>>>Văn Học

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
 
OLIVER STONE VÀ CẢM THỨC CỦA CỰU CHIẾN BINH HOA KỲ
[Viết trong một đêm với nước mắt, sau khi hai lần coi cuốn phim 'Platoon']
Nguyễn Văn Hóa

"... We thought they were pretty tough and skills and mean. We didn' t like 'em. We want to kill 'em, because they want to kill us. There were no thinking about it ..."

 

Câu trích dẫn trên là lời phát biểu của Oliver Stone khi được nhà văn Marc Cooper hỏi về cảm tưởng của ông đói với "kẻ thù người Việt" ( bài phỏng vấn đuợc đăng tải trên tạp chí Playboy số tháng 2/ 1988 ).

Oliver Stone hẳn không xa lạ gì với người Việt hải ngoại, kể cả giới ghiền xi nê người Mỹ, không phải vì cuốn phim 'Platoon' đã thu về số tiền 138 triệu đô la, mà bởi cuốn phim đã tạo một âm vang mơí: lương tâm con người nhìn về cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã qua.

Về nghệ thuật phim, người ta khó phủ nhận những ưu điểm của nó. Nhưng thực chất nội dung cuốn phim đã gây nên hai khuynh hướng khác nhau trong giới cựu chiến binh Mỹ. Đó là chưa kể tới sự có mặt của hàng vạn cựu quân nhân chế độ VNCH cũ ở nước ngoài đã khó chịu, vì như cuốn phim đã bỏ quên 'vai trò' chiến đấu, sự hy sinh gian khổ của chính họ. Sự suy nghĩ như vậy là chính đáng, nhưng khả năng 'phối hợp chính trị' vào nghệ thuật điện ảnh của Oliver chỉ có giới hạn.

Dư luận trong giới cựu chiến binh 'cánh hữu' Mỹ gồm một số sĩ quan và các binh sĩ thuỷ quân lục chiến - cho rằng, họ chẳng bao giờ giết hại dân làng, không dùng ma tuý và chưa từng giết đồng đội; như vậy là cuốn phim chẳng 'chơi đẹp' chút nào cả. Trong khi đó, lời phê bình của giới 'cánh tả' cho rằng cuốn phim đã không nói lên được nguyên nhân cuộc chiến - một hình thái của 'chủ nghĩa đế quốc' , rằng Oliver đã không chịu chống lại lại còn tuyên dương hành động hiếu chiến của quân đội Mỹ đương thời.

Những lời bình phẩm như vậy đúng hay không phải chờ tới 'phút nói thật' của Oliver, người ta mới nhìn thấy vấn đề rõ hơn. Và Oliver Stone đã nói thật.

'We want to kill' em, because they want to kill us. There no thinking about it', Oliver đã nói đúng ý nghĩ của chính mình hai mươi năm về trước khi trực diện với các cán binh, bộ đội Cộng sản. Đó là quy luật của chiến tranh, nói đúng hơn là quy luật của hai kẻ thù ở bãi chiến trường. Tất nhiên, đó cũng là cảm tính của thời kỳ ướm-nở-tuổi-thanh-xuân. Năm 19 tuổi, Oliver đã từng dạy học cho một trường Catô ở Sài Gòn (1965). Năm kế đó cất bước giang hồ khắp nẽo, đọc nhiều tác phẩm lãng mạn. Có lúc Oliver ở trong trạng thái muốn tự tử, để rồi năm 23 tuổi (1967) trở lại Việt Nam. Lần này, Oliver đã lăn mình vào một kinh nghiệm đau thương nhất trong đời của một thanh niên Mỹ.

Cha là một người Do Thái buôn bán thị trường khoán giàu có ở Nữu Ước. Mẹ là một người Pháp theo đạo Thiên Chúa. Hoàn cảnh gia đình đủ đảm bảo cho Oliver một thời thơ ấu sum túc, phủ phê. Nhưng sau khi giã từ vũ khí ở chiến trường Việt Nam trở về quê cũ, Oliver theo học đại học Yale, ông lại bỏ học. Thêm lần nữa thực hiện ý chí tự do - một mẫu người độc lập và tự tin.

