ghĩa tên
của nàng là chùm hoa. Ai đó thố lộ rằng một tạo vật tầm thường
nhất cũng đầy ắp sự ngọt ngào bên trong nó. Nhưng riêng Sherkhar thêm
vào trong cái tên, chàng gọi nàng là Chùm hoa Mùa Xuân. Và những tạo
vật bình thường đó gật gù nói: A, chính là ta!
Trong những khúc xuân ca thi nhân cao giọng tán dương chùm
hoa mùa xuân lặp đi lặp lại một cách lộ liễu; đức vua khi nghe thấy
nháy mắt và mỉm cười với chàng, và thi sĩ mỉm cười đáp lại. Đức
vua liền đặt cho chàng một câu hỏi:
"Phải chăng công việc của loài ong chỉ đơn giản là
vo ve tán tỉnh mùa xuân?".
Thi nhân trả lời:
"Không phải chỉ vậy, chúng còn nhấm nháp mật ngọt
của những chùm hoa mùa xuân".
Và tất thảy mọi người trong cung điện của nhà vua đều
cười. Và người ta thì thầm rằng công chúa Ajiata cũng cười việc cô
tì nữ của nàng chấp nhận cái tên thi nhân tặng cho, Manjiari cảm thấy nỗi
hân hoan tràn ngập trong tim cô.
Kể từ đó sự thật và giả dối trộn lẫn với nhau
trong đời sống –Thượng đế kiến tạo con người cũng kèm theo sự
trang trí của riêng ngài.
Duy chỉ có những sự thật trinh tuyền vẫn được thi nhân
ca tụng. Chủ đề là Krishna và Râdhâ, người yêu và người được yêu,
Vị Chúa tể của đàn ông và Chúa tể của đàn bà, nỗi buồn lúc khởi
thủy, và niềm hạnh khúc bất tận. Sự chân thành từ đáy trái tim chàng
thể hiện trong những khúc ca này đều được mọi người từ kẻ hành khất
đến chính nhà vua đều biết. Những bài ca của thi nhân được hát trên
môi của tất cả mọi người. Trong ánh trăng nguyên sơ huyền ảo và trong
tiếng thì thầm khẽ khàng của những cơn gió mùa hè, những bài ca của
chàng tuôn tràn từ những cửa sổ, sân nhà, từ những chiếc thuyền
trôi, từ những bóng cây bên đường, với vô vàn chất giọng.
Vì vậy ngày cứ qua đi trong hạnh phúc. Thi nhân ngâm thơ,
nhà vua thưởng thức, những thính giả vỗ tay, Manjari đi đi về về ghé căn
phòng của nhà thơ trên đường đến sông _ bóng hồng nhẹ lay sau bức
rèm che ban công và những chiếc chuông vàng nhỏ nhắn vẫn leng keng từ xa.
Thế rồi từ phương nam bỗng nhiên xuất hiện một nhà thơ
trên con đường chinh phục. Y đến triều bái nhà vua Nârâyan, trong vương
quốc Amarapur. Y đứng phía trước ngai vàng, ngâm một bài thơ ca ngợi đức
vua. Y đã khiêu khích tất cả thi sĩ cung đình theo cách của mình, và sự
chiến thắng trong sự nghiệp thi ca của y chưa một lần bị phá kỷ lục
Nhà Vua đón tiếp y trọng thể:
"Thi sĩ, ta cho ngươi bình thân"
Pundarik, thi sĩ trả lời một cách kiêu hãnh" "Tâu
bệ hạ, hạ thần muốn được thi thố"
Shekhar, thi sĩ của nhà vua không biết làm thế nào để
đương đầu trong trận thi chiến. Chàng đã thức trắng đêm. Dáng dấp mạnh
mẽ của Pundarik, chiếc mũi cong như một thanh đại đao, cái đầu vẻ
khinh mạn nghiêng sang một bên, luôn ám ảnh thi nhân trong bóng tối.
Với một trái tim run rẩy Shekhar bước vào đấu trường lúc
bình minh. Thính phòng đông nghịt người.
Thi nhân cúi chào đối thủ của mình với một nụ cười.
Pundarik đáp lại bằng cái hất đầu chiếu lệ, rồi hướng mặt về phía
những đoàn tùy tùng đang ngưỡng mộ y với một nụ cười đầy hàm ý.
