THẦY TÔI
TRONG CÕI GIÓ TRĂNG
Cao Huy Thuần
[đăng lại từ
website Khuông Việt - các bạn click vào hàng này để vào trang KV]
Tưởng niệm Thầy tôi, Hòa Thượng
Thiện Siêu
Từ bao giờ Thầy là thầy của
tôi? Lúc nhỏ, tôi đâu dám bước chân vào chùa Từ Ðàm to lớn thế?
Chùa của tôi lúc đó là Kim Tiên, nơi tôi thường theo mẹ tôi đến thắp
hương trên mộ những người thân. Lên Kim Tiên phải đi qua Từ Ðàm, nhưng
đó là thế giới của "các bác", của "giảng đường", của
"ban trị sự", không phải thế giới của tôi, đứa bé đi chùa chỉ
cốt làm vừa lòng mẹ.
Bỗng nhiên tôi nhảy vọt một bước
từ bờ bên này qua bờ bên kia. Chưa là "bác", tôi bỗng thấy
mình được ngồi hầu trà các bậc Thầy lớn ở Từ Ðàm, lại còn được
ngồi cùng bàn trai tăng, ăn ké dĩa hột điều mà sau này tôi mới biết
là món ăn quý của các thầy ở Huế, dù chỉ là trái cây ướp muối. Buổi
tối, trời nóng, tôi được ngồi góp chuyện với các bậc trưởng thượng
ngoài sân, ngồi khá gần để "dạ" và "thưa" nhưng khá xa
để không dám hưởng làn gió mát cực lạc từ cánh quạt của chú tiểu
đứng hầu sau lưng.
Như vậy Thầy là thầy của tôi từ
thuở Từ Ðàm là trái tim của Phật giáo hồi sinh? Chắc cũng chưa phải,
bởi vì Thầy tôi hiền hòa, ít nói, mà thời thế lúc đó đòi hỏi một
cặp mày quắc thước, một giọng nói sang sảng. Thành phố lúc đó ào ào
tiếng quân đi, ngựa hý; Thầy tôi như người ngồi vót tre giữa đường:
có ai từng thấy người ngồi chẻ lạt mở miệng nói chuyện phiếm bao giờ
đâu? Người chẻ lạt rành nghề nhắm mắt vuốt tre cũng đưọc, nhưng
bao giờ cũng chăm chú như để hết tâm can vào đường dao. Lúc đó, tôi
thích nghe tiếng ngựa hý hơn là ngồi nhìn đường dao của Thầy tôi chứ!
Vậy từ bao giờ Thầy là thầy của tôi?
- Ngự lãnh thanh phong, phất diện vấn thùy năng tác
Phật
- Bình tiền khô mộc, đãi nhân tri ngộ vị khai
hoa
Câu đối đó đâu phải dành riêng cho tôi!
Gió lành đỉnh Ngự phơ phất trên mặt hỏi
ai hay làm Phật
Cây khô non Bình chờ người tri ngộ để nở hoa
Thầy tôi nở hoa cho bao nhiêu người
tri ngộ, riêng gì mình tôi! Vả chăng, đêm qua cây hãy còn khô trước Ngự
Bình, mới ngủ qua đêm hoa đã trắng đầu núi. Hoa trắng lúc nào vậy?
Lúc nào Thầy là thầy của tôi? Nửa đêm hay đầu sáng?
Thầy tôi viết rất nhiều, chữ
nghĩa đầy bụng, nhưng ít nói chữ. Lần nào về nước tôi cũng ước
mong được học thêm vài chữ, nhưng chưa bao giờ được đọc chung một
trang sách với Thầy tôi. Thầy ít nói, trò cũng lây tánh thầy. Nhưng hễ
Thầy tôi nói chữ nào là tôi ghim chữ nấy kỹ lắm. Có lần ngồi ăn bên
cạnh Thầy, tự nhiên Thầy nhắc đến một ông tác giả nào đó bên Mỹ
viết cả trăm trang sách để chỉ trích Phật gíáo chủ trương diệt ngã.