Kể từ 1978, Oliver bắt đầu đi vào thế giới của Hollywood với vai trò của một người cộng tác. Nào 'Midnight Express', 'The Hand', 'Scarface', 'Year of Dragon' ... rồi 'Salvador' và sau đó là 'Platoon'- một bước ngoặc trong sự nghiệp điện ảnh của Oliver. 'Platoon' là cuốn phim ông đã thực hiện từ A cho tới Z. Hãy nghe Oliver phát biểu về động lực thúc đẩy ông làm cuốn phim này "Tôi đã từng nói chuyện với mấy cậu lính Mỹ ở Honduras. Mẹ kiếp, các cậu chẳng nhớ chút gì về Việt Nam. Phải la lớn lên, này các chú bé con, chiến tranh thật sự đã xảy ra như thế này đây !". Đó là lý do tại sao tôi làm cuốn phim 'Platoon'. Có thể nói cuốn phim đã đánh dấu giai đoạn trưởng thành về lý trí của Oliver Stone.

Cuộc chiến tranh Việt Nam trước đây đã để lại một số hệ lụy cho các vấn đề chạy tội, biện minh, kết án... ở phía Việt cũng như Mỹ. Đơn cử hai thí dụ điển hình là cuốn sách 'Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập' của Nguyễn Tiến Hưng và bài báo 'Remembering Vietnam' của H.J. kaplan [Tạp chí Commentary, số tháng 12/87]. Một bên là viên chức cao cấp của cựu tổng thống Thiệu trong những năm đầu thập niên 70; một bên là cố vấn cho tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn trong những năm giữa thập niên 60.

Sau khi ấn bản tiếng Việt cuốn sách của giáo sư Hưng ra đời thì cường độ của dư luận về sự 'buộc tội' cựu TT Thiệu đã xác tín một lần nữa. Dầu cho ông Hưng có biện minh thế nào đi nữa qua sự 'vô tư, khách quan' của mình, ông Hưng không thể nói khác hơn cuốn sách đã xoay quanh chủ đề về những hứa hẹn bí mật của tiến sĩ Kissinger và Richard Nixon với cựu TT Thiệu trong mong ước đạt được sự đồng ý của chính phủ ông qua Hòa đàm Pa-ri 1973. Và dù cuốn sách ấy có tung ra những tài liệu 'mật' cách mấy, cũng không thể quên dữ kiện người cộng tác - Jerrold Schecter, một nhà báo chuyên nghiệp, phụ trách mục Đông Nam Á Châu cho tuần báo Time, người đã từng phục vụ trong 'dinh' Cố vấn An ninh thời chính phủ Carter. Hẳn nhiên, những sự liên hệ giữa hai 'dinh' về nguồn tài liệu mật quốc gia không xa cách nhau là bao.

Người ta thường ví von ông Thiệu là một người làm chính trị 'khôn ngoan', bởi vì trong suốt mười hai năm lưu lạc ông đã không xuất hiện trước đám đông, không tuyên bố những câu hớ hênh. Họ đã gán cho ông Thiệu cái vỏ huyền thoại 'con nguời chính trị'. Thực tế, ông Thiệu đã đi đây, đi đó, đã từng tuyên bố này nọ. Thí dụ: năm 1979, ông đã trả lới một cuộc phỏng vấn của tờ nhật báo Đức 'Der Spiegel' rằng 'Những gì mà Kissinger và chính phủ Hoa Kỳ thật sự mong muốn là rút quân càng mau càng tốt, để bảo đảm cho việc phóng thích các tù binh Mỹ. Họ (Mỹ) nói muốn có một giải pháp trong danh dự, nhưng thực ra họ muốn phủi tay và... cuốn chạy'. Hẳn mọi người còn nhớ vào những ngày giữa tháng tư năm 1975, ông Thiệu đã đọc một bài diễn văn dài trên tivi ở Sài Gòn. Có lẽ vì tháu cáy qua các trạng huống dồn dập xảy ra, có đoạn ông nói ...'Chúng ta (chỉ quân đội VNCH) đang đánh nhau với thằng Nga, thằng Tàu, chớ đâu có phải đánh nhau với thằng Việt Cộng...' Trong quãng cách bốn năm đánh dấu ngày mất quyền và thời gian lưu lạc, ông Thiệu đã lập lại cùng một ý duới hai hình thức diễn đạt khác nhau. Ý nghĩa của nó chỉ là sự bộc lộ tính chất bi thảm nhất của một nạn nhân, nhưng vẫn chưa ý thức được thân phận của mình.