Shekhar ngước nhìn tấm rèm che ban công phía trên cao, chào
người đẹp của lòng chàng và nói "Nếu tôi là kẻ chiến thắng cuộc
thi hôm nay, người đẹp của tôi ơi, cái tên chiến thắng của nàng sẽ
được vinh danh"
Tiếng kèn trumpet vang lên. Đám đông đứng dậy, tung hô
nhà vua vạn tuế. Nhà vua trong chiếc áo bào trắng, khoan thai bước vào
thính phòng giống một đám mây trắng bềnh bồng mùa thu, ngài ngồi xuống
ngai vàng.
Pundarik đứng dậy, đại sảnh mênh mông bỗng lặng im. Đầu
ngẩng cao và ngực nở rộng, y bắt đầu cất cao giọng ca ngợi nhà vua
Nârâyan. Những lời thơ của y vỡ tung những bức tường đại sảnh giống
như những cơn sóng lớn ngoài biển khơi, và dường như chọc vào mạn sườn
của đám đông thính giả. Với cái kỹ xảo tạo ra muôn vàn ý nghĩa cho cái
tên Nârâyan, và dệt từng chữ của cái tên thành tấm thảm của những vần
thơ trong vô số kiểu kết nối, y đã làm cử tọa sững sờ nín thở.
Vài phút sau khi y ngồi xuống giọng y vẫn còn vang vọng khắp
những hàng cột trong cung điện và trong hàng ngàn con tim lặng đi. Các bậc
thức giả đến từ những miền đất xa xôi giơ cao tay và hò la, Hoan hô!
Đức vua liếc nhìn khuôn mặt Shekhar, và Shekhar ngước mắt
đáp lại, trong một chốc mắt chàng đầy ắp nỗi đau đớn hướng về vị
chủ nhân của mình, thế rồi chàng đứng dậy hệt như một con hươu ốm
yếu. Khuôn mặt chàng xanh xao, bẽn lẽn giống phụ nữ, dáng dấp mảnh khảnh
trẻ trung của chàng, thanh tú trong từng đường nét, giống như một sợi
dây đàn Vi na đang căng lên sẵn sàng bật tung ra tiếng nhạc khi chạm nhẹ.
Đầu cúi xuống, chàng bắt đầu với giọng thật trầm.
Những đoản thơ đầu tiên gần như không thể nghe thấy. Thế rồi chàng
từ từ ngẩng cao đầu, chất giọng trong trẻo ngọt ngào cao vút lên tận
bầu trời giống như ánh lửa lung linh. Chàng bắt đầu bằng một truyền
thuyết cổ xưa về dòng dõi vương giả đã chìm khuất trong sương mù của
quá khứ, đem nó trở về hiện tại bằng những lời ca ngợi sự anh minh
và đại lượng vô song. Mắt chàng đăm đắm hướng về nhà vua, tất thảy
tình yêu mênh mang không lời nào tả xiết của mọi người dành cho vương
quốc tỏa ngát hương thơm trong những lời ca của chàng, và kết hoa tứ bề
xung quanh điện ngọc. Đến những lời cuối cùng, run rẩy chàng ngồi xuống:
"Hỡi chủ nhân của tôi, tôi có thể thất bại trong ngôn từ, nhưng bất
khả chiến bại trong tình yêu tôi dành cho người".
Lệ dâng tràn trong mắt người nghe, những bức tường đá
rung lên những âm vang chiến thắng.
Chế giễu những tình cảm trào dâng của thính giả, với
một cái lắc đầu ngạo mạn và một cử chỉ khinh miệt, Pundarik đứng dậy,
tung ra một câu hỏi vào đám đông: "Có cái gì hay ho trong những ca từ
đó chứ?" Trong giây lát cả thính đường lại rơi vào sự im lặng.
Thế rồi với một sự diễn xuất tài tình của sự am hiểu,
y chứng minh rằng Ngôn Từ khởi đầu là Thượng đế. Y trích dẫn hàng
loạt kinh sách, xây một bàn thờ thật cao rồi đặt Ngôn từ ấy lên
trên tất thảy mọi thứ có trên thiên đường và trần thế này. Y lặp lại
câu hỏi trong chất giọng ngạo nghễ: "Có gì còn cao hơn những câu từ
ấy?"