Tôi có đọc loáng thoáng đâu đấy rồi chẳng để ý làm gì mất công.
Nghe Thầy nhắc, tôi chợt lúng túng, chưa biết trả lời thế nào, ngồi
chờ Thầy nhai xong miếng cơm. Xong, Thầy gác đũa, nói: "có ngã đâu
mà diệt?" Tôi vỡ lẽ, thấy mình sao mà dốt thế, loay hoay làm gì
cho mệt! Tôi thường học với Thầy tôi những chuyện như thế. Nhưng có
gì là chữ nghĩa bác học đâu!
Huống hồ Thầy tôi ăn nói rất
bình dân. Sự thực, Thầy không nói "có ngã đâu mà diệt?". Thầy
nói: "ngã mô mà diệt?" Chuyện triết lý mà cứ nghe như chuyện
trái bí trái bầu. Chữ "mô", tuy vậy vẫn còn văn minh; Thầy
tôi còn dùng nhiều chữ đặt sệt nhà quê hơn nữa. Có lần tôi hỏi:
thì giờ đâu mà Thầy dịch cả bộ luận Ðại Trí Ðộ mấy ngàn trang như
vậy? Thầy nói: "rảnh khi mô mần khi nấy". Rảnh lúc nào
làm lúc đó. Chữ làm, nghe đã diễu rồi, giống như khi có ai đến
nhà chơi giữa bữa cơm, chủ nhà mời: ăn chưa, làm một chén nhé! Từ
làm đến mần, không những quê mà còn nghịch. Dịch mấy ngàn
trang chữ Hán mà dỡn như vịt lội dưới ao.
Những chữ địa phương bình dân,
quê mùa như vậy, Thầy tôi đưa luôn vào văn chương. Giữa chùa Từ Ðàm
văn học, khách vào giảng đường gặp ngay hai câu đối:
- Một chút giận, hai chút tham, lận đận cả đời
ri cũng khổ
- Trăm điều lành, nghìn điều nhịn, thong dong tấc
dạ rứa mà vui
Ðưa tôi vào đạo Phật như thế
với nụ cười tủm tỉm, Thầy tôi đâu cần mở trang sách nào dạy tôi?
Vậy từ bao giờ Thầy là thầy của tôi? Từ khi tôi bườc chân vào giảng
đường chùa Từ Ðàm?
Có hai lần trong đời tôi được
đứng sau lưng Thầy tôi để hướng về Phật. Lần thứ nhất là khi Thầy
đến nhà thắp hương cho thân phụ tôi. Thầy quỳ xuống niệm hương rất
lâu, lâu như một tiếng chuông ngân, ngân mãi, ngân xa, xa mãi, không bao giờ
dứt. Tôi thương Thầy tôi nên cùng đi theo Thầy trong tiếng chuông, đi mãi,
đi xa, xa mãi, như không dừng. Lần thứ hai, tôi đứng sau lưng Thầy niệm
Phật trước khi bắt đầu giảng bài ở Học Viện. Tôi thương Thầy tôi
nên cùng đi theo Thầy trong tiếng nam mô, theo mãi, theo xa, xa mãi, chỉ còn
nghe gió thoảng trên mái hiên trống.
