Nguyễn Hữu Liêm
Qua khung mây trắng, tôi vươn xuống theo cánh máy bay để gặp gỡ xứ Thần kinh, đáp chuyến xe đò
già vạn lữ, qua sông Thạch Hãn để về bên
nấm mồ của ông. Từ nơi xứ sở của mỗi thứ và mọi thứ, tôi vượt
qua ngàn trùng để tìm về mọi thứ trong tận
gốc rễ của chính mình. Bờ ruộng cũ vẫn xanh non như ngày nào; hàng tre
xanh vẫn ướt át mưa phùn, gió bấc của cơn đại
hàn cuối tháng Chạp. Và nấm mồ của ông như là cái sự thể của cái
còn trên quê hương - xứ Bích La Thượng - nơi tôi đã
sinh ra, và bây giờ, trở về.
Niềm nhớ quê như ngọn đèn
lu giúp tôi đọc lại dòng văn giữa đêm đông giá buốt nơi miền Trung thật gần này. Nay
bạn ấu thơ nay là chủ tịch xã; ngọn đèn
dầu yếu ớt ngày nao nay là đèn điện sáng trong bắt về từ đường dây cao thế nằm bên kia Ái Tử; nhạc
karaoke chập chờn theo gió ngộ nghĩnh. Tôi lên đò
qua sông, nhìn thấy quê hương đã bước sang
một thời kỳ không còn bóng tối: mỗi mái nhà đã
lợp ngói. Thời gian rồi cũng chuyển được
màu tro của từng mái tranh sang màu đỏ của
ngói tươi, như trong mỗi ước mơ của từng con người. Những nhánh cây đậu phụng nằm trải thân mình trên đất trộn cát từ những cơn lụt bỗng vắng bóng
suốt cả hai năm qua.
Trong vườn cũ, hố bom vẫn còn, ngày tháng và bao nhiêu
mùa thời tiết chưa lấp được, nó hằn
lên nương vườn như một vết sẹo trên thân xác, khó thể xóa mờ, quên đi, như tên gọi của quê hương. Cái còn của
quá khứ không ngăn được
bước tiến của tương lai, của cái mới ngay trong thế hệ hôm nay. Tôi cố
gìm lại giọt nước mắt bi thảm cho chiều sâu của hố bom trước mặt.
bao nhiêu cát từ sông Thạch vẫn chưa xóa được
nó sao?
Tôi nhớ đến ông năm xưa. Gần ba mươi năm
rồi! Ông đi chích lễ cho một con bệnh về
té xuống ao sâu. Tôi nghe tiếng la của Ông, chạy ra. ông cháu níu nhau lên
đường, và tôi cõng ông về. Từ đó, Ông bị què chân, mỗi khi đi đâu tôi cũng phải
cõng Ông cả. Nhưng cái nặng thân xác của ông năm
xưa trên lưng thằng cháu mười tuổi làm sao có thể so với cái nặng tâm
hồn đối với cái vườn nhà và mộ Ông
ngày hôm nay? Đời người ta mang hai lần gánh
nặng: của thân xác ấu thơ muốn ra đi và nỗi
niềm của kẻ lữ muốn trớ về.
Nấm mộ Ông còn nằm bên bao nấm mộ khác có bà con, làng
xóm chăm sóc. Đã
bao nhiêu năm tôi không về chạp mộ, để vác cuốc đi
theo đoàn trai trong buổi sáng lạnh nghe vang
tiếng chuông trống thôi thúc, với mùi thịt heo, xôi nếp thơm. Cái lạ của
nấm mồ là cái gì không còn cứ níu chặt lấy chân kẻ ra đi. Nó ôm trọn cái gì mà tình cảm con người đã hoàn tất từ mùi đất
quê nhà. Tôi đã ra đi
trong bom đạn, nay trở về trong bình yên và đầy đủ. Nhưng lòng
tôi xao động về "cái gì là mình" hơn
là tiếng nổ của ngày xưa. Như con cá Salmon của vùng ôn đới cứ vươn thân xác trở về nguồn sông để tiếp tục chính mình qua biểu tượng của cái
chết: ý chí hiện thân cuối cùng của Cuộc Mệnh là nấm mộ ở quê
nhà. Từ đó, mộ của Ông ôm cái quê nhà để cho tôi còn được
ra đi. Ngay cả trong cái chết, Ông vẫn còn
thương tôi như thế!
Khi đứng dậy, bên cạnh bờ
mộ Ông, tôi níu được hai bờ của hư không
và thực tại, của cái đã qua mà vẫn là, đang là và đang trở
nên cho làng, cho xóm, cho bà con, cho tôi. Hiện tại là nơi trở về cho quá
khứ và tương lai, là bến giã từ cho chính mình: cái mà tôi biết đến tôi, vẫn chỉ là của những năm sống với Ông ngắn dài vô hạn. Nén hương tôi
đốt cho Ông là ngọn lửa từ những cọng
tóc của ruộng đồng và cả hương sắc của
khái niệm trời tây. Tôi mần răng núm chắt
cái của Ông còn lại trong thân xác và cảm xúc này. Tôi không biết. Nên
chi tôi xin lạy Ông và hẹn một Tết khác. Tôi sẽ còn trở về.
Nguyễn Hữu Liêm
(Quãng Trị, Tết Ất Hợi-1995)
[Nguyễn Hữu Liêm là một luật sư, hiện đang giảng dạy môn Triết tại San Jose City
College; tác giả của các sách đã xuất bản:
1.Dân Chủ Pháp Trị (1991)
2.Tự Do và Đạo Lý (1993)
3.Thời Lý và Hiện Hữu (1996).
Bạn đọc muốn order các
sách nói trên, xin liên lạc với tác giả. Số phôn: (408)223-8490, California
USA. - Giao Điểm]
