cho là tà giáo.
  3. Chỉ đạo các chính quyền đạo phiệt Gia-tô tàn sát và bách hại những nhóm dân thuộc các tín ngưỡng khác như:
  • ở Tây Ban Nha và các thuôc địa của đế quốc này từ thời Trung Cổ đến năm 1820,
  • ở Anh trong những năm thời Nữ Hoàng Bloody Mary 1553-1558,
  • ở Pháp thời Pháp Hoàng Louis XIV (1638-1715),
  • ở Croatia thời bạo quyền Gia-tô Ante Palvelich trong thời Đệ Nhị Thế Chiến,
  • ở miền Nam Việt Nam trong thời chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963).

Tất cả đều nói lên cái bản chất bạo ngược và dã man của Giáo Hội La Mã. Đương kim Giáo Hoàng John Paul II là người biết rõ những sự thật này nhiều nhất nên Ngài đã nhiều lần "xin lỗi" (miệng) với các dân tộc nạn nhân trong suốt triều đại của Ngài (xin xem cuốn "õVatican Thú Tội và Xin Lỗi"õ của Giao Điểm mới xuất bản vào tháng giêng năm 2001).

Tôi nghĩ rằng, uy tín của Tiến-sĩ Cao Huy Thuần và uy tín của cụ Nguyễn Hiến Lê thì khó có thể nghi ngờ được. Hai vị học giả trên đây có thể lầm lẫn về niên biểu và triều đại của các ông giáo hoàng, chứ không lầm lẫn về nội dung của hai các sắc chỉ để đời này của Giáo Hội La Mã. Quí vị nào có thắc mắc thì nên đi tìm hiểu nguồn tài liệu trên đây hay liên lạc trực tiếp với các tác giả của nguồn tài liệu đó để xin được giải đáp. Chính tôi cũng đã làm như vậy, và đang chờ Tiến-sĩ Cao Huy Thuần hồi âm. Cụ Nguyễn Hiến Lê đã qua đời, không còn cách gì để hỏi được cụ nữa. Điều may mắn là gần đây kho mật hàm của Giáo Hội vừa mới được ĐGH John Paul II cho mở cửa. Xin cô Xuân Nhi hãy kiên nhẫn, chờ một thời gian khoảng vài ba tháng hay vài ba năm nữa, chắc chắn là các nhà viết sử chuyên tìm hiểu những việc làm của Giáo Hội từ xưa cho đến nay, sẽ công bố rất nhiều điều mà chúng ta chưa được biết.

Thiết tưởng câu chuyện về các sắc lệnh của các giáo hoàng đến đây cũng đã quá đủ. Nếu cô vẫn còn không đồng ý với những lời giải đáp của tôi, xin cô cứ đem hai bản chụp của hai trang nói về 2 sắc chỉ này đưa lên mặt báo để thỉnh cầu các bậc thức giả thêm ý kiến..

Lần sau, để tránh chờ đợi lâu, nếu có thắc mắc gì về những điều tôi viết ở trong các ấn phẩm của tôi, xin cô cứ liên lạc trực tiếp với tôi qua địa chỉ có ghi ở cuối sách như đã nói trên. Chúc cô được vạn sự như ý.

Nguyễn Mạnh Quang

  home.gif (583 bytes) top.gif (471 bytes)


© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hoa63@hotmail.com
. ..........