- Tục đoạn khởi thần chung thức đắc triêm trần
bất trước nhãn
- Vinh khô thành mộng huyễn giác lai thế giới tổng
duy tâm
Mở tiếng chuông, khi dứt nối
một mảy bụi trần không dính mắt. Hiểu được cảnh đầy vơi là mộng
huyễn thì biết rõ ràng thế giới chỉ do tâm. Ðố ai thấy một hạt bụi
nào vướng trong tiếng chuông ngân. Tôi nói thấy, chứ không nói
nghe, bởi vì lắng nghe theo chuông ngân, rõ ràng ta thấy tiếng chuông đi
xa. Ðó là cái thấy mà tôi không dùng với mắt, và tôi biết chắc
rằng ai cũng có thể thấy như vậy, chỉ cần đi theo tiếng chuông và đừng
nghĩ gì khác. Và cũng vậy, ai cũng có thể đi theo hình ảnh một cành cây
vơi lá giữa mùa đông, một cành cây đầy lá giữa mùa xuân, đi theo mãi,
đi xa nữa, đi tận cùng vào bên trong từng thớ vỏ, đường gân. Trong
cành khô đó, bao nhiêu xao động, bao nhiêu giọt sữa, giọt nhựa, giọt mầm,
ai bảo nó khô? Trong cành tươi kia, kìa, một chiếc lá run rẩy, một cánh
hoa úa màu, ai bảo nó tươi? Trong vài ngày, trong vài tuần, màu xanh sẽ
nhú ra trên cành khô: nó khô bao giờ? Trong vài đêm, trong vài sáng, cành tươi
kia sẽ không còn chiếc lá, vẫn nó đấy nhưng đâu là tươi? Với con mắt
bên ngoài, ai cũng nói tươi khô. Ðứng sau lưng Thầy tôi, đi theo tiếng
chuông với con mắt bên trong, tươi khô chỗ nào? Ðang tươi là khô, đang
khô là tươi, Thầy tôi bảo tươi khô chỉ là một, không khác. Giá thử
có ai cho mình viên thuốc thần, chui vào chăn ấm đánh một giấc chẵn một
mùa đông, khi chui ra khỏi chăn, chắc chắn nhánh hoa lê vẫn điểm ba cánh
trắng bên cửa sổ trong hây hẩy gió xuân. Có bao giờ hoa khô, có bao giờ
hoa tươi?
Thầy tôi triết lý viễn vông chăng?
Ðâu có! Khi tôi đi theo được tiếng chuông, tiếng nam mô, đi theo cái tươi
đang khô, cái khô đang tươi, tôi không còn thấy tôi. Không phải lúc nào
tôi cũng thành công đâu nhé! Nhưng đứng sau lưng Thầy tôi thì tôi không
thấy tôi. Những lúc như thế, tôi nhẹ nhàng lắm, có chuyện gì bực cũng
quên. Thầy tôi bảo: ai quên được mình trong một phút, phút đó là niết
bàn, vô ngã là niết bàn. Thầy tôi nói thêm: mình là người thường,
cho nên trong một ngày mình chỉ được một phút, vài phút niết bàn, còn
đức Phật, ngài không biết có ngài nên ngài niết bàn không cùng không tận.
Triết lý gì đâu, an vui đấy thôi! Có lẽ cành cây tươi kia cũng biết thế
chăng? Có lẽ nó biết nó là mặt trời, nó là nhựa đất, nó là hơi
sương, nó là tia nắng, nó là giọt mưa, nó là tất cả những yếu tố đó
họp lại chứ tự nó chẳng có cái gì là nó cả, cho nên nó mới óng ả
mùa xuân như thế. Nó niết bàn đấy! Mai mốt, lá rụng, hoa rơi, cây trụi,
cành khô. Ðể làm gì? Ðể quên mình, để cho mình, để mất mình, để cành
khô mới có chỗ đón tuyết tặng áo bông. Nó lại niết bàn! Từ bao giờ
Thầy là thầy của tôi? Từ khi tôi học được niết bàn trong vụn vặt
đời sống thường ngày chăng?
Nhưng con người không phải là đóa
hoa nên tôi lại phải triết lý vặt với Thầy tôi. Ðóa hoa nó chỉ nở,
chỉ phô sắc thắm. Nó không nói tôi nở, tôi phô sắc thắm.
Chuyện của nó làm là nở. Chuyện của giọt sương là long lanh. Chuyện của
gió là thổi. Chuyện của tia nắng là chiếu. Con người thì không thế. Thở
thì nói là tôi thở. Nghe thì nói là tôi nghe. Tôi thấy. Tôi nhìn đóa hoa.