Y nhìn quanh một cách tự mãn. Không ai dám chấp nhận
thách thức của y, và y từ từ ngồi xuống như một con sư tử đã no nê
trong một bữa ăn những nạn nhân của nó. Những học giả reo lên: Hoan
hô! Nhà vua vẫn còn lặng đi vì ngạc nhiên, còn chính Shekhar thi sĩ cảm
thấy không còn lý do gì ở bên cạnh sự thông thái kiểu lạ lùng này. Đám
đông reo hoan cho ngày hôm ấy.
Hôm sau Shekhar bắt đầu bài ca của chàng. Đó là một
ngày khi những tiếng sáo phát ra từ ống sáo thân quen đánh thức không
gian tĩnh lặng của khu rừng Vrinda. Những cô gái chăn cừu không hề biết
đến người nghệ sĩ cũng như không biết tiếng nhạc vang đến từ đâu.
Có lúc tiếng nhạc như đến từ trái tim của cơn gió nam, có khi như nó
đến từ những đám mây trôi bàng bạc trên những đỉnh đồi. Nó đến
bằng thông điệp tình yêu từ nơi mặt trời mọc, rồi bồng bềnh trong
ánh hoàng hôn với tiếng thở dài của buồn đau. Những ngôi sao dường
như là những nốt lặng du dương ngập tràn trong những giấc mơ đêm. Tiếng
nhạc dường như tung hoang tứ phía, từ những cánh đồng và những khu rừng
nhỏ, từ những ngõ hẽm tăm tối và những con đường hiu quạnh, từ bầu
trời xanh trong ngọt ngào, từ giọt sương lung linh trên cỏ. Họ không biết
ý nghĩa của tiếng nhạc cũng như không nhận ra lời ca đang thố lộ ước
vọng của trái tim họ. Lệ tràn trong mắt họ, và cuộc sống của họ dường
như mong mỏi một cái chết trong sự toàn mỹ .
Shekhar đã quên mất thính giả của mình, quên mất một cuộc
tranh tài với địch thủ. Chàng đứng một mình giữa những dòng suy tưởng
như những chiếc lá trong cơn gió mát mùa hè đang lay động và thôi thúc
chàng, chàng cất tiếng hát Bài ca của Cây Sáo. Trong tâm tưởng chàng là
ảo ảnh của một bóng hình và tiếng vang vọng leng keng của một gót
chân ngọc ngà từ xa.
Chàng ngồi xuống. Thính giả của chàng chìm đắm trong nỗi
buồn, trong cảm xúc dạt dào vô định, mênh mông và mờ ảo, họ đã
quên vỗ tay cho chàng. Khi cảm xúc ấy đã lắng dịu xuống, Pundarik đứng
lên phía trước điện ngọc và thách thức đối thủ của mình xác định
ai là Người Yêu và ai là Kẻ Được Yêu. Y ngạo nghễ nhìn quanh, mỉm cười
với những môn đệ và đặt câu hỏi một lần nữa: "Ai là Krishna, người
yêu và ai là R⤨⬍ người được yêu?"
Thế rồi y bắt đầu phân tích ngọn nguồn, cội rễ của
những cái tên này_ bằng những diễn dịch rối rắm cho ý nghĩa của chúng.
Y phô diễn trước đám thính giả đang hoang mang tất cả những sự rắc rối
phức tạp của những trường phái trừu tượng khác nhau bằng một kỹ xảo
lọc lõi. Mỗi chữ của cái tên, y phân tích những liên hệ của chúng,
và áp đạt chúng bằng một lô gíc tàn nhẫn đến khi chúng rối rắm mờ
mịt, rồi tung hứng chúng lần nữa tạo nên một ý nghĩa không giống như
ban đầu, bằng trò ảo thuật chữ nghĩa. Các học giả ngẩn ngơ, họ vỗ
tay vang dội, và đám đông vỗ tay theo, bị đánh lừa tin chắc rằng hôm
đó họ đã chứng kiến mảnh vụn cuối cùng của những tấm rèm Chân lý
đã bị xé vụn trước mắt họ bởi một con người thông tuệ phi thường.
Sự trình diễn kỳ công quá ư vĩ đại kia đã làm họ quá vui thích đến
nỗi quên tự hỏi rốt cuộc có một chân lý nào nằm sau đó hay không?