Ở vai trò của một 'công bộc', không thể nào trách ông Hưng được!. Ông đã thể hiện được tinh thần 'trung nghĩa với chủ'. Về mặt nhân cách, so với các viên chức cao cấp của ông Thiệu, ông Hưng còn hơn hẳn một số người. Thí dụ như Hoàng Đức Nhã. Trong những tháng ngày nào đó của năm 1973, ông Nhã thường xuất hiện trước truyền hình - trả lời phỏng vấn, đọc tham luận... luôn luôn nói tiếng Mỹ với thái độ hết sức kiêu hãnh. Sự kiện này đã xác nhận lời phê bình của ông Hưng về ông Nhã là con nguời 'lấc cấc kiểu thiếu niên Mỹ'.

Ông Hưng đã mặc nhiên biện hộ cho sự sụp đổ của VNCH, và gián tiếp cho người nhận trách nhiệm 'trực tiếp' của sự thảm bại là ông Thiệu. Trong khi đó, H.J. Kaplan, một nhân viên cao cấp, cố vấn cho tòa Đại sứ Mỹ đương thời lại cố biện hộ cho danh dự của 'nước' Mỹ. Ông Kalplan nói "Chẳng bao giờ có một ông Paul Mus-kiểu-Mỹ [một nhà xã hội học Pháp- từng cố vấn cho chính quyền thực dân, tác giả cuốn sách giá trị 'Viet Nam, sociologie d'une guerre'], vì lẽ đơn giản chúng ta chẳng 'thích thú' gì đến người Việt". Dẫu không 'thích thú' gì, nhưng chính phủ Mỹ đã lún sâu vào một quyết định sai lầm, và cuối cùng họ đã trút bỏ mặc cảm của một hình ảnh tội ác do chiến tranh gây ra. Kaplan đã giải thích cho sự trút bỏ đó "Đối với người miền Nam (VNCH) cái 'lõi của vấn đề' là họ đã không hiểu được quyền lợi của người Mỹ". Những nhân vật 'có lẽ' là cao cấp của VNCH, ông đã từng gặp ở Sài Gòn, rồi Pa-ri, đã từng làm cho ông Kaplan kinh ngạc bởi 'sự ngu dốt của họ đối với thế giới chúng ta' [Ý ông Kaplan ám chỉ thế giới Tây phương nói chung].

Trong suốt 17 trang báo với những dẫn chứng, lý giải, biện bạch... cuối cùng ông Kaplan đã dứng trên cương vị của một công dân Mỹ để nhắn nhủ với người Mỹ 'Ký ức, dù đau đớn, cũng là điều hay. Raymond Aron, bạn cũ của tôi thường nói - Lịch sử, sau cùng chỉ là một dạng của ký ức. Nó không thể giúp chúng ta giải quyết vấn đề thực tại. Chúng ta chẳng học hỏi được gì, ngoài tự tính của lịch sử (?)... Nhưng nghỉ về quá khứ chẳng phải là điều vô ích. Phải biết chọn lựa những gì để nhớ, những tiến trình đó đã xảy ra như thế nào, qua đó chúng ta sẽ trưởng thành'.

Ngôn ngữ của Nguyễn Tiến Hưng, Kaplan... chỉ phản ánh cho giới hay mặc đồ lớn, cổ thắt cà vạt, tay xách chiếc cặp da dày cộm. Phải kể đến tâm thức của của những 'tâm hồn lớn', những xúc động và phẩn nộ của Oliver Stone, của Phan Thu Trước...,của những thanh niên Việt Nam tài hoa đã chết, của hàng vạn thương binh tàn phế của ba phía: Việt Cộng, VNCH và Hoa Kỳ.

Sĩ quan VNCH Phan Thu Trước, trước khi tự sát chết trong chiến tranh đã để lại tâm thức mình qua hai câu thơ:

'Chúng ta không chia cách bởi một giòng sông,
Mà bởi những con tàu xa xa ngoài Nam Hải'...
[trích từ 'Đoạn đường chiến binh' của Thề Uyên].

Những 'con tàu xa xa ngoài Nam Hải' ấy, với Oliver Stone đã tạo nên một cuộc chiến tranh 'vô luân, phi chính nghĩa' mà Johnson đã đẩy hàng vạn thanh niên Mỹ 'nghèo và thất học' vào con đường chết chóc và hủy hoại.