Cái "tôi" nào nhìn đóa hoa vậy? Cái "tôi" nào mà khi vui
thì thấy hoa dường như biết cười, khi buồn thì thấy hoa như môi ai
héo? Một "tôi" hay hai "tôi"? Tôi bây giờ phất phơ đầu
bạc với tôi mấy chục năm trước tóc bềnh bồng vãng lai trước trường
Ðồng Khánh là hai "tôi" hay một? Một làm sao đươc, vì ôi thôi
dâu biển quá chừng. Nhưng ai phán đoán vậy? Cái "tôi" nào phán
đoán rằng "tôi" này khác với "tôi" kia?
Xuân Diệu có một câu thơ mà tôi
thích từ trẻ:
- Bâng khuâng chiều ngẩn ngơ chiều
- Lòng không sao cả hiu hiu sẽ buồn
Có lẽ ý của câu thơ chỉ muốn
diễn tả nỗi buồn man mác, nhẹ nhàng, vô cớ, thứ buồn lãng mạn mélancolique
đặc biệt trong thơ văn Pháp thế kỷ 19 mà Xuân Diệu chịu ảnh hưởng
đậm đà. Có lẽ chỉ thế thôi, nhưng câu thơ quá đẹp về ngôn ngữ và
âm điệu nên tôi muốn lồng trong đó một ý nghĩ rất chủ quan. Ai "bâng
khuâng", ai "ngẩn ngơ"? Thi sĩ ưa nhân cách hóa sự vật nên
có thể giải thích chính buổi chiều bâng khuâng, buổi chiều ngẩn ngơ:
buổi chiều ngẩn ngơ chính buổi chiều. Giải thích như vậy thì buổi chiều
có tâm hồn, buổi chiều nhìn chính mình, nhìn tâm hồn mình. Nhưng giải
thích như vậy e thi vị hóa câu thơ nhiều quá. Kẻ "bâng khuâng"
và "ngẩn ngơ" là người, là con người nhìn buổi chiều.
"Bâng khuâng" và "ngẩn ngơ" như thế sao lại nói
"lòng không sao cả"? Tôi cũng biết câu thơ có thể chỉ nói lên một
tâm trạng thường tình thôi: lòng không có chuyện gì buồn, nhưng buổi
chiều bâng khuâng khiến buồn buồn. Nhưng tôi vẫn muốn tra khảo câu thơ:
Lòng ai không sao cả? Ai hiu hiu sẽ buồn? Hai "tôi" hay một?
Một "tôi" phơn phớt bên ngoài, một "tôi" dễ lay động bên
trong?
Tôi ưa ca hát nên muốn mượn một
câu hát để nói thêm về câu thơ. Câu hát của Trịnh Công Sơn mà tôi thường
nghêu ngao khi nhớ đến thơ Xuân Diệu:
- Lòng thật bình yên mà sao buồn thế
- Giật mình nhìn tôi ngồi hát bao giờ
Câu hát đầu gợi ý câu thơ thứ
hai: lòng thật bình yên mà buồn. Nhưng câu hát thứ hai thì làm rõ ý tôi
muốn nói. Ai giật mình? Ai nhìn? Ai nhìn chính tôi?
Nói rằng tôi giật mình nhìn tôi thì cũng được thôi. Nhưng tôi nghĩ câu
hát có ý nghĩa cao hơn thế. Có hai "tôi" trong đó. Một
"tôi" giật mình, nhìn. Một "tôi" đang ngồi hát nghêu ngao
bị "tôi" kia bất chợt nhìn. Cái "tôi" ngồi hát đã ngồi
đó hát từ bao giờ, có mặt ở đó như từ muôn kiếp trước. Cái
"tôi" kia, trong chớp nhoáng, giật mình khám phá ra.