Tâm trí nhà vua choáng ngợp bởi ngạc nhiên. Những ảo
giác của không gian âm nhạc giờ đã bị xóa nhòa; và thế giới chung
quanh dường như đã thay hình đổi dạng; từ sắc màu xanh non tươi mượt
mà đã chuyển sang vẻ cục mịch của một con đường bằng phẳng, và
thô cứng với những tảng đá xộc xệch.
Trước đông đảo mọi người, nhà thơ của họ giờ đây
trông như một cậu bé con so với con người khổng lồ, con người này đã
bước đi những bước thoải mái, mỗi bước chân san bằng cả thế giới
của ngôn từ và ý tứ. Lần đầu tiên họ thấy rõ ràng những bài thơ
Khekhar đã viết thật đơn giản và ngớ ngẩn, chỉ có điều là họ
không viết cho chính mình. Những bài thơ ấy không có gì mới mẻ, không
khó khăn, không uyên thâm và cũng không cần thiết.
Nhà vua cố khuyến khích thi nhân với những ánh nhìn sắc
nhọn, lặng lẽ động viên chàng hãy nỗ lực lần cuối. Nhưng Shekhar không
bận tâm và vẫn ngồi yên vị.
Nhà vua bước xuống bệ ngọc trong cơn giận dữ; cởi lấy
xâu chuỗi kim cương và quàng lên cổ Pundakik. Mọi người trong đại sảnh
reo vang. Một âm thanh nhẹ nhàng của xống áo lay động, của những sợi dây
chuyền đính những chiếc chuông vàng phát ra từ phía trên ban công. Shekhar
đứng dậy và rời khỏi đại điện.
Trời đêm tối sẫm vầng trăng khuyết. Nhà thơ Shekhar lấy
những bản thảo từ trên những chiếc kệ xuống và chất đống trên sàn
nhà. Trong đó có những trang viết đầu tay mà chàng đã gần như quên
lãng. Chàng dở từng trang, đọc đôi chỗ. Với chàng, dường như tất cả
đều là những vần thơ ấu trĩ với những ngôn từ tầm thường và
xoàng xĩnh!
Chàng xé quyển sách thành từng mảnh lần lượt ném vào
lò lửa và nói: "Tặng mi đấy, chà, người đẹp của ta, ngọn lửa của
ta! Mi vừa đốt cháy trong trái tim ta tất cả những năm tháng phù phím
này. Nếu đời ta là một mẩu vàng nhỏ nhoi sự ra đi của nó sẽ còn đọng
lại ánh sáng, nhưng nó chỉ là một đám cỏ rạp, nên chẳng có gì để
lại ngoài một nhúm tro tàn"
Màn đêm buông phủ. Shekhar mở rộng cửa sổ. Chàng phủ
lên giừơng những đóa hoa trắng chàng vốn yêu thích, đó là những bông
hoa nhài, hoa huệ và hoa cúc, rồi mang tất cả những ngọn đèn vào phòng
ngủ thắp sáng lên. Thế rồi chàng trộn mật ong với nước ép của một
vài loại rễ độc uống lấy và nằm xuống giường.
Những vòng cổ chân bằng vàng leng keng trên hành lang ngoài
cửa, một mùi hương huyền ảo theo gió tràn vào phòng. Nhà thơ, mắt vẫn
nhắm, cất tiếng nói:
"Nữ Chủ nhân của tôi, vì thương hại kẻ tôi tớ
mà cuối cùng nàng hạ gót đến thăm hay sao?"
Một giọng ngọt ngào trả lời: "Chàng thi sĩ của em,
em đã đến đây"
Shekhar mở mắt ra _và chàng thấy trước giừơng mình một
bóng hồng. Mắt chàng mờ đi. Dường như, vào giây phút cuối cùng của cuộc
đời, chàng trông thấy ảnh hình của một bóng dáng từ lâu vẫn ngự trị
trong trái tim nay bước ra thế giới bên ngoài và nhìn đắm đuối vào
khuôn mặt chàng.
Người đẹp nói: "Em là công chúa Ajita"
Nhà thơ gắng sức ngồi dậy trên giừơng.
Công chúa thì thầm vào tai chàng. "Vua cha đã không
công bằng với chàng. Chỉ có chàng mới giành chiến thắng, thi sĩ của em
ạ, em đến để trao cho chàng vòng hoa chiến thắng"
Nàng lấy vòng hoa từ cổ mình, đặt lên tóc chàng, thi sĩ
ngã xuống và từ giã cõi đời.