Phút nói thật của Oliver sẽ làm ói máu những nhà thiết kế chính sách Mỹ, khi ông cho biết có khoảng chừng 20 phần trăm trong số binh sĩ Hoa Kỳ tử trận vì tai nạn, đồng đội giết nhau, không phải chết từ chiến trường ! Phim 'Platoon' đã mô tả rõ nét tính chất cực kỳ bi thảm này.

Oliver Stone đã thiết nghĩ tập thể cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là những nạn nhân của một ý thức hệ 'Chiến tranh lạnh' xuẩn động. Phải rồi, nhưng phải nói thêm, tất cả 'chúng ta' là tập thể khổng lồ, nạn nhân của lịch sử. Hậu quả đau đớn từ cuộc chiến tranh đó, không phải chỉ là những người đã chết (Mỹ chết 5 vạn, VNCH và VC chết hơn nữa triệu, chưa kể tới hàng triệu dân lành, nam, phụ, lão, ấu...vô tội đã chết một cách tức tưởi); cũng không phải con số 1830 lính Mỹ được liệt kê mất tích ở Việt Nam, 560 ở Lào, 100 ở Cam-pu-chia; mà chính là vấn nạn bi thảm của thực tại. Theo thống kê của Văn Phòng Kế Toán chính phủ (General Accounting Office), năm 1978 có chừng 125 ngàn cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam đã nằm trong nhà tù khắp nước Mỹ. Vậy, chúng ta có quyền kể thêm gần một triệu thương phế binh của cả hai bên VNCH, VC tật nguyền, bệnh hoạn đau đớn từng ngày. Hàng triệu sự thương nhớ dày vò bởi mất cha, mất chồng, mất con, mất anh em... hàng ngàn trẻ thơ bị điếc bởi trận bom Giáng Sinh năm 72. Hiện nay, trên đất nước hàng ngày vẫn có người chết dài dài bởi mìn bẩy và đạn dược khắp các cánh đồng, rừng núi do quân đội Mỹ để lại. Sự hủy hoại cơ thể trong các cơ năng tế bào của lính Mỹ lẫn lính Việt do tác hại của chất độc 'Da cam' vẫn còn tồn tại. Kể ra sẽ còn nhiều nữa... Hậu quả đau thương đó phải đánh thức lương tâm của con người.

Cuốn phim 'Platoon' đã làm Oliver trở thành một triệu phú. Biết đâu trong tương lai, phim 'Born in the 4 July' sẽ làm ông trở thành tỷ phú. Giờ đây triết lý sống của Oliver là một mẫu mực 'Flaubert' [tác giả 'Madame Bovary']: sống một đời trưởng giả và một tư tưởng kích động. Sự kích động ấy đã biểu lộ qua những lời phê bình, sát sự sai lầm chính sách của chính quyền Mỹ đã có trong quá khứ, cũng như hiện tại. Đối với Oliver, hòa bình kiểu Mỹ - Pax Americana là dấu hiệu của đồng Đô la. Hình ảnh các nhà doanh thương Mỹ ăn mặc theo kiểu Tô Cách Lan, uống ruợu Whiskey, chạy lòng vòng khắp thế giới tìm lợi nhuận trông chẳng đẹp đẽ gì, nhưng dù sao nó lại làm nên chuyện !. Đã đến lúc người Mỹ phải học hỏi sự thông minh của người Nhật, người Anh, người Đức. Sự thông minh đó là hãy mang lại nền giáo dục, y tế và đời sống tốt đẹp cho phần còn lại của toàn cầu. Trong cuốn 'Tự Truyện' (Lee Iacocca - Autobiography), sau khi phân tích lý do suy thoái của nền kinh tế Mỹ và để kích động cho tinh thần thi đua của công dân Mỹ, có đoạn ông viết 'If you want to become good American, you have to beat Japanese'. Vậy, ở cương vị của người Việt, chúng ta có thể nói 'If you want to become good American, you have to help Vietnamese !'. Có lẽ đó cũng là cảm thức mới của cựu chiến binh Hoa Kỳ.

Tháng 2/1988
[Viết để quên ngày 30/4/75]
Nguyễn Văn Hóa

  home.gif (583 bytes) top.gif (471 bytes)


© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hoa63@hotmail.com
. ..........