Có lẽ tôi phải mượn chuyện thiền
để Xuân Diệu ở đâu đó đừng trách tôi chẽ sợi tóc làm tư. Thiền
sư Thoại Nham có thói quen nói chuyện với mình. Ông gọi ông như ta gọi vợ
con: "Thoại Nham ơi!". Rồi ông tự trả lời: "Ơi!". Thỉnh
thoảng lại gọi: "Thoại Nham đấy hả?" Lại tự trả lời: "Ừ!".
Mái chùa của ông bé như vỏ nghêu, vậy mà thỉnh thoảng ông cứ sợ lạc.
Mỗi lần cảm thấy lạc như thế, ông lại gọi: "Thoại Nham!" Và
lại ơi: "Ừ, đây rồi!". Hai người trả lời nhau chăng, hay là một?
Một phơn phớt bên ngoài, một thăm thẳm bên trong?
- Kim địa tòng lâm cô nguyệt quang hàm không tức
sắc
- Sơn đầu bảo sát quần loan thúy tỏa cổ do kim
- (Ðất báu nâng chùa, trăng rọi ánh vàng không tức
sắc
- Non cao ngưỡng Phật, núi phơi màu lục nay giống
xưa)
Trăng soi bóng mình trong nước,
vầng trăng trong nước có hay không có? Hai vầng trăng hay một vầng trăng?
Màu lục của núi nay giống xưa, vậy màu lục đó là một hay hai? Những
câu đối của Thầy tôi là những bài thơ thiền xinh như con bướm vừa
chui ra khỏi kén. "Nay giống xưa" là một hứng lớn trong văn học
thiền. "Giống xưa" là giống cái gì? Có cái gì cứ ở đấy mãi
hoài vậy? Mãi hoài như từ thuở mới sinh ra, từ khi núi là núi? Núi màu
lục kia cũng có cái "tôi" thăm thẳm của nó chăng? Nếu nó biết
nói, chắc thỉnh thoảng trong ngày nó cũng gọi nó đôi lần. "Núi
ơi!" Ai thử gọi đi, nó "ơi" cho mà xem. Không chừng nó biết
hơn ai hết cái "tôi" thăm thẳm trong tiếng "ơi" mà chúng
ta gọi là "khuôn mặt muôn thuở", là "bản lai diện mục",
là "Phật tính", là "chân như", là "không". Thoại
Nham gọi như thế để đừng lạc mất chính mình. Mỗi lần Thoại Nham thấy
mình là hai với Phật tính thì Thoại Nham khổ lắm, mà hễ thấy mình là
một với Phật tính thì nhẹ nhàng, vui vẻ, thong dong, bình yên, niết bàn.
Nhưng làm sao Thoại Nham trở thành một với cái núi màu lục nay giống xưa
của ông? Chỉ thế thôi: quên đi, mất đi, bớt đi, vơi đi cái
"tôi", cái danh gọi Thoại Nham hão huyền, bèo bọt, để nghe tiếng
"ơi" vọng ra từ chốn rỗng không của muôn đời.
Từ chốn rỗng không… Thầy tôi
viết mấy ngàn trang sách chắc cũng chỉ muốn dẫn tôi đến chỗ đó mà
thôi, cái chỗ có ông tiều phu thất học nghe một câu kinh mà ngộ đạo: "ưng
vô sở trú …". Ðừng để tâm đậu vào một chỗ nào cả. Tôi đố
ai khởi lên một ý gì mà không có cái "tôi" trong đó. Dù một ý
nghĩ không có chữ "tôi", cái "tôi" vẫn nằm ở trung tâm
điểm. "Hôm qua, cô Hồng Nhung hát hay quá" là: "tôi" nghe,
"tôi" thích, "tôi" thấy hay. Ðừng để tâm đậu vào chữ
"tôi", lòng đã bớt xao động rồi, nhưng ông tiều phu Huệ Năng
hiểu sâu hơn thế ngay khi nghe câu kinh. Ông hiểu: đừng để tâm đậu vào
một ý niệm nào cả. Thường ta nói: đừng bận tâm thì an vui. Nhưng làm
thế nào để đừng "bận tâm"? Ðừng suy nghĩ? Có giây phút nào
ta ngừng suy nghĩ đâu? Cắt đứt tư tưởng? Thử cắt đứt đi! Ý này dứt
thì ý kia nối, mãi mãi không ngừng, dẫn tâm đi lang thang. Cách hay nhất
là cứ để cho nó đi, nhưng đừng vướng vào nó, nhìn nó đi, biết nó
đi, nó đi đâu mình theo dõi nó, đừng để nó lừa. Thế là mình làm chủ
nó. Từ ngày tôi đau mắt, tôi cứ chơi cái trò đó với nó. Tôi đau mắt
phải, mỗi ngày phải điểm thuốc hai ba lần, mỗi lần cách nhau mười
lăm phút. Rồi thỉnh thoảng con mắt trái cũng đau, lại phải điểm thuốc
khác, ba bốn thứ thuốc không được lẫn lộn. Ban đầu, sợ nhầm mắt,
tôi phải bịt mắt trái. Nhưng sau tôi nghĩ: tại sao không nhân dịp này dỡn
với tâm mình chơi. Thế là tôi bắt chước Thoại Nham. Tay cầm bình thuốc,
mặt ngữa lên trời, tôi gọi: "Mắt phải ơi!" Tôi "ơi!".
Giọt thuốc rơi đúng bóc vào mắt phải. Mỗi ngày tôi vui chơi với Thoại
Nham như thế. Nhưng hễ tôi bận rộn một việc gì đấy, soạn bài, xem đá
bóng, giận vợ con, là cái giận, cái lo, cái hồi hộp, cái suy tư nó dẫn
tôi đi và tôi quên tuốt Thoại Nham thân mến của tôi cho đến khi giật mình
nghe giọt thuốc rơi phóc vào mắt trái.
Thầy tôi nghe tôi giảng giải "ưng
vô sở trú …" như thế này chắc sẽ lắc đầu ngao ngán. Nhưng riêng
tôi, mỗi ngày tôi sống hai ba lần cái giây phút đó, lúc tôi cầm bình
thuốc, ngữa mặt lên trời, hai ngón tay sẵn sàng ấn vào bình. Lúc đó,
tôi biết tôi đang giận, đang hồi hộp, đang lo, đang nghĩ đến đứa con
đi chơi khuya chưa về, đang bực mình vì ấm nước vừa sôi tràn lan trên
bếp, tôi biết hết, nhưng mặt tôi đã ngữa, tôi nhìn chúng như nhìn mây
trôi qua và tôi gọi: "Thoại Nham!". Rõ ràng tôi nghe tiếng "ơi!"
từ trong thăm thẳm của giọt nước rơi vào mắt. Tiếng "ơi!" từ
trong rỗng không.
Chắc tôi lại phải mượn chuyện
thiền để thưa với Thầy tôi rằng tôi càng ngày càng tin chắc, tin rõ,
tin như thấy trước mắt cái chỗ rỗng không đó. Chuyện như thế này:
ông sư già Câu Chi có cái thói quen lạ lùng là mỗi khi ai hỏi ông về Phật,
ông giơ ngón tay trỏ lên trời, không nói gì cả. "Bạch sư cụ, chân
lý cao nhất mà Phật dạy là gì ạ?" Giơ ngón tay. "Bạch sư cụ,
Phật với chúng sinh có khác gì nhau không ạ?" Giơ ngón tay. Chẳng ai
hiểu gì cả, nhưng ai cũng làm bộ hiểu, vì một ông thiền sư tăm tiếng
như thế chắc chắn nhất cử nhất động ắt phải có ý nghĩa sâu xa.
Ông sư già đi đâu, ngồi đâu, cũng có một chú tiểu theo hầu đàng sau.
Chú tiểu thấy thầy chỉ cần đưa ngón tay lên trời mà thiên hạ phục
sát đất, nên học thầy nhanh lắm, ai hỏi chuyện đạo chú cứ việc
đưa ngón tay lên trời. "Chú tiểu ơi, chú sắp thành Phật chưa?"
Giơ ngón tay. "Chú tiểu ơi, nam mô là gì vậy chú?" Giơ ngón tay.
Chú giơ ngón tay một hồi như thế thành quen, bây giờ đi đứng sau lưng
thầy, có ai hỏi thầy chuyện Phật, thầy giơ ngón tay mà trò ở đàng sau
cũng giơ ngón tay. Thế thì một hôm, thầy vô tình xoay lưng bỗng thấy trò
giơ ngón tay, bèn hỏi trò: "Chú hiểu đạo thật hả?" Trò thưa:
"Dạ thật". Thầy hỏi: "Phật là gì?" Trò giơ ngón tay. Thầy
chụp ngón tay, sẵn cây dao bên cạnh chặt trọn. Trò đau quá, vừa chạy vừa
ré. Thầy bắt lại, hỏi dồn: "Phật là gì?" Quen thói mất rồi,
trò giơ ngón tay. Nhưng ngón tay không có đó nữa. Chú tiểu ngộ.
Khi chú tiểu giơ ngón tay, chú ý thức
rằng ngón tay của chú có thật trong thế giới hiện tượng. Mà đúng là
có thật chứ! Khi chú tiểu giơ ngón tay đã bị đứt rồi, ngón tay không
có trong thế giới đó nữa, nhưng trong tâm chú tiểu, chú thấy rõ
ràng ngón tay rỗng không mà chú đang giơ. Trong khoảnh khắc, chú học chữ
không, chú học chữ có, và chú dạy cho tôi cái biết từ trong rỗng
không. Tôi có thể tưởng tượng ra một rỗng không như thế trong tâm một
người ngồi thiền đắc đạo khi vị đó đạt đến mức không để tâm
đậu vào một ý niệm gì cả. Chắc tôi sợ ngồi thiền trong kiếp trước
nên kiếp này tôi phải mang cái nghiệp đau mắt. Nhưng biết đâu có ngày
tôi điểm mắt mà ngộ đạo như ai, có ngày tôi thấy trong giọt thuốc
kia mông mênh một cõi trống không trong đó vầng trăng hiện ra trong vắt?
Cái trống rỗng đó, và niềm an
vui trong đó, đố ai nói được nên lời. Cho nên Thầy tôi phải mượn đến
thơ:
- Tánh lặng đất trời chung một cõi
- Tâm không trăng gió trải muôn phương
Có lần tôi đưa hai câu đối
đó cho vợ tôi đọc. Vợ tôi đùa: Thầy biết rõ anh hơn ai hết. Rồi giải
thích: Thầy nói: nếu tâm anh không trăng gió nguyệt hoa thì tha hồ hạnh
phúc. Hay quá! Thầy tôi thấy rõ ruột gan của tôi từ bao giờ vậy? Từ
bao giờ vậy Thầy là thầy của tôi? Bao nhiêu lần tôi nghe Thầy tôi than:
dịch kinh chữ Hán thiệt mệt với chữ "không" và chữ
"vô". Giá như Thầy viết: "vô tâm trăng gió trãi muôn phương"
thì học trò của Thầy thoát khỏi cái oan Thị Kính rồi! Nhưng "vô
tâm" làm sao hay bằng "tâm không" để nói cái tâm
trong vắt, trên đó không có gì vướng mắc. Trong triết lý thiền, cái
tâm trong vắt đó, cái "tâm không" đó, biết hết thảy mọi
sự mọi vật, biết đúng đắn sự vật như là sự vật, giống như tấm
gương trong đó hiện ra trung thực mọi hình ảnh bởi vì tự mình là rỗng
không.
Vậy thì, Thoại Nham ơi, từ đâu nữa,
từ trong rỗng không đấy chứ đâu, Thầy tôi đã là Thầy tôi tự bao giờ.
Về trang Văn Học | Trang chính